Mời bạn đọc theo dõi "Featured Post":

Giáo Sư Đào Mộng Nam: Truyện Kiều Và Chữ Nho

Showing posts with label Phạm Duy. Show all posts
Showing posts with label Phạm Duy. Show all posts

8.24.2026

Bài đáp lễ của Phạm-Duy (tới George E. Gauthier): Tri ân người tri âm

Xem loạt bài của George E. Gauthier ở đây: https://phamduy.com/category/viet-ve-pham-duy/mot-nguoi-gia-na-dhai-va-nghe-thuat-cua-pham-duy/.


Tôi sẽ không bao giờ dám viết gì thêm vào loạt bài của Georges Etienne Gauthier nếu tôi không tìm thấy, ngay từ khi mới quen anh cũng như suốt hai năm đọc anh, ngoài mối thiện cảm anh dành cho tôi còn có mối tình rất lớn anh gửi đến quê hương tôi, đến đồng bào tôi. Sự kiện đó đã khiến tôi phải viết những dòng này, trước là để tri ân một người bạn tri âm, sau là để nói thêm với Georges về đất nước và những con người đã nâng đỡ, đã chăn vỗ kẻ ca nhân từng làm cho một người Gia Nã Đại phải chú ý...

Tôi lúc nào cũng cho rằng phải có đủ ba yếu tố để làm nên sự thành công của một nhạc phẩm: 1) giá trị bản thân của tác phẩm - 2) tài năng của nghệ nhân và sự hoạt động tích cực của cơ quan phổ biến tác phẩm - 3) sự biểu đồng tình của người nghe! Yếu tố thứ ba là yếu tố quan trọng nhất!

Thực vậy! Là một nghệ nhân có nhiều cơ hội đi hát ở khắp nơi trong nước và suốt mấy chục năm qua, tôi nhận thấy quần chúng đóng góp nhiều nhất vào sự thành công của ca nhạc. Ví dụ, sở dĩ những ca khúc của những ngày tiền và hậu Cách-Mạng (cũng là lúc tôi chập chững bước vào đời ca nhân) được thành công dễ dãi, đó là vì tự trong lòng quần chúng Việt-nam lúc bấy giờ đã có tiếng nhạc réo lên rồi! Lưu Hữu Phước, Văn Cao hay tôi lúc đó chỉ làm công việc so giây đàn, lựa lời ca cho phù hợp với bản hợp tấu vĩ đại đã nằm sẵn trong lòng dân. Về sau này cũng thế, những năm 50 vẫn cho ta thấy có sự hòa dịu, hòa nhịp giữa lòng dân và nghệ sĩ, và nếu những năm đầu của thập niên 60 có là những năm lỏng lẻo giữa đôi bên thì trước khi bước sang thập niên 70, ta cũng đã thấy vẳng lên một tiếng hát chung của những con tim quần chúng và nghệ sĩ, tuy rằng lần này với một giọng buồn của một thứ cung oán ngâm khúc thời nay. Tôi muốn nói những điều này với Georges để mời anh có dịp ra khỏi tác giả và tác phẩm trong việc nghiên cứu nhạc Việt, cũng như để anh sẽ đỡ thắc mắc khi thấy rằng gần đây và có thể mai đây có tác phẩm hay tác giả tốt mà không thể vươn lên được, bởi lẽ lòng người nghe còn ngủ...

oOo

Thái Thanh quả là yếu tố thứ hai tuyệt vời của yếu tố thứ nhất! Thế nhưng Georges cũng phải biết lòng tri ân sâu xa của tôi đối với những nhà hòa âm phối khí, nhạc trưởng như Trần văn Lý, Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Hồ Đăng Tín, Văn Phụng, Hoàng Trọng, Võ Đức Tuyết, Lê văn Thiện, Otto Soelner... là những người đã hết lòng thêu hoa dệt gấm cho những đơn điệu nghèo nàn của tôi! Ngoài ra những giọng vàng của ngày xưa (cũng chẳng xưa gì lắm!) như Anh Ngọc, Duy Khánh, Kim Tước, Châu Hà, Mộc Lan... cũng không phải là không quan trọng trong việc giới thiệu nhạc Việt nói chung, nhạc Phạm Duy nói riêng, với thiên hạ, trong nước hay ngoài nước. Phải nhìn vào sinh hoạt ca nhạc hiện nay (1972) nhìn vào thành phần nhạc trưởng, ca sĩ thì mới thấy lề lối làm việc, tinh thần trách nhiệm, khả năng ca diễn của các vị kể trên là đáng quý như thế nào!

Lại còn phải nói đến một tinh thần Mạnh thường Quân rất cao độ của những ngày trước, rất cần thiết cho sự phát triển âm nhạc, qua sự đãi ngộ đúng mức của vài vị trưởng đài phát thanh (lúc đó là cơ quan duy nhất có khả năng phổ biến âm nhạc) và nhất là khiếu thẩm âm cao của những người chủ xướng các mục Văn Học-Nghệ-Thuật, Nhạc Chủ Đề, Tuần Báo Nghệ Thuật Truyền Thanh như Phan lạc Phúc, Nguyễn đình Toàn, Nguyễn quang Hiện, Vũ trành An, Trần dạ Từ, Vũ Dzũng... Nếu không có sự tích cực của những vị Mạnh thường Quân đó, ca nhạc không sống mạnh được và ca nhân cũng chỉ sống thoi thóp mà thôi!

Tôi nói ra đây những điều này để Georges Gauthier và để cho những người đọc loạt bài Một người Gia Nã Đại và nghệ thuật của một nghệ sĩ Việt Nam biết rằng loạt bài đó chính là sự ca tụng chung tác giả, tác phẩm, nghệ nhân, những người đóng góp vào việc phổ biến tác phẩm và trên hết, cái quần chúng vô danh đã tham gia vào tác phẩm!

Thực tình ra, sau khi được bạn bè đưa lên bàn mổ trong mấy năm qua, sau khi, nói như Xuân Diệu thời xa xưa, gặp lại lòng mình qua những trang sách báo viết về thân thế và sự nghiệp đó, tôi chỉ thấy trong lòng mình một nỗi buồn vô hạn... Tôi vốn là một kẻ sống vội nên ít khi ngoái nhìn về dĩ vãng. Bản tính lại rất hay quên (Georges Gauthier thường rất ngạc nhiên khi biết rằng có nhiều bài hát đã bay ra khỏi trí nhớ tôi, chẳng hạn một số bài tiền chiến và kháng chiến) và cũng rất thích quên (để đỡ đi lại vết mòn)! Bây giờ, đột nhiên phải nhớ lại, sống lại những thời đã qua, qua người khác! Trong khi tôi chỉ muốn có thể xóa đi tất cả những gì mình đã làm, để... xin đi lại từ đầu! Bây giờ thì tôi hiểu câu nói của Hélène, người bạn của 25 năm trước: «Ước gì đời mình được như chiếc áo len, để có thể tháo ra, đan lại!»

Bởi vì làm sao mà Georges có thể biết được sự tủi nhục của kiếp ca nhân ở một nước tan tác này? Làm sao người bạn ở xứ tuyết trắng trong lành kia có thể biết được những mặc cảm phạm tội mà suốt ba mươi năm qua người ca nhân nào ở nơi đâu sôi lửa bỏng này cũng phải đeo trên cổ? Xưng tụng ái tình thì lo bị kết án bi lụy! Hát mơ hòa bình thì sợ bị tội phản chiến! Mặc quần áo đẹp hát ở nơi cao sang hay mặc quần áo đen hát ở giữa chợ cũng có thể bị nghi ngờ là làm chánh trị! Chuyện phi lý và nực cười. Nực cười nhất là hiện nay, ở đây nghề ca hát ở nơi công cộng là nghề quốc cấm!

Tuy nhiên để cho những bài viết của Georges không phải là vô ích, con người đã từng vác cây đàn thập tự, sẽ phải vác đàn đi nốt quãng đường cuối của đời hắn. Lần này, với hình ảnh của một người bạn tri âm ở trong lòng. Hơn nữa, để cho anh thanh niên ở cách Việt Nam một vài đại dương và một vài lục địa được yên tâm về số phận của quê hương chúng ta (anh đã xin nhận Việt Nam làm quê hương, nói theo kiểu Nguyễn đức Quảng), hòa bình đã le lói ở cuối đường hầm rồi! Người nghệ sĩ nào đã chọn lựa khóc cười theo mệnh nước thì đã đến lúc hắn có thể hát cười vui được rồi! Nhất là khi hắn vẫn còn rất nhiều tin tưởng vào dân tộc hắn, và nếu từ nay hắn có mất đi những cuộc phiêu lưu tình ái nào đó thì hắn vẫn còn nhận rất đầy đủ ân tình ở người vợ hiền, một ngày nào sẽ vuốt mắt hắn cũng như đã từng khuyến khích, vỗ về, tha thứ hắn hơn nửa đời qua.

Tưởng cũng nên tri ân anh Lê Ngộ Châu đã để cho một người Gia Nã Đại và một người Việt Nam quá lạm dụng diễn đàn chung và xin những độc giả Bách Khoa nào phải đọc những dòng này, rộng tình tha thứ cho một kẻ chưa bao giờ có một tham vọng nào ngoài ý muốn đóng góp vào nỗi buồn vui của thời đại.

PHẠM DUY


Nguồn: tạp chí Bách Khoa, số 376, trang 53–55.

OCR từ bản scan bời Claude Sonnet AI. Học Trò ra đề và duyệt xét lỗi nếu có - Tháng 8 năm 2026.


  Summary: This is Phạm Duy's "Tri ân người tri âm" ("Bài đáp lễ của Phạm-Duy"), published in Bách Khoa số 376, trang  53–55 (1972) — his open-letter response to Georges Etienne Gauthier's series on him. He credits three factors behind a  song's success (the work itself, the performers, and — most important — the audience's response), thanks Thái Thanh,  his arrangers/conductors (Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Hoàng Trọng, etc.), the earlier generation of singers,  and the radio-era patrons who championed Vietnamese music; then turns personal — his own fast-forgetting nature, a  friend's line about wishing life could be unraveled and reknit like a sweater — and closes reflecting on the guilt and  absurd suspicion faced by a "ca nhân" (singer) in wartime Vietnam, before thanking Lê Ngộ Châu for hosting the exchange. Signed PHẠM DUY.


8.21.2026

Available on Amazon USA: Memoirs of Phạm Duy, a Vietnamese Musician in a Turbulent Century: Coming of Age in the North (1921-1945) [Book 1]

https://www.amazon.com/dp/1501786016?ref=ppx_yo2ov_dt_b_fed_asin_title


From Amazon:

Memoirs of Phạm Duy, A Vietnamese Musician in a Turbulent Century tells the story of the triumphs, scandals, and adventures of Vietnam's most prolific songwriter. Born in 1921, Phạm Duy came of age during colonial rule, joined the anti-French resistance, and later became a major voice of the southern Republic before coming to the United States as an exile after 1975. This four-volume memoir, translated into English by Eric Henry with clarity and care, spans a century of Vietnamese history as lived, sung, and questioned by an unrelenting truthteller dedicated to freedom of expression.


Henry's nuanced translation captures the complexities of a life lived across regimes, ideologies, and continents. Throughout Memoirs of Phạm Duy, A Vietnamese Musician in a Turbulent Century, readers encounter vivid recollections of artists, revolutionaries, exiles, and everyday life―offering an intimate view into the intersections of politics, culture, and personal memory in Vietnam's turbulent twentieth century. The result is a rare cultural archive, rich with song lyrics, political critique, and reflections on identity, exile, and artistic expression.


At once deeply personal and historically expansive, this memoir is an essential record of modern Vietnam and its global resonances.

8.19.2026

Vân Tay Không Nằm Ở Chữ — Vì Sao Thơ Người Khác, Phổ Xong, Vẫn Là Phạm Duy

Written by: Claude AI.

Curator/Editor: Học Trò.


Có một nghịch lý ít ai chịu nhìn thẳng. Đem đếm từng chữ trong lời ca Phạm Duy, tách phần ông tự viết ra khỏi phần ông phổ thơ, ta thấy một điều khó chịu: ở tầng chữ, phổ thơ làm vân tay ông mờ đi, thậm chí đảo chiều. Những chữ vẫn được coi là "rất Phạm Duy" hoá ra đậm hơn hẳn ở phần lời ông mượn của người khác. Vậy mà chưa ai nghe "Ngậm Ngùi" hay "Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà" mà tưởng là nhạc của người khác. Bài này đi tìm chỗ đứng của cái "biết ngay" ấy — và tìm thấy nó không ở con chữ, mà ở một bộ thao tác đặt lên trên con chữ. Mọi con số dưới đây đếm được lại trên một kho lời ca gồm một trăm ca khúc; mọi câu hát đều đối chiếu với văn bản, không câu nào chép từ trí nhớ.


I. Mở đầu: chỗ đau phải nói trước

Hãy bắt đầu bằng chỗ bất lợi nhất cho luận đề của bài này, vì nếu giấu nó thì cả bài chỉ còn là một bài tán tụng.

Kho lời ca của Phạm Duy trong tuyển tập tôi dùng ở đây gồm đúng một trăm ca khúc, và tự nó đã tách sẵn làm hai: sáu mươi bảy bài ông tự viết lời, ba mươi ba bài ông phổ thơ người khác. Trước đây tôi đã đem hai kho ấy ra đếm từng chữ, đặt cạnh kho lời ca của Trịnh Công Sơn và của Lê Uyên Phương, quy mọi con số về số lần trên một ngàn âm tiết cho công bằng. Kết quả có một phần đọc lên rất khó chịu.

Chân dung phổ biến nhất về ca từ Phạm Duy — cái chân dung có mặt trong phần lớn những gì được viết về ông — là chân dung người kể chuyện đứng ngoài, thuật lại một biến cố có mốc thời gian, với chàng, với nàng, với đám cưới, với cuộc tiễn đưa. Dẫn chứng kinh điển cho chân dung ấy bao giờ cũng là những chữ cưới, khâu, viền tà, hiền hoà, và hình ảnh chiếc bình hoa ngày cưới đã thành chiếc bình hương.

Đối chiếu lại văn bản thì toàn bộ những chữ ấy nằm trong "Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà" — thơ Hữu Loan. Và đếm cả kho thì thấy đó không phải chuyện trùng hợp của riêng một bài. Chữ cưới đậm hơn 6,5 lần ở phần phổ thơ so với phần tự viết; chàng 4,3 lần; tiễn 4,5 lần; nàng 2,9 lần. Bốn dấu hiệu, bốn lần đậm hơn ở phía bên kia. Nghĩa là cái chân dung "Phạm Duy người kể chuyện với chàng với nàng với đám cưới" được dựng chủ yếu bằng chữ của các thi sĩ ông phổ nhạc, không phải bằng chữ của ông.

Chiều ngược lại cũng không dễ chịu hơn. Khi hát lời người khác, tần suất các chữ ru, gọi, ngủ, tóc của ông tăng từ gần gấp đôi tới gần gấp ba — tức là ngả hẳn về phía kho từ vựng Trịnh Công Sơn, đúng cái kho mà mọi người vẫn dùng để phân biệt với ông. Câu "Hoa xanh đã phai rồi" trong "Kiếp Nào Có Yêu Nhau" nghe gần Trịnh Công Sơn hơn là gần "trả lại", "ra đi" của chính Phạm Duy — và bây giờ thì nhận xét cảm tính ấy có số đỡ lưng.

Chuyện này không hạ thấp Phạm Duy một chút nào. Chọn được đúng bài thơ ấy, giữa hàng vạn bài thơ, rồi tìm ra được dòng nhạc cho nó, là một tài năng riêng — có lẽ là tài năng lớn nhất của ông. Nhưng nó là một tài năng khác với tài năng viết ra những chữ ấy. Khi ta lẫn hai thứ, ta mô tả sai chính người mình đang khen.

Và nó đặt ra câu hỏi của cả bài này:

Nếu ở tầng chữ, phổ thơ làm Phạm Duy loãng đi đến thế, thì tại sao chưa ai từng nghe "Ngậm Ngùi" mà tưởng là nhạc Lê Thương — dù chính Lê Thương cũng đã phổ bài thơ ấy trước ông chừng mười lăm năm?

Cái "biết ngay" trong hai giây ấy phải đứng ở một tầng khác. Bài này đi tìm tầng ấy, và tôi sẽ nói trước kết luận để người đọc còn kiểm được: nó nằm ở chỗ Phạm Duy không xử lý bài thơ như một nội dung phải phục vụ, mà như một nguyên liệu tạo hình — và bộ thao tác ông dùng để tạo hình thì không đổi, bất kể chữ ở đâu tới.

Nói gọn: vân tay không nằm ở nhạc đề, nó nằm ở phép biến tấu.


II. Hỏi cho đúng cách: ba tầng bằng chứng

Trước khi đi tiếp, phải nói rõ vì sao một bài đếm chữ lại buộc phải kết luận rằng phổ thơ làm Phạm Duy loãng đi — và vì sao kết luận ấy đúng trong phạm vi nó đo được mà vẫn sai nếu hiểu là "bài ấy ít Phạm Duy hơn".

Bài toán "một tác giả, hai kho chữ khác hẳn nhau, mà vẫn nhận ra là một người" không phải bài toán mới. Tôi đã gặp nó một lần rồi, ở một nhạc sĩ khác: cùng một ngòi bút viết ra hai kho từ vựng gần như không giao nhau, một kho tình khúc và một kho ca khúc thời sự, vậy mà không ai lẫn được tác giả. Giải bài toán ấy đến nơi thì thu được một mô hình ba tầng bằng chứng, xếp theo độ chắc, và mô hình ấy dùng lại được nguyên vẹn ở đây:

Tầng Câu hỏi của tầng Đã đo ở kho Phạm Duy chưa?
Tầng 1 — chữ bất động Có chữ nào giữ nguyên tần suất ở cả hai kho không? Rồi — và tầng này trả lời "hai kho khác nhau"
Tầng 2 — khuôn câu di cư nguyên khối Có khuôn câu nào của tác giả đi được vào kho kia không? Chưa ai đo
Tầng 3 — hình dạng vật lý Âm tiết mỗi dòng, dòng mỗi bài, độ dài câu nhạc — có bằng nhau không? Chưa ai đo

Điểm mấu chốt về phương pháp, xin nói thẳng: lần đếm chữ trước của tôi mới chỉ chạy tầng một, và tầng một trả lời "không giống nhau". Hai tầng còn lại chưa ai đo. Giả thuyết của bài này là vân tay Phạm Duy nằm gần trọn ở hai tầng chưa đo đó — nghĩa là ở khuôn và ở hình dạng, không ở từ vựng.

Có một cơ chế đáng đặt tên ngay, vì cả bài sẽ dùng đi dùng lại: đơn vị đo không đổi, cái được đo thì đổi. Ở nhạc sĩ kia, đơn vị không đổi là một khuôn câu ("từng giọt…"), còn cái được đo thì trượt từ nước mắt của một người tình sang máu của cả một xứ. Ở Phạm Duy, đơn vị không đổi là một khuôn nhạc và một bộ thao tác, còn cái được đo là thơ của hai mươi hai người khác nhau. Đó chính là định nghĩa của biến tấu khai triển, phát biểu bằng ngôn ngữ ca từ.

Và cần phân biệt cho sạch hai thứ hay bị gộp làm một:

  • Vật liệu — con chữ, hình ảnh, câu chuyện. Cái này, trong ba mươi ba bài phổ thơ, đúng là của Hữu Loan, của Cung Trầm Tưởng, của Phạm Thiên Thư. Phạm Duy gần như không tranh chấp; ông cũng tự kể như vậy, sẽ trích ở Phần VI.
  • Thao tác — chữ ấy được lặp mấy lần, lặp ở đâu, lần lặp sau đổi cái gì so với lần trước, cụm nào được thăng chức thành điệp khúc, chỗ nào được thêm vào cái mà bài thơ không có. Cái này, không một bài thơ nào cấp cho ông.

Cả bài còn lại là một cuộc điều tra về cái thứ hai.


III. Cái máy: một hạt mầm và một danh mục

Bộ thao tác ấy không phải phát minh của Phạm Duy, và nói rằng ông "dùng phương pháp của Schoenberg" cũng không hẳn đúng theo nghĩa ông đọc Schoenberg rồi làm theo. Chuyện ngược lại thì đúng hơn: có một cách viết nhạc mà mọi nền âm nhạc "một bè hát chính có đệm" đều dùng, Schoenberg là người mô tả nó rõ ràng nhất, và Phạm Duy là người thi hành nó triệt để nhất trong tân nhạc Việt Nam. Muốn theo dõi phần sau, chỉ cần ba khái niệm, và tôi xin phát biểu chúng thật gọn ở đây; ai muốn đầy đủ hơn xin xem Phụ Lục cuối bài.

Một — nhạc đề là hạt mầm. Đơn vị nhỏ nhất còn mang căn cước của bài không phải câu nhạc mà là một tế bào hai tới năm nốt có dáng nhịp riêng. Nó không cần xinh; nó chỉ cần là một cử chỉ. Bốn tiếng gõ cửa mở đầu Giao hưởng Số Năm của Beethoven đủ tư cách làm nhạc đề, cũng như cú phóng lên một quãng tám rồi lượn một vòng ba nốt ở hai giây đầu "Đường Em Đi". Và có một luật rất phóng khoáng đi kèm: bất cứ thành tố nào của câu nhạc, hễ được đối xử như nhạc đề — tức là được lặp lại, có sửa hay không — thì nó nhạc đề. Không cần ai cấp giấy phép; chỉ cần người viết cứ nhắc nó hoài, người nghe sẽ dõi theo.

Hai — biến tấu khai triển. Lặp suông thì nhàm; đổi hết thì lạc. Lối thoát nằm gọn trong một câu: đổi một số nét kém quan trọng, giữ lại những nét quan trọng hơn. Như người quen thay áo — áo đổi được, dáng đi và giọng nói phải giữ, không thì ra người lạ. Từ những thay đổi có chừng mực ấy sinh ra cả một họ dạng nhạc đề, dạng sau mọc từ dạng trước như có sự lớn lên. Đó là biến tấu khai triển. Còn thay đổi lặt vặt không để lại hậu quả gì cho phần sau — chỉ như thêm chút phấn son tại chỗ — thì không tính.

Ba — danh mục những thứ đổi được. Đây mới là chỗ đáng chú ý nhất cho luận đề của bài này. Cái danh mục ấy có thể liệt kê ra giấy: về dáng nhịp thì kéo dài hay rút ngắn từng nốt, gõ một nốt đôi ba lần, xê một mẩu nhịp sang phách khác, thêm nốt lấy đà; về quãng thì đổi thứ tự hay chiều đi của các nốt, thêm hoặc bớt bước nhảy, lấp một cú nhảy xa bằng những nốt bắc cầu, lược bớt nốt cho gọn; về hoà âm thì đổi thế bấm, chèn hợp âm vào giữa, hay thay hẳn một nền khác bên dưới đúng những nốt cũ.

Hãy đọc lại cái danh mục ấy và để ý một điều: không mục nào trong đó hỏi vật liệu đầu vào từ đâu tới. Nó không hỏi bốn nốt này do ai nghĩ ra, cũng không hỏi sáu chữ này do ai viết. Nó là một cỗ máy tổng quát: cho vào cái gì cũng chạy.

Và Phạm Duy đã tự tay để lại một bằng chứng rằng chữ ký của ông nằm ở tầng thao tác chứ không ở tầng vật liệu — bằng chứng nằm ngay trong cách ông dựng phiên khúc, bài này qua bài khác: phiên khúc được viết thành hai nửa, nửa sau lặp lại nửa trước nguyên vẹn hoặc gần nguyên vẹn. "Nghìn Trùng Xa Cách" là mẫu sạch sẽ nhất — câu hai lặp phần nhạc của câu một, rồi câu ba câu bốn buộc phải đi nơi khác cho khỏi đơn điệu, lại tự cặp đôi với nhau thành một câu kép lồng trong câu kép. "Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài" cho cùng cỗ máy ấy ở dạng trong suốt như thuỷ tinh: "Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc, thuở ấy anh vừa thôi học xong" — hai câu cùng một dáng nhịp từng chữ, câu "em" mở từ chỗ thấp vươn lên, câu "anh" mở từ chỗ cao buông xuống. Lặp nhịp, đổi cao độ.

Cái ấy là một thói quen cấu trúc, không phải một chữ hay một hình ảnh. Mà thói quen cấu trúc thì không phụ thuộc ai viết lời. Đó là bản lề của cả bài.

Chốt lại phần này bằng một câu: một cái máy lặp-và-sửa thì cho vào cái gì cũng chạy. Bốn nốt của "Đường Em Đi" chạy được; sáu–tám của Huy Cận cũng chạy được. Vật liệu đổi chủ, thao tác không đổi chủ.


IV. Bằng chứng nặng nhất: quyền thêm lời

Phần này dài nhất, vì nó không phải suy luận — nó là hiện vật đối chiếu được. Câu hỏi rất đơn giản: khi một bài thơ đã hoàn chỉnh rơi vào tay Phạm Duy, cái gì bị đổi?

Câu trả lời, xin nói trước rồi mới chứng minh: thơ vào nhà ông thì bị sửa hình, không bị sửa chữ. Ông gần như không đổi chữ của thi sĩ. Ông đổi số lần chữ ấy vang lên và chỗ nó vang lên. Và đó đúng là chỗ tai người nghe bắt được tác giả.

4.1 "Ngậm Ngùi": bốn dòng không có trong bài thơ

Bài thơ "Ngậm Ngùi" của Huy Cận là một bài lục bát mười hai câu, tức tám mươi tư âm tiết chẵn chòi. Phần lời của bản ca khúc, đếm trên văn bản, là mười sáu dòng, một trăm mười âm tiết. Chênh lệch: hai mươi sáu âm tiết, tức bài hát dày hơn bài thơ đúng 31%.

Hai mươi sáu âm tiết ấy đi đâu? Chúng nằm gọn trong bốn dòng, và bốn dòng ấy đáng chép ra đây nguyên văn:

Ngủ đi em mộng bình thường, ngủ đi em mộng bình thường. Ru em sẵn tiếng, thùy dương đôi bờ. Ngủ đi em, ngủ đi em. Ngủ đi mộng vẫn bình thường À ơi có tiếng thùy dương mấy bờ

Bài thơ nói "Ngủ đi em, mộng bình thường" một lần. Bản nhạc nói nó ba lần — và điều đáng nói không phải con số ba, mà là lần thứ ba đã đổi chữ: "Ngủ đi mộng vẫn bình thường". Chữ "em" rụng đi, chữ "vẫn" mọc vào. Một chữ. Đúng một chữ — và cái câu dỗ dành lần thứ ba bỗng có thêm một lớp nghĩa mà hai lần trước không có: vẫn bình thường, nghĩa là đã có gì đó doạ làm nó bất thường.

Rồi tới dòng cuối trong sáu dòng trên. Bài thơ của Huy Cận có một câu bát: "Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ." Bản nhạc không hát câu ấy một lần nào cho đúng nguyên văn. Nó tách câu ấy làm hai, và cho mỗi nửa một biến thể:

  • "Ru em sẵn tiếng, thùy dương đôi bờ" — nửa đầu giữ nguyên, đuôi đổi mấyđôi.
  • "À ơi có tiếng thùy dương mấy bờ" — đuôi trả về nguyên văn, đầu câu đổi hẳn thành một tiếng ru không nghĩa.

Một câu thơ, hai lần vang lên, không lần nào giống lần nào, và không lần nào giống bản gốc. Nếu phải chọn một hiện vật duy nhất để định nghĩa biến tấu khai triển thi hành trên chữ của người khác, tôi chọn cặp câu này. Giữ dáng, đổi chi tiết; đủ giống để nghe ra cùng một câu, đủ khác để không thành máy.

Và điều đáng kể nhất: mỗi lần "ngủ đi em" trở lại, cao độ cũng hơi đổi. Sự lặp không nằm riêng ở lời; nó chạy song song ở hai tầng cùng lúc, lời lặp có sửa, nhạc lặp có sửa. Đó là định nghĩa sách giáo khoa của phép biến tấu khai triển, thi hành trên chữ của người khác, ở đúng chỗ người khác không viết ra chữ ấy.

Ông thêm không phải vì thiếu chữ. Ông thêm vì hiểu rằng lặp lại chính là bản chất của lời ru: người ta ru bằng cách lặp, "à ơi… à ơi…", cho tới khi mí mắt người kia nặng dần. Bài thơ trên giấy không làm được điều đó; bài hát làm được. Nhạc sĩ ở đây hoàn tất bài thơ chứ không sửa nó. Nhưng "hoàn tất" bằng cái gì, thì lại hoàn toàn là chuyện của ông.

(Một chỗ phải nói cho sòng phẳng: tôi không có trong tay bản in tập thơ gốc để đối chiếu từng chữ, mà dựa vào những chỗ các nhà phê bình đương thời trích lại bài thơ như một văn bản đã biết — trong đó có Nguyên Sa, người coi "thùy dương mấy bờ" là thuộc về kiến trúc thơ và "à ơi" là phần nhạc sĩ đặt thêm vào. Nếu ngày nào có bản in đối chiếu được mà khác đi, con số 26 âm tiết ở trên phải sửa lại. Còn phần "ngủ đi em" hát ba lần thì không cần bản thơ nào để kiểm: chỉ cần đếm trên chính bản nhạc.)

4.2 "Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng": thăng chức một cặp lục bát

Lục bát vốn không có điệp khúc. Đó là một chuỗi móc xích sáu–tám không đầu không cuối, mỗi cặp câu chuyền vần sang cặp sau, chảy mãi. Một bài thơ lục bát mười câu là năm lần cùng một khuôn — và đó là món quà lớn nhất mà thể thơ này biếu người phổ nhạc, đồng thời là cái bẫy lớn nhất của nó.

Với "Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng", Phạm Duy làm một việc mà bài thơ không mời ông làm: ông chọn cặp sáu–tám đắt nhất trong mấy trăm câu thơ của Phạm Thiên Thư và thăng chức cho nó thành điệp khúc. Cặp ấy trở lại ba lần, cách quãng khá đều, chia bài thành những đoạn có cột mốc:

Rằng xưa có gã từ quan / Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau … *Rằng xưa có gã từ quan / Lên non tìm động hoa vàng nhớ nhau … *Rằng xưa có gã từ quan / Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

Lại đúng công thức: khung giữ nguyên, ruột đổi. Mười ba âm tiết đầu y hệt, hai âm tiết cuối đổi — và hai âm tiết ấy làm cả câu chuyện dịch chuyển từ nhớ sang ngủ, từ tương tư sang buông bỏ. Đấy không phải trang trí; đấy là cốt truyện được viết bằng phép biến tấu.

Cộng thêm công cụ thứ hai: tiếng đệm ngâm được ký âm hẳn vào lời. Trong bản in, giữa câu thơ có những âm không nghĩa — "ừ ư", "ư", "ơ ớ" — chèn thẳng vào giữa chữ của Phạm Thiên Thư. Ở "Ngậm Ngùi", chất ngâm nằm trong cách hát co giãn; ở đây nó được viết thành nốt, để người hát nào cầm bản in cũng ngâm đúng chỗ nhạc sĩ muốn. Mà những âm không nghĩa ấy, theo định nghĩa, là chữ thuần tuý thuộc về nhạc sĩ — không thi sĩ nào viết "ừ ư" vào bài thơ của mình.

Điều đáng học nhất là hai bài trên cho hai lời giải ngược chiều nhau. "Ngậm Ngùi" giấu biến hoá xuống dưới mặt nước: giai điệu vâng lời thể thơ răm rắp, quẩn quanh một khoảng hẹp, còn bên dưới thì gần như mỗi phách một hợp âm đổi màu. "Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng" làm ngược: hoà âm tối giản tới mức khắc khổ, gần như chỉ hai hợp âm suốt bài, còn biến hoá thì phơi hết lên mặt lời.

Và chính sự ngược chiều ấy là bằng chứng mạnh hơn nữa cho luận đề. Nếu hai bài cùng dùng một thủ pháp, ta chỉ chứng minh được rằng ông có một thói quen. Vì chúng dùng hai thủ pháp trái ngược, cái bất biến phải nằm cao hơn thủ pháp: cái luật đứng trên mọi thủ phápgiữ cái đưa võng mà tránh cái đều đều. Bài thơ nào cũng bị đưa qua đúng câu hỏi đó trước khi được viết một nốt nào. Câu hỏi thì cố định; câu trả lời thì tuỳ tạng bài thơ.

4.3 "Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu": cái máy chạy lộ thiên

Nếu ai còn ngờ rằng phép lặp-có-sửa là chuyện tôi đọc ra chứ không phải chuyện Phạm Duy làm, thì bài này chấm dứt cuộc tranh luận. Vẫn thơ Phạm Thiên Thư, vẫn lục bát, và cái máy chạy lộ thiên đến mức đếm được bằng mắt thường:

Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn / Áo nhuộm hoàng hôn / Áo nhuộm hoàng hôn Bóng ai cắp rổ cắp rổ lên cồn / Lên cồn hái dâu hái dâu Tiếng nàng hát vọng đôi câu / Hát vọng đôi câu, hát vọng đôi câu Dừng tay viết mướn ối a lòng sầu / Lòng sầu vẩn vơ vẩn vơ sầu Lều tranh còn ủ trăng mơ / Còn ủ trăng mơ, còn ủ trăng mơ

Đọc kỹ cấu trúc: mỗi câu lục bát của thi sĩ được phát biểu một lần trọn, rồi cái đuôi của nó được nhắc lại hai lần nữa, rồi cái đuôi của lần nhắc lại bắc cầu sang đầu câu sau ("lên cồn" khép câu này và mở câu kia). Đó là lối lặp ba lần một vế đúng kiểu quan họ, và Nguyên Sa — người có tư cách nói vì ông cũng là một trong những thi sĩ bị Phạm Duy phổ — đã mô tả chính xác cái thao tác này: mỗi lần vế ấy trở lại, nó được đưa lên một cung bậc cao hơn, tới lần thứ ba thì "chót vót". Ông ví: ngôi chùa nhỏ dưới chân núi trong bài thơ được nhạc sĩ dựng thành một toà lâu đài, rồi mang cả toà lâu đài ấy lên đỉnh núi.

Trong ngôn ngữ kỹ thuật, cái Nguyên Sa vừa mô tả có tên: mô tiến — hát một tế bào, hát lại nó ở một bậc khác, rồi bậc khác nữa. Nó nằm ở mục thứ hai trong cái danh mục ở Phần III. Một thi sĩ, không dùng một chữ nhạc lý nào, đã nghe ra và tả đúng một thủ pháp trong sách giáo khoa sáng tác. Đó là điều đáng để ý nhất: thao tác này nghe ra được, kể cả với người không đọc bản nhạc. Nó nằm trên bề mặt của cái mà người nghe gọi là "chất Phạm Duy".

Còn chữ "ối a" trong câu thứ tư thì lại là thứ đã gặp ở mục trên: âm không nghĩa, chen vào giữa chữ của thi sĩ, thuộc về nhạc sĩ trăm phần trăm.

4.4 "Vết Sâu": chặt câu thơ ra, và đổi một chữ

Nguyên Sa còn cho ta một bằng chứng quý hơn nữa, vì lần này chính thơ ông bị đem ra dùng, và ông kể lại thao tác ấy mà không giận. Câu thơ gốc: "Khi em mở cửa bước vào, hồng non trên má, hồng đào trên môi." Bản hát:

Khi em / Khi em mở cửa bước vào / Em bước vào Hồng non trên má / Hồng đào, hồng đào trên môi

Hai chữ "Khi em" được phát ra trước như một cú nhấc chân, rồi cả câu chạy trọn, rồi "em bước vào" đọng lại như tiếng vọng. "Hồng đào" nói hai lần. Không một chữ nào của Nguyên Sa bị thay — nhưng câu thơ đã bị cắt thành ba khúc và đóng lại theo một trật tự khác.

Rồi tới chi tiết đắt nhất của bài. Nhan đề bài thơ là Vết Sâu. Trong bản hát, gần cuối, xuất hiện một câu:

Hãy còn vết đau / Chưa liền vết sâu

Một âm tiết đổi. Sâuđau. Và đó chính xác là điều mà cái danh mục ở Phần III gọi là lặp có sửa: giữ khuôn hai chữ, đổi chữ thứ hai, và cho phiên bản đổi ấy đứng trước bản gốc để bản gốc rơi xuống như một cú đóng cửa. Nguyên Sa ghi nhận đúng thao tác ấy — nhạc sĩ "bay từ vết sâu của kiến trúc thơ sang vết đau của kiến trúc nhạc, rồi lại trở lại với vết sâu ngay sau đó" — và ông kết luận bằng một câu mà tôi xin mượn làm câu chốt cho cả phần này:

"Phạm Duy vẫn thế, khi nào anh cũng tôn trọng kiến trúc thơ trong khi biến đổi nó. […] Phạm Duy không phổ nhạc thơ lục bát bằng cách thay đổi lời thơ."

Đó là câu nói của một thi sĩ về người đã cầm thơ mình. Nó xác nhận đúng cái phân đôi mà bài này dựng lên ở Phần II: kiến trúc thơ là vật liệu và nó được tôn trọng; kiến trúc nhạc là thao tác và nó thuộc về người khác.

4.5 "Tiếng Sáo Thiên Thai": khi bài thơ bị xáo lại vì một cây đàn

Trường hợp cực đoan nhất trong kho lại không phải một bài phổ thơ theo nghĩa thường. Bốn câu mở của Thế Lữ:

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi / Bên rừng thổi sáo một hai Kim đồng Tiếng đưa hiu hắt bên lòng / Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn…

Hai mươi tám âm tiết, lục bát nền nếp. Bản hát mở như thế này:

Xuân tươi! / Êm êm ánh xuân nồng, / Nâng niu sáo bên rừng, / Dăm ba chú Kim đồng… (Hò xàng xê) Tiếng sáo, / Nhẹ nhàng lướt cỏ nắng, / Nhạc lòng đưa hiu hắt, / Và buồn xa buồn vắng, / Mênh mông là buồn!

Phạm Quang Tuấn, trong bài viết về nghệ thuật phổ thơ của Phạm Duy, đã chỉ ra điều lạ lùng nhất ở đây: "tuy lời lẽ khác hẳn, nhưng đọc kỹ thì lạ thay, tất cả các từ trong nguyên bản cũng đều nằm trong bài ca gần như không thiếu chữ nào." Bài thơ không bị thay chữ — nó bị tháo tung ra rồi lắp lại theo một trật tự khác, cộng thêm mấy chữ lót không nghĩa: nâng niu, êm êm, hò xàng xê, và trong bản trình diễn còn cả một dải "la lá la là" dài gần sáu mươi âm tiết mà bản lời in không chép.

Câu hỏi hay ở đây là: tại sao? Vì sao bài này bị xáo tung trong khi "Ngậm Ngùi" gần như được chép nguyên?

Câu trả lời không nằm trong bài thơ. Nó nằm ở Hồi Ký, và nó dứt khoát đến mức không cần diễn giải: bài này "được soạn ra để đáp ứng nhu cầu hát đôi (duo) của hai chị em Thái Thanh Thái Hằng."

Nghĩa là: bốn câu lục bát của Thế Lữ bị tháo ra không phải vì bài thơ đòi, mà vì hai giọng hát trong nhà đòi. Một yêu cầu thuần tuý âm nhạc — cần hai bè quan trọng ngang nhau, cần những chùm ba tuôn liên miên, cần đủ chỗ cho một điệu tango — đã quyết định số phận của một văn bản có sẵn. Đây là chỗ luận đề của bài này hiện ra rõ nhất trong một câu duy nhất: bài thơ là nguyên liệu; cái quyết định hình dáng cuối cùng là những đòi hỏi của phía bên kia.

4.6 Lời ông tự kể

Và cuối cùng, bằng chứng do chính ông cung cấp. Trong Hồi Ký, kể về việc bắt gặp một bài thơ ngắn nhan đề "Trả Lời Một Câu Hỏi" của một người lính tên Linh Phương đăng trong góc nhỏ một tờ báo hằng ngày, Phạm Duy viết đúng một câu:

"Tôi bèn thêm lời, thêm ý để phổ nhạc thành bài Kỷ Vật Cho Em."

Thêm lời, thêm ý. Bốn chữ, và nó là nguyên một lời tự kể. Cần nhớ bài hát ấy về sau lớn tới mức có người ở miền Nam cho rằng nó là một trong những lý do làm miền Nam thua — một sức nặng mà bài thơ nhỏ trong góc báo không tự có được.

Cùng một phản xạ ấy, ông thi hành cả trên kho dân ca cổ, và cũng tự kể: "Tôi không ngần ngại thêm lời, thêm nét nhạc vào những bài dân ca cổ." Ca dao "Tóc mai sợi vắn sợi dài" hai câu thành cả một ca khúc; hai câu "Trèo lên cây bưởi hái hoa" thành "Nụ Tầm Xuân" với mười âm tiết chỉ riêng cho hai chữ "trèo lên".

Nghĩa là cái quyền thêm lời không phải một ngoại lệ ông dành cho vài bài thơ. Nó là thao tác mặc định của ông đối với mọi văn bản có sẵn — thơ tiền chiến, thơ lính, thơ thiền, ca dao, dân ca cổ, thơ Pháp. Và một thao tác đã mặc định đến thế thì nó chính là căn cước.


V. Đem ra đếm: bốn phép đo trên một trăm bài

Bốn mục trên là hiện vật. Hiện vật thì thuyết phục, nhưng dễ bị bẻ lại bằng một câu: "anh chọn đúng những bài hợp ý anh". Cho nên phần này đem cả trăm bài ra đếm, không chọn bài nào.

Nguyên tắc giữ nguyên: đoán trước, rồi giữ nguyên chỗ đoán sai trong bài. Dưới đây có một chỗ tôi đoán sai và một chỗ con số đi ngược lại điều tôi mong; cả hai đều được in ra như chúng ra.

5.1 Một con số phải sửa trước khi đếm

Kho lời ca này có một trăm lẻ một mục, trong khi tuyển tập mang tên một trăm bài. Trước đây tôi từng ghi nhận con số sáu mươi tám bài tự viết, lệch một so với con số sáu mươi bảy vẫn được dùng. Lần này truy ra được: kho có đúng một bài bị chép hai lần — "Còn Gì Nữa Đâu", một lần đứng riêng, một lần mang số thứ tự, và hai bản văn giống nhau từng chữ. Bỏ bản trùng đi thì kho về đúng một trăm bài: 33 phổ thơ / 67 tự viết, khớp với con số cũ.

Chuyện nhỏ, nhưng đáng kể ra vì nó là điều kiện để mọi con số dưới đây so được với lần đếm trước.

Ba mươi ba bài phổ thơ ấy đến từ hai mươi hai thi sĩ (Cung Trầm Tưởng bốn bài, Phạm Thiên Thư bốn, Nguyễn Tất Nhiên ba, Lưu Trọng Lư hai, Hoàng Cầm hai, Minh Đức Hoài Trinh hai — kể cả bài đề tên "Hoài Trinh"; còn lại mỗi người một bài), trong đó có hai bài đi qua một dòng sông ngôn ngữ, thơ Verlaine và thơ Apollinaire. Danh sách đầy đủ nằm ở cuối Phụ Lục.

5.2 Phép đo B: tỷ lệ dòng lặp

Đây là phép đo trực tiếp nhất cho luận đề. Chuẩn hoá mỗi dòng lời (bỏ dấu câu, gộp khoảng trắng, hạ chữ thường), rồi đếm tỷ lệ dòng lặp lại một dòng đã xuất hiện trước đó trong cùng bài. Vì "lặp" là một khái niệm co giãn được, tôi chạy nó ở ba ngưỡng chặt lỏng khác nhau:

Ngưỡng "coi là lặp" Phổ thơ Tự viết Tỷ lệ
Nguyên văn, không sai một chữ 16,3% (152/933) 6,3% (123/1.950) ×2,6
Giống từ 85% trở lên 18,0% 8,3% ×2,2
Giống từ 75% trở lên 21,2% 12,6% ×1,7

Dự đoán ban đầu của tôi là hai kho xấp xỉ bằng nhau. Sai — và sai theo hướng mạnh hơn cái đúng nó tưởng đang nói. Ở mọi ngưỡng, kho phổ thơ lặp dày hơn hẳn.

Nhưng hãy nhìn kỹ cột cuối, vì nó nói một điều tinh hơn con số đầu bảng. Càng nới định nghĩa "lặp", khoảng cách giữa hai kho càng thu lại — từ 2,6 lần xuống 1,7 lần. Nói cách khác: phần lặp mà kho tự viết có thêm khi nới ngưỡng nhiều gần gấp đôi phần kho phổ thơ có thêm. Đọc ngược ra thì thành một phát hiện riêng: trong 198 dòng lặp của kho phổ thơ, 77% là lặp nguyên văn; trong 245 dòng lặp của kho tự viết, chỉ 50%. Nửa còn lại là lặp đã đổi.

Đó là một sự chia đôi rất đáng chú ý, và nó khớp chính xác với hai họ lặp đã nói ở Phần III:

  • Khi tự viết lời, Phạm Duy sinh ra cấu trúc lặp ngay trong lúc nghĩ ra chữ. Sự lặp vì thế phân bố mịn, và phần lớn là lặp-có-sửa: câu sau đổi một chữ so với câu trước, "em" thành "anh", "thơ" thành "nhạc". Không cần dòng nào lặp nguyên văn vì cả bài đã được đúc bằng những cặp sóng đôi.
  • Khi cầm một bài thơ đã hoàn chỉnh — một văn bản không được viết để hát, không điệp khúc, không chỗ trở về — thì ca khúc thiếu hẳn phần dư thừa mà thể loại đòi hỏi, và ông bù vào bằng tay: lặp nguyên dòng. Sự lặp ở kho phổ thơ dễ thấy hơn đúng vì nó là phần được thêm vào sau, thêm bằng công cụ thô nhất và lộ nhất.

Sáu bài dày lặp nhất trong kho phổ thơ: Đừng Bỏ Em Một Mình 42% · Thu Ca Điệu Ru Đơn 39% · Hãy Yêu Chàng 35% · Tiễn Em 33% · Kỷ Vật Cho Em 27% · Mùa Thu Paris 26%. Bốn trong sáu bài ấy nằm ở phần Hồi Ký kể về những năm ông viết nhiều nhất.

Cảnh báo bắt buộc đi kèm con số này: nó mới đếm dòng lặp trong lời hát, chưa trừ đi những chỗ chính bài thơ đã lặp sẵn — thơ Hữu Loan có điệp thật, thơ Minh Đức Hoài Trinh cũng vậy. Cho nên 16,3% chưa phải "phần Phạm Duy thêm vào"; nó là trần trên của phần ấy. Chỉ phép đối chiếu từng dòng với bản thơ in mới hạ được con số ấy xuống. Trường hợp "Ngậm Ngùi" ở Phần IV — nơi tôi làm được phép đối chiếu ấy trên đúng một bài — cho tỷ lệ thêm vào là 24% số âm tiết, tức nằm gọn dưới cái trần vừa nói.

5.3 Phép đo D: bao nhiêu bài có một khối trở về?

Đây mới là chỗ luận đề "thăng chức một câu thành điệp khúc" được kiểm trên diện rộng. Đếm: trong mỗi bài, có hay không một cặp dòng liên tiếp trở lại nguyên khối ở chỗ khác trong bài — dấu hiệu tối thiểu của một cái gì đóng vai điệp khúc?

Bài có khối trở về Tỷ lệ
Phổ thơ 17 / 33 51,5%
Tự viết 14 / 67 20,9%

Hơn một nửa số bài phổ thơ được gắn một khối trở về, so với một phần năm số bài tự viết. Đây là một chênh lệch 2,5 lần ở một tầng cao hơn hẳn tầng câu chữ, và nó xác nhận rằng thao tác thăng chức ở "Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng" là thói quen, không phải ngoại lệ. Với bài thơ, ông gần như luôn phải tự dựng lấy cái cột mốc để người nghe bám vào; với lời tự viết, ông thường không cần, vì bài đã sinh ra với cột mốc sẵn.

5.4 Phép đo C: hình dạng vật lý — chỗ con số đi ngược

Đây là chỗ tôi mong con số nói mạnh, và nó không nói mạnh. In ra đúng như nó ra:

Âm tiết / dòng Dòng / bài
Phổ thơ 6,56 28,3
Tự viết 7,04 29,1

Chênh lệch: 7% ở âm tiết mỗi dòng, 3% ở dòng mỗi bài. Nghĩa là hình dạng vật lý của hai kho gần như trùng khít.

Con số này cắt hai chiều, và phải nói cả hai.

Chiều thuận cho luận đề: đây đúng là tầng thứ ba trong mô hình ba tầng ở Phần II, và nó cho thấy một thứ "bất động" xuyên qua hai kho. Bài phổ thơ và bài tự viết dài bằng nhau, thở bằng những đơn vị dài bằng nhau. Bài thơ không quyết định điều đó — nếu chỉ chép thơ ra thì độ dài bài hát sẽ trôi theo độ dài bài thơ, mà thơ thì dài ngắn đủ kiểu, từ mười hai câu của Huy Cận tới mấy trăm câu của Phạm Thiên Thư. Cái làm mọi bài về cùng một cỡ là khuôn khổ ba phút của thể loại ca khúc, cộng với con dao trong tay người phổ. Hồi Ký ghi lại quy mô con dao ấy ở đúng một chỗ: bài "Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng" được rút ra từ mấy trăm câu thơ của thi sĩ, "và ta chỉ cần có hai đoạn ca là nói lên hết".

Chiều nghịch: chênh lệch nhỏ như thế cũng có thể chỉ là hệ quả của thể loại chứ không phải của tác giả — mọi ca khúc Việt thời ấy đều dài chừng ấy. Muốn tầng ba nói được điều gì chắc chắn, phải đo cái mà lời ca không cho biết: số ô nhịp của mỗi câu nhạc, đọc từ những trang ký âm. Việc ấy tôi chưa làm, và bài này không được phép nói như thể đã làm.

Một cái bẫy nữa phải nêu: lục bát ép cứng 6/8, nên trong kho phổ thơ có hẳn một nhóm bài mà con số "âm tiết mỗi dòng" bị thể thơ quy định trước. Con số 6,56 vì thế bị kéo xuống bởi chính hình thức của vật liệu, không phải bởi lựa chọn của nhạc sĩ. Đây là lý do phải đo câu nhạc chứ không đo câu thơ.

5.5 Phép đo bất ngờ: những âm không có nghĩa

Phép đo cuối cùng là phép tôi không định làm, và hoá ra nó là phép sạch nhất trong cả bài.

Có một loại âm tiết trong lời ca Việt mà không thi sĩ nào viết ra: tiếng đệm không nghĩa — ừ ư, ơ ớ, à ơi, ối a, ố ô, í a, hò xàng xê, la lá la là. Chúng không mang nghĩa, không mang hình ảnh, không dịch được sang bất cứ ngôn ngữ nào. Chúng tồn tại vì một lý do duy nhất: có một chỗ trống trong dòng nhạc cần được lấp bằng một âm hát được. Nói cách khác, chúng là phần lời thuần tuý thuộc về nhạc sĩ, ở trạng thái tinh khiết nhất mà ta có thể mong.

Đếm chúng trên hai kho, quy về số lần trên một ngàn âm tiết:

Số lần Trên 1.000 âm tiết
Phổ thơ (6.125 âm tiết) 18 2,94
Tự viết (13.724 âm tiết) 40 2,91

Hai con số bằng nhau tới chữ số thập phân thứ hai — chênh 1%.

Đây là kết quả đẹp nhất mà bài này thu được, và cần nói rõ vì sao. Ở tầng từ vựng, hai kho lệch nhau tới bốn sáu lần: cưới ×6,5, chàng ×4,3, gọi ×2,7. Ở tầng dòng lặp, hai kho lệch 1,7 tới 2,6 lần. Nhưng ở tầng âm không nghĩa — tầng mà bài thơ tuyệt đối không góp được gì, vì bài thơ không chứa loại âm ấy — hai kho bằng nhau.

Nghĩa là: đúng ở cái tầng mà chỉ mình nhạc sĩ nói, ông nói cùng một lượng, cùng một cách, bất kể chữ ở đâu tới. Tiếng "à ơi" ông cấy vào Huy Cận, tiếng "ừ ư" ông cấy vào Phạm Thiên Thư, tiếng "ối a" ông cấy vào "Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu" — chúng dày đúng bằng những tiếng đệm trong các bài dân ca ông tự viết lời. Cái máy chạy đều một tốc độ.

Hai chú thích bắt buộc. Thứ nhất, mẫu nhỏ: 18 và 40 lần là những con số bé, và một bài dân ca nặng tiếng đệm rơi vào kho nào cũng đủ lay bảng. Thứ hai, con số bằng nhau về mật độ đi kèm một chênh lệch về độ phủ: 18% số bài phổ thơ có ít nhất một tiếng đệm, so với 7% số bài tự viết. Tức là ở kho tự viết, tiếng đệm dồn vào ít bài hơn nhưng dày hơn; ở kho phổ thơ nó rải ra nhiều bài hơn. Cách đọc thận trọng nhất: ông rắc tiếng đệm vào thơ người khác thường xuyên hơn là vào lời của chính mình — điều này hợp với cơ chế ở 5.2, vì lời tự viết đã tự sinh ra chỗ thở, còn bài thơ thì không.

5.6 Gộp lại: một chỉ số "dấu tay lặp"

Bốn phép đo trên đo bốn dạng lặp khác nhau. Gộp cả bốn — một dòng bị tính là "có dấu tay lặp" nếu nó lặp một dòng trước đó (kể cả gần nguyên), hoặc tự lặp một cụm trong chính nó ("hát vọng đôi câu, hát vọng đôi câu"), hoặc nhắc lại một cụm ba âm tiết của dòng liền trước ("lên cồn hái dâu" nối tiếp "cắp rổ lên cồn"):

Dòng có dấu tay lặp Tỷ lệ
Phổ thơ 284 / 933 30,4%
Tự viết 328 / 1.950 16,8%

Gần một phần ba số dòng trong các bài phổ thơ mang dấu tay lặp, so với một phần sáu ở kho tự viết.

Nhưng đây là chỗ phải trung thực nhất của cả phần V. Xếp hạng từng bài theo chỉ số ấy, mười hai bài dày nhất không nghiêng hẳn về kho nào: năm bài phổ thơ (Thu Ca Điệu Ru Đơn 68%, Đừng Bỏ Em Một Mình 63%, Mùa Thu Chết 53%, Kỷ Vật Cho Em 50%, Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu 44%) đứng xen kẽ với bảy bài tự viết (Tuổi Mộng Mơ 75%, Thương Ai Nhớ Ai 75%, Gánh Lúa 58%, Giết Người Trong Mộng 58%, Đố Ai 50%, Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài 48%, Xuân Ca 47%).

Đọc cho đúng: phép lặp không phải thứ ông chỉ dùng khi phổ thơ. Nó là thứ ông dùng ở khắp nơi, và hai bài lặp dày nhất cả kho đều là lời ông tự viết. Cái mà số liệu cho thấy chỉ là: khi vật liệu đã tự mang sẵn sự lặp thì ông đỡ phải thêm; khi nó không mang sẵn thì ông thêm vào, và thêm nhiều. Chênh lệch 30% so với 17% không phải chênh lệch giữa "có dùng" và "không dùng"; nó là chênh lệch của cùng một cái máy chạy trên hai loại vật liệu khác nhau.

Mà đó chính xác là điều luận đề cần chứng minh — và là điều một bảng chênh lệch tuyệt đối sẽ không chứng minh được.


VI. Ba nhân chứng, và chỗ họ tự mâu thuẫn

Có một dạng bằng chứng nữa, không phải số liệu mà cũng không phải suy diễn của tôi: những người đã viết về nghệ thuật phổ thơ của Phạm Duy khi ông còn sống, trong đó có hai người trực tiếp trong cuộc.

Phạm Quang Tuấn, trong bài viết dài về nghệ thuật phổ thơ, xếp các bản phổ theo cặp tương phản — giản dị / cầu kỳ, "cố ý vụng về" / tinh vi, giữ nguyên bản / sắp đặt hẳn lại lời thơ — và kết luận: "không có khía cạnh nào của kỹ thuật phổ nhạc mà Phạm Duy không có tài xử dụng một cách lão luyện." Điều đáng chú ý là khi phân tích "Tiếng Sáo Thiên Thai", ông tự tìm ra đúng cỗ máy mà bài này gọi tên: "Phạm Duy cũng xử dụng một kỹ thuật thường dùng nhạc cổ điển Tây phương là đi từ một motif mà khai triển ra… Mỗi lần láy lại motif, thì thay đổi lên xuống một chút." Một người viết năm 1990 mấy, không nhắc Schoenberg một chữ nào, mô tả nguyên văn biến tấu khai triển.

Đoàn Xuân Kiên, viết về trường ca phổ thơ Hàn Mặc Tử, liệt kê ba kỹ thuật ông thấy Phạm Duy dùng: "lắp giai điệu vào lời thơ, biến thể các giai điệu để phát triển nhạc đề, và chuyển ý thơ thành điệu" — và ghi một nhận xét thống kê đáng giá: "Phạm Duy rất hiếm khi phổ nguyên lời thơ của toàn bài." Rồi ông chỉ ra bộ máy: một bài thơ ba khổ được xếp lại thành khổ 1 + khổ 2 cho đoạn nhạc một, khổ 1 + khổ 3 cho đoạn nhạc hai — tức là khổ đầu bị buộc phải trở lại để đóng vai điệp khúc mà bài thơ không có. Đúng thao tác thăng chức ở mục 4.2, chỉ khác thể thơ.

Nguyên Sa thì đã trích ở Phần IV. Nhưng cần nói thêm một chỗ, vì ông là người đi xa nhất và cũng là người tự mâu thuẫn thú vị nhất. Ông viết: "Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng thì khác, kiến trúc thơ được giữ nguyên vẹn từ đầu đến cuối bài. Phạm Duy không cho láy lại một câu hay vài chữ của câu thơ…" — trong khi chính bản in bài ấy cho cặp "Rằng xưa có gã từ quan" trở lại ba lần với chữ đuôi đổi, và chèn "ừ ư", "ơ ớ" vào giữa câu thơ. Ông đúng ở chỗ nhạc sĩ không đổi chữ; ông nhầm ở chỗ nghĩ rằng vì thế cấu trúc cũng nguyên vẹn.

Chỗ nhầm này rất đáng nghiên cứu, vì nó lặp lại ở người thứ hai. Phạm Quang Tuấn viết về "Ngậm Ngùi": "Nhịp cũng đều đều giữ nguyên tính cách ru ngủ của thơ lục bát, không thêm bớt vần nào. Vì chung thủy với thơ như vậy, nên hát lên nghe gần như là đọc thơ." — và rồi, cách đó chưa tới hai mươi dòng, chính ông chép ra bản hát có "Ngủ đi em - mộng bình thường" hai lần liền và "Ngủ đi em, ngủ đi em" mà bài thơ không có. Hai mươi sáu âm tiết được thêm vào, chép ra trên cùng một trang giấy với câu "không thêm bớt vần nào".

Tôi không nêu chuyện này để bắt lỗi hai người viết mà tôi vừa mượn công. Tôi nêu vì nó là bằng chứng gián tiếp mạnh nhất trong cả bài. Hai nhà phê bình sắc sảo, một trong hai là thi sĩ có thơ bị phổ, đều nghe ra sự lặp, đều chép nó ra, và đều không đăng ký nó vào cột "nhạc sĩ đã làm gì". Vì sao? Vì phần thêm vào nghe giống thơ đến mức không ai nghi: nó dùng đúng chữ của thi sĩ, đúng nhịp của thể thơ, đúng giọng của bài. Nó tàng hình.

Mà một thao tác tàng hình được thi hành đều đặn trên hai mươi hai bài thơ của hai mươi hai người khác nhau — đó chính là định nghĩa của một vân tay. Vân tay không phải thứ người ta nhìn thấy; nó là thứ người ta để lại mà không nhìn thấy.


VII. Bốn tầng máy chạy dưới cả chữ lẫn khuôn

Đến đây bài mới bàn tới hai tầng: chữ, và khuôn lặp. Còn ít nhất bốn tầng nữa nằm sâu hơn, và càng xuống sâu thì thơ của ai càng không còn ảnh hưởng gì. Bốn tầng này tôi không đo được bằng cách đếm lời ca; chúng đọc từ bản in. Xin trình bày gọn, xếp từ tầng gần lời nhất xuống tầng xa lời nhất.

Tầng một — sáu thanh, và phép hoạ lời. Tiếng Việt có sáu thanh, và mỗi thanh tự nó đã là một đường giai điệu thu nhỏ; hát sai đường ấy thì chữ đổi nghĩa. Nghĩa là với mỗi bài thơ mới, người phổ phải giải lại từ đầu cùng một bài toán: dựng một đường nét vừa đúng thanh điệu của những chữ có sẵn, vừa là một câu nhạc đứng được. Giai điệu vì thế là một hàm số đặt lên lời, không phải một thứ đứng cạnh lời. Mà hàm số thì thuộc về người viết hàm, bất kể tham số ai đưa.

Trên cái sàn ấy còn ba tầng nữa, và tầng thứ hai — hoạ lời — là chữ ký rõ nhất. Chữ "rơi" được cho rơi, chữ "xa" được đẩy ra một quãng rộng. Nhưng chỗ cao tay là vẽ ngược: trong "Yêu Là Chết Ở Trong Lòng", chữ "chết" — cái chữ mọi bản năng bảo ta dìm xuống đáy — lại được đặt lên nốt cao nhất, chói nhất của cả đoạn cao trào, vì cái chết trong tình yêu không phải một sự tắt lịm êm ả mà là một tiếng gào. Cùng bài ấy, chữ "mơ" thì được cho một nốt ngân xuống thấp rồi tắt lịm — trong khi mười ba năm trước, "Đường Em Đi" kết bằng đúng chữ "mơ!" vút thẳng lên nốt cao nhất của cả bài. Cùng một chữ, hai số phận ngược nhau. Không bài thơ nào ra lệnh được điều đó; đó là một quyết định biểu cảm và nó thuộc về một người.

Với "Ngậm Ngùi", ta còn có lời tự kể về đúng tầng này. Hồi Ký: "Tôi cố tình dùng hơi 'oán' trong bài ca: — Phải nhấn giọng ở chữ 'bãi' trong câu nắng chia nửa bãi chiều rồi, như ta hát Vọng Cổ, nghe không ca sĩ…" Chữ là của Huy Cận. Chỗ nhấn, và cái hơi oán, là của Phạm Duy — và ông biết rõ đến mức dặn thẳng người hát.

Tầng hai — ngũ cung, chuyển hệ, hơi vùng miền. Kho cao độ là của ông, tuyệt đối không do bài thơ quy định. Việc ông đang ở hệ ngũ cung nào, chuyển sang hệ nào giữa bài, mượn hơi Nam hay hơi Bắc, dùng nốt "lơ lớ" nào — không có chỗ nào trong một bài thơ để can thiệp vào những quyết định ấy. Một cú chuyển hệ giữa bài là một thao tác thuần nhạc; chữ đứng yên trong khi cái thang âm dưới chân nó dời đi.

Tầng ba — viết cho một giọng hát. Đây là tầng mà Phần 4.5 đã chạm tới, và nó đáng được nói cho trọn, vì Phạm Duy tự kể rất rõ. Hồi Ký: "Những bài như Tình Ca, Tình Hoài Hương với âm vực rất rộng, lúc đó được tôi soạn ra cốt để cho Thái Thanh hát và chỉ có cô mới hát nổi những nốt rất trầm hoặc rất cao của hai tác phẩm này. Từ đó trở đi, đa số ca khúc của tôi đều dựa vào khả năng của giọng hát Thái Thanh."

Đọc câu ấy rồi đọc lại câu về "Tiếng Sáo Thiên Thai" ở mục 4.5, sẽ thấy một điều: cây đàn mang tên Thái Thanh không đổi khi thi sĩ đổi. Âm khu, chỗ phá toa, chỗ để dành nốt đắt — tất cả giữ nguyên xuyên qua hai mươi hai thi sĩ. "Kiếp Nào Có Yêu Nhau", thơ Minh Đức Hoài Trinh, là bài khó hát vào loại nhất kho, với nốt cao nhất chỉ chạm đúng hai lần rồi tuột, và tiếng "ơi!" cuối bài luyến rơi mà vẫn bấu lại được ở một nốt cao, không chịu về nốt chủ. Cái khó ấy có chủ đích, và nó được viết cho một cổ họng cụ thể trong nhà. Bài thơ không biết cổ họng ấy tồn tại.

Tầng bốn — đà, đỉnh, và kinh tế nốt đắt. Tầng sâu nhất, và cũng là tầng bài thơ mù tịt. "Đường Em Đi" nhịn suốt ba mươi mốt ô nhịp rồi mới tung cú vút duy nhất lên nốt cao ở chữ cuối. "Nghìn Trùng Xa Cách" đặt cao trào của nó vào một chỗ lặng. Đó là những quyết định về cách phân bổ ngân sách cảm xúc trên một trục thời gian ba phút. Bài thơ cho ông chữ; nó không cho ông cái ngân sách đó, cũng không cho ông biết phải tiêu ở ô nhịp nào.

Và bây giờ hãy nối bốn tầng này ngược về Phần I. Chính vì cả bốn tầng đều im lặng ở mọi bảng đếm chữ, nên một bài đếm chữ buộc phải kết luận rằng phổ thơ làm Phạm Duy loãng đi. Kết luận ấy đúng trong phạm vi thứ nó đo được, và sai nếu hiểu là "bài ấy ít Phạm Duy hơn". Nó đo được lượng từ vựng; nó không đo được cái gì đã xảy ra với từ vựng ấy sau khi nó rơi vào tay ông.


VIII. Hai vân tay

Đến đây phải quay lại soi chính luận đề này, vì có một chỗ nó dễ bị nói quá.

Ở lần đếm chữ trước, sau khi tìm ra rằng chân dung "chàng, nàng, đám cưới" là chữ của các thi sĩ, tôi đã đi tiếp một bước và hỏi: vậy cái gì mới thật là chữ của ông? Xếp hạng những chữ mà riêng sáu mươi bảy bài lời tự viết dùng đậm hơn hẳn ba kho kia gộp lại, câu trả lời khá bất ngờ. Những chữ đặc trưng nhất không phải chữ tình yêu nào cả, mà là: gánh (52 lần), thóc (14), trâu (9), lũy (5), cầy (5), rước (5), trèo (4), ới (17, trong các tiếng gọi đò và điệu hò). Không một chữ nào trong nhóm ấy xuất hiện dù chỉ một lần ở hai nhạc sĩ kia.

Đó là trường từ vựng của làng quê và công việc đồng áng. Ngay trong một tuyển tập mang tên "tình khúc", khi Phạm Duy tự cầm bút, thứ len vào lời ông không phải thân thể người yêu mà là cái đòn gánh, con trâu, luỹ tre. Vậy Phạm Duy một vân tay từ vựng thật — và nó biến mất sạch khi ông phổ thơ.

Cho nên kết luận phải phát biểu cho chính xác, không được nói quá: ông có hai vân tay.

Vân tay thứ nhất là vân tay từ vựng — cái làng, cái đòn gánh, người kể chuyện cộng đồng, những địa danh có tên riêng mà cả một thế hệ cùng biết ("khung trời Đại Học", "con đường Duy Tân"). Vân tay này chỉ hiện khi ông tự cầm bút, và nó hoàn toàn vắng mặt trong ba mươi ba bài phổ thơ. Ai đi tìm Phạm Duy ở tầng này, trong một bài phổ thơ, sẽ không tìm thấy — và sẽ kết luận sai.

Vân tay thứ hai là vân tay thao tác — hạt mầm và lặp có sửa; quyền thêm lời; quyền chặt một câu thơ ra rồi đóng lại theo trật tự khác; quyền thăng chức một cặp lục bát thành điệp khúc; quyền cấy vào giữa chữ của thi sĩ những âm không nghĩa; quyền dặn ca sĩ nhấn vào chữ nào; quyền viết bài cho một cổ họng cụ thể. Vân tay này hiện ở mọi bài, bất kể lời của ai, và nó là cái tai người nghe bắt được trong hai giây.

Bài này nói về cái thứ hai, và nói rằng chính cái thứ hai mới là căn cước.

Có một chỗ đáng dừng lại một giây. Phạm Duy tự kể điều đó, gần như bằng đúng những chữ vừa dùng, khi kể về việc phổ thơ Cung Trầm Tưởng: "Những bài thơ phổ nhạc đó trở thành những tình khúc của một thời, thi tứ chắc chắn là của các thi sĩ nhưng động lực khiến tôi phổ nhạc, chính là Nàng Thơ của tôi."

Ông nhường thi tứ. Ông không nhường cái còn lại — và ông cũng chưa bao giờ gọi tên cái còn lại là gì. Bài này đề nghị gọi nó là: cách xử lý vật liệu.


IX. Bài test có thể làm, mà tôi chưa làm

Có một cách kiểm luận đề này bằng người thật, và nó rẻ.

Chọn mười hai đoạn mở đầu ca khúc Phạm Duy — sáu bài lời tự viết, sáu bài phổ thơ — cho nghe mà không nói tên bài. Hỏi người nghe hai câu hỏi:

  1. Ai viết nhạc?
  2. Lời của ai?

Dự đoán của tôi, ghi ra đây trước để còn sai được: câu (1) gần như trăm phần trăm đúng; câu (2) gần như đoán mò, và tỷ lệ đúng sẽ không cao hơn xác suất ngẫu nhiên bao nhiêu. Nếu kết quả ra như thế thật, thì đó là dạng gọn nhất của toàn bộ bài này: cái nhận ra được và cái sở hữu chữ là hai thứ khác nhau.

Còn nếu người nghe đoán trúng cả câu (2) ở tỷ lệ cao, thì luận đề của tôi phải sửa lớn: nghĩa là ở tầng chữ vẫn có một dấu hiệu mà bảng đếm của tôi bỏ sót. Tôi để ngỏ khả năng ấy, và nói rõ rằng bài này chưa làm thí nghiệm ấy.


X. Những chỗ bài này không đứng vững

Theo đúng lệ, xin liệt kê ra chứ không giấu.

Một — mẫu. Kho dùng ở đây là một tuyển tập một trăm bài, do người khác chọn, trên hơn một nghìn bài của cả đời Phạm Duy. Mọi kết luận chỉ đúng trong phạm vi ấy. Ba mươi ba bài phổ thơ là một mẫu nhỏ; mọi tỷ lệ phần trăm ở Phần V đều đã kèm số tuyệt đối để ai muốn kiểm thì kiểm.

Hai — cách tách kho có một chỗ hở. Kho tự đánh dấu bài phổ thơ bằng một dòng ghi tên thi sĩ, và tôi đọc theo cái nhãn ấy. Nhưng nhãn ấy không đánh dấu ca dao: "Nụ Tầm Xuân", "Đố Ai", "Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài" đều dựng trên văn bản có sẵn mà vẫn nằm ở phía "tự viết". Chỗ hở này làm các con số ở Phần V dè dặt hơn sự thật chứ không phóng đại nó — vì nó đẩy một nhóm bài phổ-văn-bản-có-sẵn sang phía đối chứng. Ai làm lại nên tách kho làm ba: lời tự viết, phổ thơ có tên thi sĩ, và phổ văn bản dân gian.

Ba — trần trên chưa hạ. Con số 16,3% dòng lặp ở kho phổ thơ là trần trên của "phần Phạm Duy thêm vào", không phải phần ấy. Muốn hạ nó xuống mức xác nhận quyền sở hữu thì phải đối chiếu từng dòng với bản in của từng bài thơ. Tôi mới làm được việc ấy trên đúng một bài — "Ngậm Ngùi" — và ngay cả ở đó cũng phải dựa vào các trích dẫn đương thời chứ không phải bản in tập thơ.

Bốn — tầng ba chưa đo thật. Phép đo hình dạng ở 5.4 mới đo câu thơ, chưa đo câu nhạc. Đây là chỗ yếu nhất của bài, và tôi không định che nó bằng cách viết mạnh giọng hơn.

Năm — ký âm. Mọi khẳng định về cao độ và ô nhịp trong Phần VII lấy từ những trang ký âm tôi đã dựng trước đây; những chỗ trong đó mang dấu ngờ thì không được dùng làm căn cứ cho số liệu tần suất, và tôi đã không dùng.

Sáu — Hồi Ký là lời tự kể. Những chỗ trích Hồi Ký ở trên vào bài với tư cách giai thoại, không phải với tư cách bằng chứng. Phải cẩn thận, vì Phạm Duy tự mô tả mình sai được: có lần ông tự chọn một chữ làm chữ ký cho mình, và đem đếm thì chữ ấy lại đậm hơn ở lời của một nhạc sĩ khác. Cho nên nguyên tắc ở đây là: số liệu phải tự đứng được nếu bỏ hết giai thoại đi. Tôi tin phần V đứng được.

Bảy — luận đề này không chứng minh được rằng người nghe thật sự nhận ra ông. Nó chỉ chỉ ra một cơ chế khả dĩ, và cho thấy cơ chế ấy có mặt, đo được, ở khắp hai kho. Muốn hơn thế thì phải làm bài test ở Phần IX với người thật.


Kết: cái gì còn lại khi lấy hết chữ đi

Thử làm một thí nghiệm tưởng tượng. Lấy "Ngậm Ngùi" ra, xoá sạch chữ của Huy Cận, chỉ giữ lại bộ khung: một câu được nói ba lần, lần thứ ba đổi một chữ; một câu khác bị tách đôi, mỗi nửa một biến thể; một tiếng ru không nghĩa cấy vào đầu câu bát; một chỗ được dặn phải nhấn theo hơi vọng cổ; một cú vươn giọng duy nhất trong cả bài, để dành cho chữ nặng nhất; và bên dưới, gần như mỗi phách một hợp âm đổi màu.

Cái khung ấy, không còn một chữ nào của thi sĩ, vẫn là một vật thể có hình dáng riêng. Đem đúng cái khung ấy áp lên một bài thơ khác thì ra một bài hát khác — nhưng vẫn của cùng một người. Đó là điều bài này muốn nói.

Ngược lại, thử giữ nguyên toàn bộ chữ của Huy Cận và giao cho một người khác phổ. Việc ấy đã xảy ra thật: Lê Thương phổ bài thơ ấy trước Phạm Duy chừng mười lăm năm. Bản của Lê Thương không phải bản dở; nó chỉ không đi được vào miệng người ta. Cùng một bài thơ, cùng một thứ tiếng, cùng một thể lục bát — hai bài hát khác nhau. Chữ giống hệt; cái khác nằm ở chỗ khác.

Cho nên khi ta nói "nghe hai câu là biết nhạc Phạm Duy", ta đang khen một thứ mà ta thường mô tả nhầm. Ta tưởng mình đang khen chữ của ông, và thật ra một phần lớn những chữ ta đang khen là của Hữu Loan, của Cung Trầm Tưởng, của Phạm Thiên Thư, của Nguyên Sa. Thứ ta thật sự nhận ra là cách ông cầm những chữ ấy: lặp nó, cắt nó, nhấc nó lên một bậc, cấy vào giữa nó một tiếng ru không nghĩa, và cho nó trở lại lần thứ ba với đúng một chữ đã đổi.

Bài thơ, với ông, không phải một nội dung phải phục vụ. Nó là nguyên liệu tạo hình — đúng như một tế bào bốn nốt, và được đối xử bằng đúng những thao tác ấy. Chữ là của người khác; cách chữ ấy được đối xử thì là của ông, và người nghe nhận ra đúng chỗ đó.

Vân tay không nằm ở nhạc đề. Nó nằm ở phép biến tấu.


Phụ Lục

Bốn mục dưới đây tách riêng những ý mà phần chính chỉ dùng lướt qua, để bài đọc trôi. Ai chỉ muốn theo mạch lập luận thì có thể dừng ở đây; ai muốn kiểm hay muốn làm tiếp thì phần này là chỗ để bắt đầu.

A. Bộ máy hạt mầm và lặp-có-sửa, nói cho đủ

Phần III của bài chính chỉ tóm ba khái niệm trong vài dòng. Dưới đây là bản đầy đủ hơn, vì toàn bộ lập luận của bài treo lên nó.

A.1 — Nhạc đề (hạt mầm). Nếu câu nhạc là phân tử thì nhạc đề là nguyên tử: hạt nhỏ nhất còn mang căn cước của bài. Nó thường xuất hiện ngay đầu bài, dưới một dạng đặc trưng và gây ấn tượng, vì đầu bài là chỗ người nghe gặp nó lần đầu và ấn tượng đầu là thứ mọi lần lặp về sau sẽ gợi lại. Nét đặc trưng của nó gồm quãng (nhảy xa hay bước gần) và dáng nhịp (nhanh chậm, chỗ ngắt), kết hợp thành một hình dễ nhớ.

Vì gần như mọi hình nét về sau đều có họ hàng với nó, nó được gọi là "hạt mầm". Có hai phép ví đẹp cho ai thích toán: vì nó chứa ít nhất một phần tử của mọi hình nét sẽ tới, có thể coi nó là bội số chung nhỏ nhất; vì nó nằm bên trong mọi hình nét sẽ tới, cũng có thể coi nó là ước số chung lớn nhất. Nói kiểu chợ: mọi câu trong bài đều "chia hết" cho nhạc đề.

Nhưng câu đáng thuộc lòng là câu này: tất cả tuỳ ở cách dùng. Nhạc đề giản dị hay cầu kỳ không quyết định gì hết; ấn tượng cuối cùng nằm ở cách nó được đối xử và khai triển. Hạt giống tốt gieo vào tay người vụng vẫn ra cỏ.

A.2 — Cái gì đủ tư cách làm nhạc đề? Câu trả lời rộng rãi bất ngờ: bất kỳ chuỗi nốt nào có một dáng nhịp đều dùng được, miễn đừng ôm quá nhiều nét đặc trưng một lúc. Và kèm theo là một luật rất phóng khoáng: mọi thành tố của câu nhạc, hễ được đối xử như nhạc đề — tức được lặp lại, có biến đổi hay không — thì nó là nhạc đề.

Luật ấy quan trọng với bài này hơn người ta tưởng, vì nó có một hệ quả trực tiếp: một cụm chữ cũng có thể là nhạc đề. Trong "Tìm Nhau", hai chữ "Tìm nhau" mở gần như mọi câu của nửa đầu bài, mỗi lần cõng cùng một mẩu giai điệu ngắn — văn chương gọi phép ấy là điệp ngữ, nhạc lý gọi mẩu giai điệu được nhắc ấy là nhạc đề, và cái hay là hai thứ trùng làm một. Trong bài hát, nhạc đề có thể ký tên mình bằng lời. Đó chính là cửa mà "Rằng xưa có gã từ quan" và "Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn" đi qua.

A.3 — Biến tấu khai triển. Nhạc đề được lặp suốt bài; lặp suông thì đơn điệu; đơn điệu chỉ trị được bằng biến thể. Nhưng đổi mọi nét thì ra một thứ xa lạ, người nghe mất dấu người quen. Định nghĩa vì thế nằm gọn trong một câu cân đối: đổi một số nét kém quan trọng, giữ lại những nét quan trọng hơn — và có một chỉ dẫn vàng: giữ được dáng nhịp là giữ được sự mạch lạc.

Dòng chảy các dạng nối nhau, dạng sau mọc từ dạng trước như có sự lớn lên, mang tên biến tấu khai triển. Còn thay đổi lặt vặt không để lại hậu quả gì cho phần sau thì bị gạt xuống hàng "biến cách": đổi mà như không. Phân biệt ấy có ích cho bài này: khi "Rằng xưa có gã từ quan" trở lại lần thứ ba với "ngủ say" thay cho "nhớ nhau", đó không phải biến cách — chữ đổi mang theo cả đoạn kết của câu chuyện.

A.4 — Hai họ lặp. Lặp nguyên vẹn giữ đủ mọi quan hệ, và họ này rộng hơn ta tưởng: dời cả khối sang chỗ cao hơn hay thấp hơn vẫn tính là nguyên vẹn; lật ngược chiều mọi bước đi, cho chuỗi nốt chạy ngược từ đuôi về đầu, co mọi nốt ngắn lại hay kéo mọi nốt dài ra — đều nguyên vẹn tuốt, miễn giữ nghiêm quan hệ giữa các nốt. Lặp có sửa mới là chỗ sinh sôi: nó sản xuất chất liệu mới cho các đoạn sau xài. Họ thứ nhất giữ của; họ thứ hai đẻ ra của.

Kết quả ở mục 5.2 của bài chính đọc được bằng đúng cặp khái niệm này: kho phổ thơ nghiêng về họ thứ nhất (77% dòng lặp là nguyên văn), kho tự viết nghiêng về họ thứ hai (chỉ 50%).

A.5 — Danh mục dán tường. Đổi được những gì:

  • Về dáng nhịp: kéo dài hay rút ngắn từng nốt; gõ một nốt đôi ba lần; lặp riêng một mẩu nhịp; xê mẩu nhịp sang phách khác; thêm nốt lấy đà; đổi cả số nhịp.
  • Về quãng: đổi thứ tự hay chiều đi của các nốt; thêm bước nhảy vào hay bớt đi; lấp một cú nhảy xa bằng những nốt bắc cầu; rút gọn bằng cách lược nốt; dời nét sang phách khác.
  • Về hoà âm: đổi thế bấm của hợp âm nền; nối thêm hợp âm vào cuối; chèn vào giữa; hay thay hẳn một nền khác bên dưới đúng những nốt cũ.
  • Thích ứng: khi nền đã đổi thì uốn giai điệu theo cho khớp — miễn dáng nhịp và đường nét còn nguyên thì căn cước còn nguyên.

Hai lời dặn: nhiều phép áp cùng lúc được, nhưng đừng để kết quả quá xa lạ với nhạc đề gốc; và một dạng nhạc đề, tới lượt nó, lại có thể được biến thể tiếp — hạt mầm nảy cây, cây lại gieo hạt.

A.6 — Vì sao danh mục này là chỗ luận đề đứng. Đọc lại bốn gạch đầu dòng trên và thử tìm xem có mục nào hỏi vật liệu đầu vào từ đâu tới không. Không có. Đó là toàn bộ lập luận của bài này, thu vào một quan sát về hình thức của cái danh mục.

B. Mô hình ba tầng cho bài toán "một tác giả, hai kho chữ"

Phần II mượn một mô hình mà không kể xuất xứ. Xin nói cho rõ, vì mô hình ấy dùng lại được cho bất cứ tác giả nào có hai giai đoạn hay hai thể loại khác nhau.

Bài toán có dạng: một người viết, hai kho ngôn ngữ khác hẳn nhau, mà người nghe vẫn nhận ra là một người. Nó xuất hiện ở Trịnh Công Sơn (tình khúc so với ca khúc thời sự), ở Phạm Duy (lời tự viết so với lời phổ thơ), và sẽ xuất hiện ở bất cứ ai viết đủ lâu.

Cách giải sai là đi tìm những chữ đậm nhất ở mỗi kho rồi so — vì đó chính là những chữ do đề tài quyết định, và đề tài thì đã khác nhau từ đầu. Cách giải đúng đi ngược lại: tìm những chỗ không đổi giữa hai kho. Ba tầng, xếp theo độ chắc tăng dần:

Tầng 1 — chữ bất động. Lọc ra những chữ có tần suất chênh nhau dưới một ngưỡng nhỏ (chẳng hạn 13%) giữa hai kho. Đây là những chữ mà tác giả dùng đều đặn bất kể đang viết về cái gì. Chúng ít, và chính vì ít mà đắt.

Tầng 2 — khuôn câu di cư nguyên khối. Không đếm chữ nữa mà đếm khuôn: một cấu trúc câu, chẳng hạn "[động từ] cho + [ai] + [trạng thái]", xuất hiện ở kho này rồi chuyển nguyên khối sang kho kia với vật liệu hoàn toàn khác. Đây là tầng mạnh hơn tầng 1, vì một chữ có thể trùng do ngẫu nhiên, còn một khuôn bốn dòng song song thì không.

Tầng 3 — hình dạng vật lý. Âm tiết mỗi dòng, dòng mỗi bài, và — chỉ có ở ca khúc — số ô nhịp mỗi câu nhạc. Tầng này chắc nhất vì nó hoàn toàn độc lập với nội dung, nhưng cũng khó diễn giải nhất, vì thể loại cũng ép hình dạng chứ không riêng tác giả.

Áp vào Phạm Duy: tầng 1 tôi đã chạy (và nó trả lời "hai kho khác nhau"); tầng 2 tôi mới chạy được một phần dưới dạng các phép đo lặp ở mục 5.2–5.6, và đó là lý do những phép đo ấy là phần đóng góp chính của bài; tầng 3 mới chạy trên câu thơ, chưa chạy trên câu nhạc.

Một cơ chế phụ đáng nhớ, vì nó áp được cho cả hai nhạc sĩ: đơn vị đo không đổi, cái được đo thì đổi. Ở Trịnh Công Sơn, đơn vị là một khuôn ngữ pháp và cái được đo trượt từ chuyện riêng sang chuyện chung. Ở Phạm Duy, đơn vị là một bộ thao tác nhạc và cái được đo là thơ của hai mươi hai người. Cùng một hình dạng lập luận, hai vật liệu.

C. Sáu phép đo: cái nào đã chạy, cái nào còn để ngỏ

Đây là bảng công việc, để ai muốn làm tiếp thì khỏi phải nghĩ lại từ đầu. Bốn phép có kết quả trong bài chính; hai phép còn nguyên.

# Phép đo Tình trạng Kết quả / ghi chú
A Đối chiếu thơ gốc ↔ lời hát, đếm âm tiết Phạm Duy thêm vào, rồi phân loại (lặp một cụm đã có · tiếng đệm vô nghĩa · tiếng gọi · nối câu) Chạy được 1/33 bài "Ngậm Ngùi": +26 âm tiết trên 84, tức +31%; toàn bộ phần thêm thuộc nhóm lặp + đệm, không một hình ảnh mới nào. Đúng dự đoán. Cần bản in thơ cho 32 bài còn lại
B Tỷ lệ dòng lặp, ba ngưỡng Đã chạy 16,3 / 18,0 / 21,2% (phổ thơ) so với 6,3 / 8,3 / 12,6% (tự viết). Dự đoán "hai kho xấp xỉ" — sai
C Hình dạng vật lý Chạy một nửa Âm tiết/dòng 6,56 so với 7,04 (chênh 7%); dòng/bài 28,3 so với 29,1 (chênh 3%). Chưa đo số ô nhịp mỗi câu nhạc — đây là việc còn lại quan trọng nhất
D Bao nhiêu bài được gắn một khối trở về mà bài thơ không có Đã chạy 51,5% (phổ thơ) so với 20,9% (tự viết). Đúng dự đoán, và mạnh hơn dự đoán
E Tần suất câu kép "nửa sau lặp nửa trước" ở hai kho Chưa chạy Phải đọc từ bản in, không đọc được từ lời ca. Dự đoán: xấp xỉ bằng nhau ở hai kho — nếu đúng thì đây là bằng chứng sạch nhất cho luận đề
F Từ ký âm, lấy tế bào mở đầu và đếm số kiểu biến đổi trong bài (đảo, tăng/giảm giá trị, mô tiến, rút ngắn, tinh giản) Chưa chạy Dự đoán: số kiểu mỗi bài không giảm ở kho phổ thơ. Đây là phép đo trực tiếp nhất cho luận đề, và cũng tốn công nhất

Hai nguyên tắc giữ nguyên cho ai làm tiếp: mọi con số quy về số lần trên 1.000 âm tiết, và đoán trước rồi giữ nguyên chỗ đoán sai. Trong bài này, chỗ đoán sai ở phép B lại chỉ ra một cơ chế mà một dự đoán đúng sẽ không chỉ ra được — đó là lý do của nguyên tắc thứ hai.

Một phép đo thứ bảy nảy ra trong lúc làm, không có trong kế hoạch, và hoá ra là phép sạch nhất: mật độ âm không nghĩa (mục 5.5). Nó sạch vì nó đo đúng thứ mà bài thơ không thể góp vào. Ai làm tiếp nên mở rộng nó: lập bảng đầy đủ các âm đệm trong tiếng Việt hát, rồi chạy lại trên kho lớn hơn.

D. Ba mươi ba bài phổ thơ, hai mươi hai thi sĩ

Để ai muốn kiểm mẫu thì kiểm được. Sắp theo tên thi sĩ, số bài trong ngoặc.

Thi sĩ Bài
Cung Trầm Tưởng (4) Bên Ni Bên Nớ · Kiếp Sau · Mùa Thu Paris · Tiễn Em
Phạm Thiên Thư (4) Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng · Em Lễ Chùa Này · Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu · Ngày Xưa Hoàng Thị
Nguyễn Tất Nhiên (3) Em Hiền Như Ma Soeur · Hãy Yêu Chàng · Thà Như Giọt Mưa
Minh Đức Hoài Trinh (2) Đừng Bỏ Em Một Mình · Kiếp Nào Có Yêu Nhau (bản in ghi "Hoài Trinh")
Hoàng Cầm (2) Lá Diêu Bông · Tình Cầm
Lưu Trọng Lư (2) Hoa Rụng Ven Sông · Tiếng Thu
Hữu Loan Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Phạm Văn Bình Chuyện Tình Buồn
Vũ Hữu Định Còn Chút Gì Để Nhớ
Kim Tuấn Khi Tôi Về
Linh Phương Kỷ Vật Cho Em
Nguyễn Tấn Phát Làm Sao Mà Quên Được
Xuân Diệu Mộ Khúc
Guillaume Apollinaire Mùa Thu Chết
Đỗ Quý Toàn Mùa Xuân Yêu Em
Huy Cận Ngậm Ngùi
Lê Minh Ngọc Tâm Sự Gửi Về Đâu
Paul Verlaine Thu Ca Điệu Ru Đơn
Huyền Chi Thuyền Viễn Xứ
Thế Lữ Tiếng Sáo Thiên Thai
Lê Lan Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài
Nguyên Sa Vết Sâu

Hai trong ba mươi ba bài đi qua một dòng sông ngôn ngữ: thơ Apollinaire và thơ Verlaine. Còn những bài lấy từ ca dao — "Nụ Tầm Xuân", "Đố Ai", "Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài" — thì kho không ghi tên thi sĩ nào, nên chúng nằm ở phía sáu mươi bảy bài "tự viết". Đó là một chỗ đáng ngờ của cách tách kho: ca dao cũng là văn bản có sẵn, và các phép đo ở Phần V vì thế đã xếp một nhóm bài phổ-văn-bản-có-sẵn vào nhầm phía. Chênh lệch thật giữa hai kho, nếu tách lại cho đúng, nhiều khả năng còn lớn hơn con số bài này in ra.

Một nhận xét nhỏ từ chính cái bảng: hai mươi hai người, mỗi người một tạng thơ — từ lục bát tiền chiến của Huy Cận tới thơ tự do của Minh Đức Hoài Trinh, từ thơ thiền tới thơ lính, từ thơ học trò Biên Hoà tới thơ tượng trưng Pháp. Nếu vân tay của Phạm Duy nằm ở tầng chữ, thì hai mươi hai tạng thơ ấy phải cho ra hai mươi hai giọng khác nhau. Chúng không cho ra như thế. Đó là quan sát mở đầu của bài này, phát biểu lại lần cuối dưới dạng một bảng.

8.13.2026

Nghe Vài Câu Là Biết Ai Viết — Ba Nhạc Sĩ (Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Lê Uyên Phương), Bốn Kho Chữ, Và Cái Bẫy Của Chữ "Nhau"

Tác giả: Claude Opus 5.0 AI. Học Trò ra đề và biên tập (Tháng 8 năm 2026).


Bài này thử trả lời một câu hỏi ai cũng từng gặp mà ít ai đo: vì sao chỉ nghe hai câu hát là biết ngay đây là nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc Phạm Duy, hay nhạc Lê Uyên Phương? Thay vì đọc vài bài rồi khái quát, tôi đem toàn bộ lời ca của ba người — bốn kho ngữ liệu, hơn sáu mươi hai ngàn âm tiết — ra đếm từng chữ một, rồi để các con số nói. Kết quả có ba chỗ đi ngược hẳn với những gì vẫn được lặp lại về ba người này; và chỗ bất ngờ nhất không nằm ở bất cứ trục nào tôi định đo trước, mà nằm ở một chữ hai âm tiết mà chính Phạm Duy đã tự chọn làm chữ ký cho mình. Mọi con số dưới đây đếm được lại; mọi câu hát đều đã đối chiếu với văn bản gốc, không câu nào chép từ trí nhớ.


Mở đầu: một trò chơi cũ, lần này có thước đo

Có một trò chơi mà bất cứ ai lớn lên với nhạc Sài Gòn trước 1975 đều từng chơi mà không cần gọi tên: mở radio giữa chừng một bài hát, nghe đúng hai câu, rồi biết ngay đây là "nhạc Trịnh", "nhạc Phạm Duy", hay — hiếm hơn vì ít người thuộc — "nhạc Lê Uyên Phương". Cái biết ấy đến trước khi kịp nhận ra giọng ca, trước khi nghe ra hoà âm; nó đến từ chính con chữ. Câu hỏi của bài này là câu hỏi cũ ấy, hỏi cho đến cùng: cái "biết ngay" ấy dựa vào cái gì, cụ thể đến mức nào?

Cách trả lời thông thường là đọc kỹ dăm bảy bài của mỗi người rồi rút ra nhận xét. Làm như vậy thì gần như bao giờ cũng ra được bốn nơi mà vân tay tác giả in rõ nhất: động từ (câu hát làm gì), danh từ thân thể (nó gọi tên cái gì trên người kia), tính từ (nó nhìn người kia ra sao), và ngôi kể (ai đang đứng ở đầu bên này của câu hát). Bốn trục ấy không sai. Nhưng dăm bảy bài trên tổng số hơn ba trăm sáu mươi bài của ba nhạc sĩ là một mẫu quá mỏng để nói chữ "thường", chữ "hiếm", chữ "không bao giờ" — mà những bài viết kiểu ấy, kể cả những bài hay nhất, đều nói cả ba chữ đó.

Cho nên lần này tôi dựng lại cả bốn kho ngữ liệu, đếm từng chữ, và giữ đúng một nguyên tắc: bằng chứng trước, kết luận sau. Một nhận xét kiểu "Trịnh Công Sơn ít nói tới thân thể" nghe rất thuận tai, lặp lại đủ nhiều thì thành thường thức, và không ai buồn kiểm. Đến khi kiểm thì nó sai — sai theo một cách thú vị hơn hẳn cái đúng mà nó tưởng mình đang nói. Ba lần như vậy sẽ xuất hiện trong bài này, và cả ba lần, chỗ sai lại chính là chỗ mở ra một luận điểm chắc hơn.


Phần I — Cái khung phân loại này do chính người trong cuộc dựng nên

Điều may mắn cho bất cứ ai muốn so ba nhạc sĩ này là: cái khung để so không phải do người đời sau áp đặt. Nó do chính một trong ba người dựng lên. Phạm Duy, trong bộ Hồi Ký của ông, đã tự tay dán nhãn cho các dòng nhạc tình miền Nam — trong đó có nhãn cho hai người kia.

"Rồi theo với thời gian, nhạc tình tiến tới giai đoạn phát triển của Tân Nhạc, nó rời khỏi khung cảnh lãng mạn (romantique) để tiến tới nhạc tình cảm tính (sentimental). Bây giờ đôi lứa yêu nhau không còn cần đến bối cảnh chung quanh nữa. Trong loại nhạc tình này, chỉ có anh với em mà thôi, nghĩa là chỉ có người nam, người nữ dìu nhau đi trên đường tình. Rồi nhạc tình Việt Nam sẽ tiến tới giai đoạn não tính (cérébral) với Trịnh Công Sơn, nhục tính (sensuel) với Lê Uyên Phương, ảo tính (psychedelique) với Nguyễn Trung Cang... Nhạc tình của tôi ra đời trong giai đoạn 58-68 nằm trong loại nhạc tình cảm tính vậy."

Đoạn ấy đáng đọc chậm, vì nó cho ta bốn thứ cùng một lúc.

Một, nó cho một bộ nhãn: Trịnh Công Sơn là não tính (cérébral), Lê Uyên Phương là nhục tính (sensuel), Nguyễn Trung Cang — và cùng thế hệ, Lê Hựu Hà — là ảo tính (psychédélique). Ba nhãn ấy thường được trích lại, và người ta hay dừng ở đó, coi như Phạm Duy đứng ngoài cái thước ông cầm.

Hai, ông không đứng ngoài. Ô trống thứ tư đã được chính chủ điền vào ngay trong cùng đoạn văn: Phạm Duy tự xếp mình là cảm tính — sentimental. Vậy khung này có bốn nhãn chứ không phải ba. Chi tiết ấy đổi hẳn thế của cả bài: ta không còn phải đi tìm chỗ đứng cho Phạm Duy trên một cái thước ông dựng cho người khác; ta có thể kiểm xem ông tự mô tả mình có đúng không — một việc khác hẳn, và công bằng hơn nhiều.

Ba, ông định nghĩa luôn cái nhãn ấy, và định nghĩa theo lối rất dễ kiểm: nhạc cảm tính là nhạc mà "đôi lứa yêu nhau không còn cần đến bối cảnh chung quanh nữa... chỉ có anh với em mà thôi". Không cần bối cảnh. Chỉ hai người. Hãy nhớ câu ấy — nó sẽ quay lại ở Phần VIII theo một cách mà chắc ông không lường trước.

Bốn, và đây là chỗ hiếm có: ông chỉ thẳng ra chữ nào là chữ ký của mình. Sau khi kể tên ba bài của chính ông — Ngày Đó Chúng Mình, Đừng Xa Nhau, Kiếp Nào Có Yêu Nhau — ông viết: "tất cả nhấn mạnh vào chữ ''nhau''".

Một nhạc sĩ tự nêu một chữ cụ thể làm dấu hiệu nhận dạng của dòng nhạc mình: đó là một tuyên bố kiểm được. Cả Phần VII dưới đây dành để kiểm đúng một chữ đó, và kết quả là chỗ bất ngờ nhất của bài này.

Cũng cần ghi thêm một câu nữa Phạm Duy viết về đôi Lê Uyên và Phương, vì nó là lời cảnh báo cho chính phương pháp đếm chữ:

"Nhìn đôi uyên ương này hát với lối diễn tả rất khêu gợi thì càng thấy được chất nhục tính trong nhạc của họ."

Nghĩa là: cái nhãn "nhục tính" ông gán, ngay từ đầu, không thuần tuý nói về lời ca — nó nói cả về cách hai người đứng trên sân khấu hát cho nhau nghe, trước mắt khán giả, ở một thời điểm mà cách hát ấy còn là chuyện lạ. Bài này chỉ đếm được chữ, không đếm được sân khấu. Nếu số liệu dưới đây có ủng hộ cái nhãn ấy thì cũng chỉ ủng hộ được một nửa của nó; và nếu có bác thì cũng chỉ bác được một nửa. Nói rõ điều đó ngay từ đầu thì đỡ phải rào đón về sau.


Phần II — Bốn kho ngữ liệu, không phải ba

Ba nhạc sĩ, nhưng bốn kho chữ. Lý do: kho Phạm Duy phải tách đôi mới dùng được, và lý do ấy nằm ngay trong chính tuyển tập của ông.

Kho Số bài Âm tiết lời ca Nguồn
Lê Uyên Phương 21 3.963 Trọn hai tập nhạc đã in: Yêu Nhau Khi Còn ThơKhi Loài Thú Xa Nhau
Phạm Duy — lời tự viết 67 13.718 Phần "giọng Phạm Duy" thật sự, rút từ tuyển tập 100 Tình Khúc
Phạm Duy — phổ thơ 33 6.125 Cùng tuyển tập, nhưng lời là của 23 nhà thơ khác
Trịnh Công Sơn 239 38.970 Gần trọn sự nghiệp 1958–2001

Ba điều về bảng này cần nói rõ, vì cả ba đều ảnh hưởng tới mọi con số về sau.

Một — vì sao phải tách kho Phạm Duy làm đôi. Trong tuyển tập 100 Tình Khúc, có 33 bài là phổ thơ người khác, của 23 nhà thơ: Hữu Loan, Cung Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư (3 bài), Nguyễn Tất Nhiên (3 bài), Hoàng Cầm, Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Nguyên Sa, Huyền Chi, Kim Tuấn, cho tới cả Apollinaire và Verlaine. Một phần ba tuyển tập, và là phần chứa nhiều bài nổi tiếng nhất. Nếu gộp chung mà đếm thì ta không đếm được "giọng Phạm Duy" — ta đếm một hỗn hợp giữa ông và hai mươi ba người khác, rồi gọi kết quả là chân dung của ông. Phần VIII dưới đây cho thấy sai lệch ấy không nhỏ chút nào; nó lớn đến mức lật ngược cả một chân dung quen thuộc. (Ghi chú nhỏ cho ai muốn đếm lại: con số vẫn hay được nhắc là "34 bài phổ thơ trên 100"; đếm lại từ chính tuyển tập thì đúng 33. Lệch một bài, không đủ đổi kết luận nào, nhưng đã lệch thì nên nói.)

Hai — mỗi kho là một lát cắt, không phải toàn bộ một đời người. Trịnh Công Sơn ở đây gần như trọn vẹn: 239 bài. Lê Uyên Phương chỉ có 21 bài — hai tập nhạc đã in, tức khoảng một phần ba số ca khúc ông thật sự viết. Phạm Duy thì chỉ có 100 bài của một tuyển tập do người khác chọn, trên tổng số hơn một nghìn bài ông viết trong đời. Mọi kết luận về Phạm Duy trong bài này vì thế chỉ đúng "trong phạm vi 100 Tình Khúc", không được suy rộng thành "Phạm Duy nói chung". Tôi sẽ nhắc lại điều này ở Phần XI, nhưng nói trước ở đây thì người đọc đỡ phải tin quá tay.

Ba — từ đây trở đi, mọi con số đều là số lần trên 1.000 âm tiết của chính kho ấy. Đây là điều kiện tối thiểu khi bốn kho lệch nhau gần mười lần về quy mô: kho Trịnh Công Sơn lớn gấp gần mười lần kho Lê Uyên Phương, nên mọi so sánh bằng số lần thô đều vô nghĩa. Khi tôi viết "ôm 2,27 ở Lê Uyên Phương so với 0,59 ở Trịnh Công Sơn", nghĩa là: cứ mỗi nghìn âm tiết lời ca, Lê Uyên Phương viết chữ ôm 2,27 lần, Trịnh Công Sơn 0,59 lần. Con số tuyệt đối vẫn ghi kèm trong bảng để ai muốn kiểm thì kiểm.


Phần III — Trục 1: động từ, và ba cách để một câu hát "làm" một việc gì đó

Động từ là nơi câu hát làm điều gì đó, nên đây là trục rõ nhất. Nhận xét quen thuộc là: Lê Uyên Phương là tiếp xúc thân thể ở thì hiện tại, Trịnh Công Sơn là trôi đi và nhớ lại, Phạm Duy là biến cố có mốc thời gian. Số liệu ủng hộ cả ba, nhưng không đều tay — và chỗ không đều mới là chỗ đáng nói.

3.1 — Động từ tiếp xúc: cái nhãn "nhục tính" đứng vững

Gom một nhóm mười động từ chỉ sự đụng chạm thân thể (ôm, hôn, vuốt, nắm, kề, ấp, ướp, riết, dìu, cắn):

Nhóm động từ tiếp xúc LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
Tổng (số lần / 1.000 âm tiết) 22 / 5,55 42 / 3,06 14 / 2,29 67 / 1,72
ôm 9 / 2,27 15 / 1,09 4 / 0,65 23 / 0,59
hôn 7 / 1,77 6 / 0,44 8 / 1,31 23 / 0,59
vuốt 2 / 0,50 2 / 0,15 1 / 0,16 0 / 0,00

Lê Uyên Phương dày gấp 3,2 lần Trịnh Công Sơn ở cả nhóm, gấp gần 4 lần riêng ở chữ ôm và gấp 3 lần ở chữ hôn. Trong 38.970 âm tiết của Trịnh Công Sơn không có lấy một chữ vuốt. Nhãn "nhục tính" Phạm Duy gán cho Lê Uyên Phương, ít nhất ở tầng động từ, không phải một lời khen bâng quơ hay một ấn tượng sân khấu — nó đếm được.

Và nó đếm được ở đúng những câu ai cũng nhớ. Dạ Khúc Cho Tình Nhân xếp ba động từ tiếp xúc liền nhau trong một câu — "Trên đôi vai thanh xuân ướp hôn nồng bên gối đắm say" — một mật độ không thấy ở bất cứ câu nào trong ba kho kia. Hãy Ngồi Xuống Đây thì gọi thẳng tên da thịt và bắt nó chịu tác động: "vai kề sát vai cho da thịt nầy đốt cháy thương đau". Ngay cả khi bài hát nói về chia lìa, động từ vẫn giữ nguyên tính tiếp xúc trong chính hành động từ chối tiếp xúc — Không Nhìn Nhau Lần Cuối: "Đừng nhìn nhau mắt hoe lệ nhòa... Đừng ôm đớn đau khi tình đã xa". Phủ định một động từ tiếp xúc vẫn là đặt tên nó ra trước đã.

3.2 — Động từ của Trịnh Công Sơn: ru, gọi, và bốn con số không

Ở phía đối diện, Trịnh Công Sơn có một nhóm động từ riêng mà hai người kia gần như không đụng tới. Những người viết về ca từ Trịnh Công Sơn — Lê Hữu là một — đã nhặt ra nhóm ấy từ lâu bằng lối đọc định tính: rơi, rớt, bay, trôi, về, gọi, ru, phơi, lùa. Đem đếm trên cả bốn kho thì danh sách ấy đứng vững một cách đáng nể:

LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
ru 0 / 0,00 18 / 1,31 14 / 2,29 163 / 4,18
gọi 0 / 0,00 9 / 0,66 11 / 1,80 84 / 2,16
ngủ 0 / 0,00 12 / 0,87 9 / 1,47 100 / 2,57
quê 0 / 0,00 35 / 2,55 15 / 2,45 157 / 4,03
rớt 0 / 0,00 1 / 0,07 1 / 0,16 13 / 0,33

Bốn con số không liền nhau ở cột Lê Uyên Phương là một trong những kết quả sạch nhất của cả bài. Trong trọn vẹn hai tập nhạc, hai mươi mốt bài, 3.963 âm tiết, Lê Uyên Phương không một lần viết chữ ru, chữ gọi, chữ ngủ, hay chữ quê. Bốn chữ ấy ở Trịnh Công Sơn cộng lại là 504 lần.

Bốn con số không ấy không rời rạc — chúng cùng chỉ về một hướng. Ru là dỗ người khác ngủ; ngủ là rời khỏi cảnh hiện tại; gọi là hướng tiếng nói tới một người không có mặt; quê là một nơi chốn tập thể có sẵn từ trước khi hai người gặp nhau. Cả bốn đều đòi hỏi một khoảng cách — về thời gian, về ý thức, hay về không gian. Thế giới Lê Uyên Phương không có khoảng cách ấy để mà đòi: hai người đang ở cùng một chỗ, đang thức, đang chạm vào nhau, và ngoài căn phòng ấy thì không có quê hương nào cả. Ngược lại, "Ta ru ta ngậm ngùi" — câu hát nổi tiếng nhất của động từ ru — là hình ảnh của một người không còn ai để nương nhờ nên phải tự dỗ mình; nó chỉ viết ra được trong một thế giới mà người kia đã đi khỏi.

Chữ gọi thì đặc biệt đáng để ý: nó là động từ hướng ra ngoài mà không có gì bảo đảm được đáp lại. "Gọi nắng... Gọi em cho nắng chết trên sông dài" (Hạ Trắng). Gọi nắng thì nắng nào trả lời? Một động từ như thế chỉ có nghĩa khi người hát chấp nhận trước rằng mình đang nói vào khoảng không. Đó là một tư thế tồn tại, không phải một hành vi giao tiếp — và nó giải thích vì sao thứ ngôn ngữ ấy bị gọi là "não tính" hơn hẳn bất cứ tính từ nào.

3.3 — Động từ biến cố: chỗ nhận xét quen thuộc nói đúng, và chỗ nói hụt

Người ta hay mô tả động từ Phạm Duy là động từ của biến cố — những chữ đánh dấu một điểm mốc trong một câu chuyện có đầu có cuối: cưới, trả lại, ra đi, hẹn hò, tiễn. Cột "PD tự viết" ủng hộ điều này, nhưng yếu hơn ta tưởng, và một phần đáng kể của những dẫn chứng vẫn được viện ra hoá ra lại nằm ở cột bên cạnh — cột phổ thơ. Chuyện ấy để dành cho Phần VIII, vì nó xứng đáng có riêng một phần.

Điều số liệu ủng hộ chắc chắn là chữ về: 185 lần ở phần lời tự viết, tức 13,49 trên 1.000 — cao hơn Trịnh Công Sơn (9,16) và gấp hơn ba lần Lê Uyên Phương (4,04). "Về" là động từ của một hành trình có điểm xuất phát và điểm đến, của người đi rồi trở lại; nó là động từ của người kể chuyện. Và chữ dìu — chính chữ Phạm Duy dùng trong Hồi Ký để định nghĩa nhạc cảm tính ("người nam, người nữ dìu nhau đi trên đường tình") — quả thật đậm nhất ở phần lời ông tự viết (9 lần, 0,66) so với Trịnh Công Sơn (0,15) và Lê Uyên Phương (0,25), còn ở 33 bài phổ thơ thì đúng 0 lần. Người ta có thể tự mô tả mình sai ở nhiều chỗ, nhưng ở chữ này thì Phạm Duy tả đúng, và tả trúng đến từng con số.

3.4 — Một nghịch lý: kho nhiều tiếp xúc nhất cũng là kho nhiều chữ "xa" nhất

Nếu Lê Uyên Phương là nhạc sĩ của sự gần gũi thân xác, ta chờ đợi kho của ông ít nói tới sự xa cách. Ngược lại hẳn:

LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
xa 48 / 12,11 88 / 6,41 28 / 4,57 211 / 5,41

Chữ xa ở Lê Uyên Phương dày gấp 2,2 lần Trịnh Công Sơn và gần gấp đôi Phạm Duy tự viết. Kho ngữ liệu ôm nhiều nhất, hôn nhiều nhất, cũng là kho nói "xa" nhiều nhất — và chênh lệch không nhỏ chút nào.

Đây không phải mâu thuẫn; đây là cấu trúc của chính thứ tình yêu ấy. Ở Lê Uyên Phương, tiếp xúc luôn được hát lên trong bóng của một cuộc chia ly đã biết trước, thường là ngay trong cùng một câu. Hãy Ngồi Xuống Đây xếp bốn mệnh lệnh liên tiếp cùng một khuôn — "Hãy ngồi xuống đây / Hôn nhau lần nầy / Hãy ngồi xuống đây / cho nhau lần nầy / Hãy ngồi xuống đây / Chia tay lần nầy" — hôn, cho, rồi chia tay, cả ba đều là "lần nầy", cả ba nằm trong một hơi thở. Dạ Khúc Cho Tình Nhân kết bằng "có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau chết bên nhau thật là hồn nhiên". Chính vì cuộc chia ly đã nằm sẵn trong câu mà sự đụng chạm mới gấp gáp đến thế. Cái Phạm Duy gọi là "tình điên" — chữ ông dùng ngay trước chữ "nhục tính" trong Hồi Ký — nằm ở chỗ đó, chứ không nằm ở riêng động từ nào.


Phần IV — Trục 2: danh từ thân thể, và cái bẫy của việc đếm danh từ

Đây là chỗ nhận xét quen thuộc sai rõ nhất, và là chỗ sửa lại thì được một luận điểm mạnh hơn hẳn cái sai.

Câu vẫn hay nghe là: Lê Uyên Phương gọi thẳng tên cơ thể, khác hẳn Trịnh Công Sơn — người được cho là né tránh chủ đề tiếp xúc bằng cách không nhắc tới nó, kể cả ở thể phủ định. Câu ấy sai. Và điều đáng chú ý là nó thường sai ngay trong chính những bài viết bênh vực nó: khó mà viết được ba đoạn về ca từ Trịnh Công Sơn mà không trích một câu như "Lá hát từ bàn tay thơm tho".

Đếm ra thì mức độ sai còn lớn hơn:

Danh từ thân thể LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
Cả nhóm 11 chữ 82 / 20,69 118 / 8,60 71 / 11,59 534 / 13,70
môi 24 / 6,06 19 / 1,39 7 / 1,14 96 / 2,46
tay 22 / 5,55 32 / 2,33 12 / 1,96 176 / 4,52
mắt 21 / 5,30 44 / 3,21 11 / 1,80 136 / 3,49
vai 10 / 2,52 11 / 0,80 4 / 0,65 46 / 1,18
tóc 4 / 1,01 34 / 2,48 32 / 5,22 51 / 1,31
da 4 / 1,01 4 / 0,29 1 / 0,16 59 / 1,51

Trịnh Công Sơn gọi tên thân thể nhiều hơn Phạm Duy, và nhiều hơn hẳn: 13,70 so với 8,60 ở phần lời Phạm Duy tự viết, tức gấp 1,6 lần. Riêng chữ da thì Trịnh Công Sơn dày gấp năm lần Phạm Duy. Con số này cũng khớp với các thống kê định lượng khác về ca từ Trịnh Công Sơn, vốn xếp trường nghĩa "cơ thể" vào hàng thứ tư trong các trường ngữ nghĩa lớn của ông, với gần 750 lượt trên toàn kho — và bảng chi tiết ở đó (tay 174, mắt 140, môi 92, tóc 51, vai 46) trùng gần như hoàn toàn với bảng trên. Nói Trịnh Công Sơn "không nhắc tới thân thể" là nói ngược với hai lần đếm độc lập.

Vậy thì cái gì thật sự khác? Không phải danh từ. Là chữ đứng trước danh từ ấy.

Tôi lấy ba danh từ thân thể có mặt ở cả bốn kho và đếm xem chữ nào hay đứng ngay trước chúng:

Chữ đứng trước môi LUP PD tự viết TCS
Số lần chữ môi xuất hiện 24 19 96
…đứng sau một giới từ nơi chốn (trên, bờ, trong…) 3 (12,5%) 3 (15,8%) 28 (29,2%)
Riêng cụm "trên môi" 2 4 25

Hai mươi lăm lần "trên môi" — đó là cách Trịnh Công Sơn dùng đôi môi: không phải để hôn, mà làm một cái nơi chốn, một mặt phẳng để cái khác đậu lên (nụ cười trên môi, câu hát trên môi). Ở chữ vai thì khoảng cách còn dứt khoát hơn: 28,3% số lần chữ vai của Trịnh Công Sơn đứng ngay sau một giới từ nơi chốn ("trên vai em gầy" — Hạ Trắng), so với đúng 0% ở Lê Uyên Phương. Ở Lê Uyên Phương, chữ đứng trước môi hay là chữ chỉ màu sắc và dáng vẻ (màu môi, nét môi, vành môi), còn chữ đứng trước tay thì 72,7% là loại từ sở hữu (bàn tay, đôi tay, vòng tay) — thân thể như một vật được cầm nắm, chứ không phải một địa điểm.

Cho nên câu đúng phải là thế này: cả ba nhạc sĩ đều gọi tên thân thể; điều phân biệt họ là ngữ pháp cai quản cái tên ấy. Lê Uyên Phương đặt một động từ tiếp xúc trước nó. Trịnh Công Sơn đặt một giới từ nơi chốn trước nó. Phạm Duy — sẽ thấy ở Phần VIII — đặt một danh từ riêng bên cạnh nó.

Một cách gọn hơn để thấy điều đó là lấy tỷ số giữa hai nhóm: cứ mỗi lần gọi tên một bộ phận thân thể thì có bao nhiêu lần một động từ tiếp xúc được dùng?

Tỷ số tiếp xúc / thân thể LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
0,268 0,356 0,197 0,125

Trịnh Công Sơn thấp nhất, chỉ bằng một phần ba phần lời Phạm Duy tự viết và chưa tới một nửa Lê Uyên Phương. Ông là người gọi tên thân thể nhiều thứ nhì trong bốn kho nhưng chạm vào nó ít nhất. Đó mới là "não tính" đọc ở tầng ngữ pháp: không phải một người tránh né thân xác, mà là một người luôn giữ thân xác ở một khoảng cách cú pháp — nhìn thấy nó, đặt tên nó, dựng cảnh quanh nó, nhưng hiếm khi để chủ ngữ của câu đưa tay ra.

(Cần thành thật một điều: tỷ số này xếp phần lời Phạm Duy tự viết cao nhất, cao hơn cả Lê Uyên Phương. Lý do là mẫu số của Phạm Duy nhỏ — ông gọi tên thân thể ít nhất trong bốn kho — chứ không phải vì ông chạm nhiều hơn; xét con số tuyệt đối thì Lê Uyên Phương vẫn dẫn đầu cả hai nhóm. Tỷ số này nói được một điều duy nhất thật vững, và tôi chỉ dùng nó cho điều ấy: Trịnh Công Sơn đứng cuối, cách biệt rõ rệt.)


Phần V — Trục 3: tính từ, và một câu trích rất hay bị đặt nhầm chỗ

Nếu động từ là hành động thì tính từ là cách mỗi người nhìn người mình yêu. Ba lối vẫn được mô tả là: Trịnh Công Sơn mượn thời tiết, Lê Uyên Phương dùng cường độ cơ thể, Phạm Duy dùng tính từ phẩm hạnh xã hội. Hai lối đầu đứng vững. Lối thứ ba phải sửa.

Về Trịnh Công Sơn, quan sát cũ vẫn đúng và có thể nói chặt hơn: ông hiếm khi để một tính từ đứng riêng mô tả người yêu; ông mô tả thời tiết rồi để thời tiết đứng thế chỗ. "Nắng có hồng bằng đôi môi em / Mưa có buồn bằng đôi mắt em" (Như Cánh Vạc Bay) — hai tính từ trong câu đều gán cho nắng và mưa, không gán cho em; vẻ đẹp của "em" chỉ tồn tại được qua phép so sánh, chưa từng đứng một mình. Và khi có một tính từ trực tiếp thật — "Vai em gầy guộc nhỏ" — thì câu ngay sau lập tức biến nó thành một hình ảnh chim bay: "Như cánh vạc về chốn xa xôi". Đây cũng là chỗ các nhà phê bình đi trước đã dừng lại: Lê Hữu gọi cái đẹp trong nhạc Trịnh là cái đẹp "mỏng manh, dễ vỡ", "gầy guộc quá, xanh xao quá"; Bùi Vĩnh Phúc thì nói chính ngôn ngữ đã tạo ra một thế giới "nhòe nhạt, lung linh hư ảo". Số liệu ở Phần IV cho hai nhận xét ấy một cơ chế cú pháp cụ thể: cái đẹp ấy nhoè vì nó không bao giờ được phép đứng yên trên một thân thể.

Lê Uyên Phương thì dùng tính từ cường độ, bám thẳng vào cảm giác cơ thể, không đi vòng qua thiên nhiên: nồng (hôn nồng), say (gối đắm say), sâu (ân tình sâu), thiết tha, đắm đuối. Đếm cả kho thì điều này hiện ra ở mức toàn cục — ân (4,79 trên 1.000, so với 0,10 ở Trịnh Công Sơn), thiết (3,03 so với 0,18), tha (3,28 so với 0,13), đớn (1,51 so với 0,03) đều là những chữ mà Lê Uyên Phương dùng dày hơn ba kho kia hàng chục lần. Đây là nơi cái nhãn "nhục tính" lộ rõ nhất ở tầng từ loại: tính từ không đi qua một vật trung gian nào, nó dính thẳng vào động từ tiếp xúc đã nói ở Phần III.

Còn Phạm Duy thì phải sửa. Dẫn chứng kinh điển cho "tính từ phẩm hạnh" của Phạm Duy là ba chữ: hiền hoà, ngây thơ, thân yêu. Chữ thứ nhất thường được dẫn qua câu "Nhớ xưa em hiền hoà" — một câu có thật, hát trong một bài mang tên Phạm Duy. Nhưng nó nằm trong Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, tức là thơ Hữu Loan. Chữ ấy không phải chữ của Phạm Duy.

Đó không phải một lỗi chú thích lặt vặt. Nó là trường hợp thu nhỏ của đúng cái vấn đề mà Phần VIII dưới đây sẽ mở ra: khi dựng chân dung "giọng Phạm Duy" từ một tuyển tập mà một phần ba là thơ người khác, rất dễ lấy nhầm chữ của Hữu Loan làm chữ ký của Phạm Duy — và càng dễ nhầm hơn nữa khi bài phổ thơ ấy lại chính là bài nổi tiếng nhất.

Điều quan sát đúng, và số liệu ủng hộ, là Phạm Duy vẫn có tính từ giác quan cụ thể không kém ai — "Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt" (Trả Lại Em Yêu) — nhưng những câu ấy luôn xuất hiện xen giữa một chuỗi địa danh và biến cố, chưa bao giờ chiếm trọn một câu như cách Lê Uyên Phương để cho "ướp hôn nồng bên gối đắm say" chiếm cả một dòng nhạc.


Phần VI — Trục 4: ngôi kể, chỗ số liệu dứt khoát nhất

Đây là trục mà đếm đại từ cho kết quả gọn và mạnh nhất trong cả bài.

Đại từ LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
tôi 7 / 1,77 150 / 10,93 50 / 8,16 527 / 13,52
ta 13 / 3,28 77 / 5,61 41 / 6,69 332 / 8,52
anh 24 / 6,06 68 / 4,96 91 / 14,86 119 / 3,05
em 81 / 20,44 178 / 12,98 230 / 37,55 762 / 19,55
nàng 0 / 0,00 10 / 0,73 13 / 2,12 2 / 0,05
chàng 0 / 0,00 17 / 1,24 33 / 5,39 1 / 0,03

Ba điều đọc ra ngay.

Thứ nhất, ba kho gọi "em" gần như bằng nhau. Lê Uyên Phương 20,44; Trịnh Công Sơn 19,55; Phạm Duy tự viết 12,98. Hai người đầu chênh nhau chưa tới 5%. Cái phân biệt ba nhạc sĩ không phải là họ hát về ai — tất cả đều hát về "em" — mà là ai đang đứng ở đầu bên này của câu hát.

Thứ hai, và đây mới là chỗ dứt khoát: Lê Uyên Phương gần như không có chữ "tôi". 1,77 trên 1.000, so với 13,52 ở Trịnh Công Sơn — chênh 7,6 lần. Đổi lại, ông là người dùng "anh" đậm nhất trong ba giọng tự viết (6,06 so với 3,05 của Trịnh Công Sơn). "Tôi" là đại từ của một người đang tự thuật, có thể tự thuật cho bất kỳ ai nghe. "Anh" là đại từ chỉ tồn tại khi có một "em" đang nghe ngay trước mặt: nó là nửa kia của một cặp. Toàn bộ ngữ pháp của Lê Uyên Phương là ngữ pháp của hai người đang nói chuyện với nhau, và con số xác nhận điều mà lối gọi trực tiếp trong lời ca đã cho thấy — "Em ơi Em ơi", điệp hai lần liền trong Không Nhìn Nhau Lần Cuối; "Cho em... Cho em..." làm khung cả đoạn trong Tình Khúc Cho Em.

Trịnh Công Sơn thì ngược hẳn: "tôi" 527 lần cộng "ta" 332 lần, đối diện với một "em" thường xuyên vắng mặt. Cấu trúc quen thuộc nhất của ông là câu hỏi hướng về một người không trả lời — "Làm sao em biết bia đá không đau" (Diễm Xưa) — hỏi mà không chờ đáp. Ngay trong Hạ Trắng, câu duy nhất có đủ cả hai người đứng cạnh nhau, "Tôi đưa em về", cũng bị bao quanh bởi những câu chỉ có "em" chịu tác động của thời tiết.

Thứ ba, hai chữ nàngchàng là dấu vân tay sạch nhất trong toàn bộ bài này. Cả hai bằng 0 ở Lê Uyên Phương và gần bằng 0 ở Trịnh Công Sơn (3 lần trên 38.970 âm tiết). Ở kho Phạm Duy thì chúng có mặt rõ rệt. Nàngchàng là đại từ ngôi thứ ba — chúng chỉ xuất hiện khi người hát không phải là người trong cuộc, mà là người đứng ngoài kể lại chuyện tình của kẻ khác. Đó chính xác là cái "tôi kể chuyện" mà ai cũng nghe ra trong nhạc Phạm Duy: "Nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi... Ngày hợp hôn tôi mặc đồ hành quân... Cưới vừa xong là tôi đi."

Chỉ có điều — và đây là chỗ dẫn thẳng sang phần sau — bốn câu vừa dẫn ấy là thơ Hữu Loan. Và nhìn lại bảng trên thì thấy cả nàng lẫn chàng đều đậm hơn hẳn ở cột phổ thơ so với cột tự viết: chàng 5,39 so với 1,24, tức gấp 4,3 lần.


Phần VII — Chữ "nhau": Phạm Duy tự đặt bẫy cho chính mình

Giờ quay lại lời tự khai ở Phần I. Phạm Duy nói nhạc tình của ông thuộc loại cảm tính, và dấu hiệu là các bài của ông "tất cả nhấn mạnh vào chữ ''nhau''".

Đếm chữ ấy:

LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
nhau 43 / 10,85 113 / 8,24 33 / 5,39 124 / 3,18

Phạm Duy đúng một nửa, và sai một nửa — sai đúng nửa quan trọng.

Ông đúng ở chỗ chữ "nhau" quả thật phân biệt ông rất mạnh với Trịnh Công Sơn: 8,24 so với 3,18, tức dày gấp 2,6 lần. Nếu chỉ so hai người ấy — mà trong Hồi Ký thì ông đang so đúng hai người ấy, đặt "cảm tính" của mình trước "não tính" của họ Trịnh — thì lời tự mô tả của ông trúng.

Nhưng ông sai ở chỗ: Lê Uyên Phương dùng chữ "nhau" nhiều hơn ông. 10,85 so với 8,24, tức dày hơn 32%. Cái chữ Phạm Duy tự chọn làm chữ ký cho loại nhạc "cảm tính" của mình lại là chữ đặc trưng hơn nữa cho loại nhạc mà chính ông dán nhãn "nhục tính". Ông dựng một cái thước để tự đo mình, rồi trao cái thước ấy cho người khác thì người ấy đo cao hơn.

Chỗ này nếu dừng lại thì mới chỉ là một sự lật ngược thú vị. Đi thêm một bước nữa thì nó thành ra điều đáng giá nhất của cả bài. Vì chữ "nhau" ở hai kho ấy không làm cùng một việc. Đếm động từ đứng ngay trước nó:

Kho Những chữ hay đứng trước nhau nhất
Lê Uyên Phương cho (9), bên (5), yêu (4), vào (3), nhìn (3), xa (3), gần (2), hôn (2)
Phạm Duy tự viết tìm (14), xa (10), yêu (10), gặp (9), dìu (7), đưa (5), quên (4)
Trịnh Công Sơn yêu (10), bên (9), với (8), hôn (7), cho (7), gặp (7), thương (6)

Hai danh sách đầu gần như không giao nhau ở đỉnh. Chữ đứng đầu bảng của Lê Uyên Phương là "cho nhau" — một hành vi trao tặng, xảy ra ngay lúc hát, giữa hai người đang có mặt: "Lần này đây đã hết cho nhau thôi", "Hãy ngồi xuống đây cho nhau lần nầy". Đứng thứ nhì là "bên nhau" — một trạng thái, không phải một sự kiện.

Chữ đứng đầu bảng của Phạm Duy là "tìm nhau", rồi "xa nhau", rồi "gặp nhau". Cả ba đều là những mốc trong một cốt truyện: đi tìm, gặp được, rồi lìa xa. Cộng thêm "dìu nhau" — đúng chữ ông tự dùng để định nghĩa mình. Không một chữ nào trong nhóm ấy mô tả điều gì đang xảy ra tại chỗ; tất cả đều định vị hai người trên một trục thời gian có trước có sau.

Vậy nên câu trả lời đầy đủ là: cả hai người đều viết nhạc của chữ "nhau", nhưng "nhau" của Lê Uyên Phương là trạng từ của hiện tại, còn "nhau" của Phạm Duy là mốc thời gian của một câu chuyện. Đây đúng là cùng một cơ chế đã thấy ở Phần IV với danh từ thân thể: chữ thì chung, kẻ cai quản chữ ấy mới là vân tay. Lần này thì cơ chế ấy áp đúng vào chữ mà chính Phạm Duy đã chỉ tay vào và nói: đây, chữ này là tôi.

Và nó cho cái nhãn "cảm tính" một nội dung cụ thể hơn hẳn cái nghĩa từ điển của sentimental. Nhạc tình cảm tính, theo đúng định nghĩa Phạm Duy tự viết trong Hồi Ký, là loại nhạc mà "đôi lứa yêu nhau không còn cần đến bối cảnh chung quanh nữa... chỉ có anh với em mà thôi". Nhưng số liệu nói ngược: kho lời tự viết của ông đầy bối cảnh chung quanh — chữ quê 35 lần, chữ về 185 lần, và như sẽ thấy ngay dưới đây, cả một trường từ vựng làng mạc mà hai người kia không có lấy một chữ. Người thật sự viết ra thứ nhạc "chỉ có anh với em mà thôi", không cần bối cảnh nào hết, không quê hương, không tiếng gọi, không lời ru — là Lê Uyên Phương.


Phần VIII — Khi Phạm Duy không phải là "Phạm Duy"

Đây là phần mà việc tách kho làm đôi ở Phần II trả công.

Nhận xét định tính vẫn nghe được là: ở các bài phổ thơ, vân tay Phạm Duy mờ đi, ngả gần về phía giọng trôi và mượn-thiên-nhiên của Trịnh Công Sơn. Đếm ra thì đúng, và đúng ở đúng những chữ ta chờ đợi:

PD tự viết PD phổ thơ Tỷ lệ
ru 18 / 1,31 14 / 2,29 ×1,7
gọi 9 / 0,66 11 / 1,80 ×2,7
ngủ 12 / 0,87 9 / 1,47 ×1,7
tóc 34 / 2,48 32 / 5,22 ×2,1

Khi Phạm Duy hát lời người khác, tần suất các chữ ru, gọi, ngủ, tóc của ông tăng gần gấp đôi tới gần gấp ba, đúng về phía kho từ vựng Trịnh Công Sơn. Câu "Hoa xanh đã phai rồi" trong Kiếp Nào Có Yêu Nhau — thơ Minh Đức Hoài Trinh — nghe gần Trịnh Công Sơn hơn là gần "trả lại", "ra đi" của chính Phạm Duy, và bây giờ thì nhận xét ấy có số đỡ lưng.

Nhưng chỗ đáng nói không phải đó. Chỗ đáng nói là chiều ngược lại.

Chân dung phổ biến nhất về ca từ Phạm Duy — cái chân dung có mặt trong phần lớn những gì được viết về ông — là: người kể chuyện đứng ngoài, thuật lại biến cố có mốc thời gian, với chàng, với nàng, với đám cưới và cuộc tiễn đưa. Dẫn chứng kinh điển cho chân dung ấy là những chữ cưới, khâu, viền tà, hiền hoà, và hình ảnh "chiếc bình hoa ngày cưới đã thành chiếc bình hương".

Đối chiếu lại văn bản: toàn bộ những chữ ấy đều nằm trong Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, thơ Hữu Loan.

Và đếm cả kho thì thấy đó không phải chuyện trùng hợp của riêng một bài:

PD tự viết PD phổ thơ Tỷ lệ
cưới 2 / 0,15 6 / 0,98 ×6,5
chàng 17 / 1,24 33 / 5,39 ×4,3
nàng 10 / 0,73 13 / 2,12 ×2,9
tiễn 3 / 0,22 6 / 0,98 ×4,5

Bốn dấu hiệu, bốn lần đậm hơn ở phần phổ thơ. Nghĩa là chân dung "Phạm Duy người kể chuyện với chàng với nàng với đám cưới" được dựng chủ yếu từ chữ của các nhà thơ ông phổ nhạc, không phải từ chữ của ông. Càng gọi là "vân tay Phạm Duy" thì nó càng là vân tay Hữu Loan, Cung Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư.

Điều này không hạ thấp Phạm Duy chút nào — chọn được bài thơ ấy, và tìm ra được dòng nhạc cho nó, là một tài năng riêng, có lẽ là tài năng lớn nhất của ông. Nhưng nó là một tài năng khác với việc viết ra những chữ ấy. Và khi ta lẫn hai thứ, ta mô tả sai người mình đang khen.

Thế thì cái gì mới thật là của ông? Xếp hạng những chữ mà riêng 67 bài lời tự viết dùng đậm hơn hẳn cả ba kho kia gộp lại, câu trả lời khá bất ngờ. Những chữ đặc trưng nhất không phải chữ tình yêu nào cả, mà là: gánh (52 lần), thóc (14), trâu (9), lũy (5), cầy (5), rước (5), trèo (4), ới (17, trong các tiếng gọi đò và điệu hò). Không một chữ nào trong nhóm ấy xuất hiện dù chỉ một lần ở Lê Uyên Phương hay Trịnh Công Sơn.

Đó là trường từ vựng của làng quê và công việc đồng áng — của người gánh lúa, người qua đò, người hò trên ruộng. Ngay trong một tuyển tập mang tên 100 Tình Khúc, khi Phạm Duy tự cầm bút, thứ len vào lời ông không phải thân thể người yêu mà là cái đòn gánh, con trâu, luỹ tre. Và một lần nữa, chính ông đã nói trước điều đó — ngay sau khi tự xếp mình vào loại "cảm tính" trong đoạn Hồi Ký dẫn ở Phần I, ông kể tiếp về "xu hướng nhạc dân ca với những bài hát tình tự dân tộc, tình ca quê hương thì có tôi chủ trương".

Vậy nếu phải đặt một cái nhãn cho Phạm Duy bằng đúng phương pháp ông dùng cho hai người kia, thì "cảm tính" là cái nhãn ông tự chọn, nhưng cái mà kho ngữ liệu chỉ ra lại là một thứ khác và rộng hơn: giọng của người kể chuyện cộng đồng — người mà ngay khi viết tình ca vẫn mang theo cả một cái làng. "Trả lại em yêu, khung trời Đại Học / Con đường Duy Tân cây dài bóng mát" là cùng một phản xạ ấy chuyển vào thành phố: tình yêu được kể qua những địa điểm có tên riêng mà cả một thế hệ cùng biết. Không phải ngẫu nhiên mà Trả Lại Em Yêu trả lại từng món một — khung trời, con đường, ngôi trường — như một bản kiểm kê tài sản chung trước khi chia tay.


Phần IX — "Nầy": chữ của người chỉ tay vào hiện tại

Còn một phát hiện nhỏ mà tôi giữ lại cuối cùng, vì nó khép bốn trục lại thành một mối.

Khi xếp hạng các chữ mà Lê Uyên Phương dùng đậm hơn hẳn ba kho kia, chữ đứng đầu bảng không phải một chữ về thân thể hay tình yêu. Nó là "nầy" — 21 lần trong 3.963 âm tiết, so với đúng 0 lần ở cả hai kho Phạm Duy và 2 lần trong 38.970 âm tiết của Trịnh Công Sơn.

Phải cẩn thận ở đây, vì "nầy" là lối viết Nam Bộ của "này", nên một phần chênh lệch chỉ là chính tả của bản in chứ không phải lựa chọn từ vựng. Gộp cả hai lối viết lại cho công bằng:

LUP PD tự viết PD phổ thơ TCS
nầy + này 30 / 7,57 14 / 1,02 16 / 2,61 126 / 3,23

Sau khi gộp, chênh lệch vẫn còn nguyên: Lê Uyên Phương dùng chỉ định từ ấy dày gấp 2,3 lần Trịnh Công Sơn và gấp 7,4 lần phần lời Phạm Duy tự viết.

"Nầy" là một chỉ định từ trỏ vào hiện tại: cái này, ở đây, lúc này, không phải cái kia. Nó là chữ của người đang chỉ tay. Và nhìn lại thì nó xuất hiện đúng ở những câu căng nhất của kho ấy: "Hãy ngồi xuống đây / Hôn nhau lần nầy", "cho da thịt nầy đốt cháy thương đau", "cho cơn buồn nầy rót nóng tung hoang".

Chữ nhỏ ấy khép lại mọi thứ đã đếm ở trên. Một kho ngữ liệu không có chữ ru, không có chữ gọi, không có chữ ngủ, không có chữ quê, gần như không có chữ tôi, không có chàngnàng — nhưng dày đặc ôm, hôn, môi, da thịt, cho nhau, và nầy. Trừ ra tất cả những gì đòi hỏi một khoảng cách — khoảng cách của giấc ngủ, của tiếng gọi vọng đi, của quê hương, của ngôi thứ ba, của lời tự thuật — thì còn lại đúng một thứ: hai người, ở đây, bây giờ, đang chạm vào nhau và biết là sắp mất nhau. Cái nhãn "nhục tính" gọi được một nửa chuyện ấy. Nửa còn lại, chữ xa dày nhất trong bốn kho (12,11) đã nói ở Phần III.


Phần X — Bài test mù: mười hai câu

Che tên tác giả đi và đọc động từ trước, chỉ định từ và đại từ sau. Bốn câu cuối là những câu cố ý gài, lấy từ phần phổ thơ của Phạm Duy — chỗ mà theo Phần VIII, vân tay bị pha loãng nhất.

  1. "Gọi nắng… Gọi em cho nắng / Chết trên sông dài."
  2. "Trả lại em yêu, khung trời Đại Học / Con đường Duy Tân cây dài bóng mát."
  3. "Cho em môi hôn vội vàng / Cho em quên ân tình sâu."
  4. "Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ / Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ."
  5. "Em ơi Em ơi quay đi để cho chia lìa."
  6. "Anh sẽ ra đi về miền cát trắng / Nơi có quê hương mịt mù thuốc súng."
  7. "Vai kề sát vai cho da thịt nầy đốt cháy thương đau."
  8. "Nắng có hồng bằng đôi môi em / Mưa có buồn bằng đôi mắt em."
  9. "Ta ru ta ngậm ngùi."
  10. "Nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi."
  11. "Nhớ xưa em hiền hoà / Áo anh em viền tà."
  12. "Hoa xanh đã phai rồi / Hương trinh đã tan rồi."

Đáp án. 1, 4, 8, 9 — Trịnh Công Sơn (Hạ Trắng, Diễm Xưa, Như Cánh Vạc Bay, Ru Ta Ngậm Ngùi). 2, 6 — Phạm Duy, lời tự viết (Trả Lại Em Yêu). 3, 5, 7 — Lê Uyên Phương (Tình Khúc Cho Em, Không Nhìn Nhau Lần Cuối, Hãy Ngồi Xuống Đây). 10, 11 — Phạm Duy phổ thơ Hữu Loan (Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà). 12 — Phạm Duy phổ thơ Minh Đức Hoài Trinh (Kiếp Nào Có Yêu Nhau).

Bốn câu cuối là phần đáng đọc lại. Câu 10 và 11 nghe "rất Phạm Duy" — có nàng, có đám cưới, có tính từ phẩm hạnh hiền hoà — nhưng theo bảng ở Phần VIII thì đó chính là những chỗ vân tay Phạm Duy yếu nhất, vì cả bốn dấu hiệu ấy đều đậm hơn ở phần phổ thơ so với phần ông tự viết. Còn câu 12 thì nghe gần Trịnh Công Sơn hơn — hoa cỏ tàn phai, động từ phaitan — dù nó nằm trong một bài mang tên Phạm Duy.

Nói cách khác, nếu bạn đoán câu 10 và 11 là Phạm Duy thì bạn đoán trúng tên bìa nhạc mà trật tên người viết chữ. Đó là bài học thật của trò chơi này: cái tai người nghe đã học được, suốt mấy chục năm nay, là nhận ra Phạm Duy phổ thơ — thứ chiếm một phần ba tuyển tập và gồm phần lớn những bài nổi tiếng nhất — rồi gọi đó là "giọng Phạm Duy".


Phần XI — Những chỗ bài này không đứng vững, nói thẳng ra

Một bài đầy số thì càng phải nói rõ số của mình yếu ở đâu.

Kho không đối xứng, và không sửa được. Trịnh Công Sơn có 239 bài trên gần trọn sự nghiệp. Phạm Duy chỉ có 100 bài của một tuyển tập do người khác chọn, trên tổng số hơn một nghìn bài ông viết — nên mọi kết luận về Phạm Duy trong bài này chỉ đúng "trong phạm vi 100 Tình Khúc", không được suy rộng ra "Phạm Duy nói chung". Lê Uyên Phương có 21 bài, tức hai tập nhạc đã in, nhưng chỉ khoảng một phần ba số ca khúc ông thật sự viết. Bốn con số không ở Phần III (ru, gọi, ngủ, quê) là bốn con số không của hai tập nhạc ấy, không phải của con người Lê Uyên Phương; chỉ cần một bài chưa được đưa vào kho mà có chữ "gọi" là con số ấy thôi bằng không, dù tỷ lệ thì khó đổi nhiều.

Đếm âm tiết, không đếm từ. Tiếng Việt viết rời từng âm tiết, nên máy đếm "tay" sẽ bắt cả "tay" trong "bàn tay" lẫn "tay" trong "tay lái", và đếm "xa" sẽ gộp cả "xa" của xa cách lẫn "xa" trong "xa hoa". Tôi đã kiểm tay những chỗ có nguy cơ nhất — riêng chữ hôn phải lọc bỏ khôn, thôn, chôn, hoàng hôn mới còn lại 23 lần nghĩa "hôn" thật ở Trịnh Công Sơn, từ con số thô 344 — nhưng không thể kiểm hết mọi chữ. Với những chữ mà bài này dựa vào nhiều nhất (nhau, ru, gọi, ôm, nầy, chàng, nàng) thì nguy cơ đồng âm gần như bằng không, nên các luận điểm chính không bị đe doạ; với những chữ phụ như về, qua, xa thì con số nên đọc như một chỉ dấu, không như một phép đo.

Lời ca Lê Uyên Phương đi qua một khâu trung gian. Hai tập nhạc của ông chưa có bản lời ca đánh máy đáng tin nào lưu hành rộng, nên kho này phải rút ra từ bản ký âm từng nhịp một — tức là ranh giới câu đôi khi bị cắt giữa chừng. Ảnh hưởng của nhiễu ấy nằm ở các chữ tần suất thấp (những chữ xuất hiện một hai lần), không ở các con số hàng chục mà bài này dựa vào.

Cái nhãn "nhục tính" vốn không chỉ nói về chữ. Như đã dẫn ở Phần I, Phạm Duy gán nhãn ấy một phần vì "lối diễn tả rất khêu gợi" trên sân khấu của đôi Lê Uyên và Phương. Bài này đếm được chữ và thấy chữ ủng hộ cái nhãn ấy; nhưng nếu chữ có không ủng hộ, cái nhãn vẫn có thể đúng ở phần mà chữ không với tới được.

Và một chỗ chưa làm. Bốn trục ở đây mới đo bằng tần suất từ đơn và từ đứng liền trước. Chưa đo được cú pháp thật — ai là chủ ngữ của động từ nào, câu hỏi tu từ chiếm bao nhiêu phần trăm, mệnh lệnh thức nhiều ít ra sao. Đó là bước kế tiếp tự nhiên, và có lẽ là một bài riêng.


Kết: cái thước quay lại đo người cầm thước

Bốn trục vẫn còn nguyên sau khi đếm, nhưng cả bốn đều đổi hình.

Trục động từ mạnh lên: nhóm tiếp xúc của Lê Uyên Phương dày gấp hơn ba lần Trịnh Công Sơn, và bốn con số không của ông (ru, gọi, ngủ, quê) là bằng chứng sạch hơn bất cứ câu trích nào. Trục danh từ thì phải lộn ngược: không ai né tránh thân thể cả — Trịnh Công Sơn còn gọi tên nó nhiều hơn Phạm Duy — cái phân biệt ba người là thứ ngữ pháp cai quản cái tên ấy: động từ tiếp xúc ở Lê Uyên Phương, giới từ nơi chốn ở Trịnh Công Sơn ("trên môi", 25 lần), danh từ riêng ở Phạm Duy. Trục tính từ phải bỏ đi một dẫn chứng kinh điển vì nó vốn là chữ của Hữu Loan. Còn trục ngôi kể thì cho hai chữ chàngnàng — bằng 0 ở hai kho, có mặt rõ ở kho thứ ba — làm dấu vân tay sạch nhất của cả bài.

Nhưng điều đáng nhớ nhất không nằm ở trục nào trong bốn trục. Nó nằm ở chỗ Phạm Duy, người duy nhất trong ba người đã tự tay dựng nên cả cái khung phân loại này, cũng là người mà cái khung ấy đo trật nhất.

Ông tự xếp mình vào "cảm tính" và nói dấu hiệu là chữ "nhau" — nhưng người dùng chữ "nhau" đậm nhất lại là Lê Uyên Phương, kẻ ông dán nhãn "nhục tính". Ông định nghĩa nhạc cảm tính là thứ nhạc "không còn cần đến bối cảnh chung quanh nữa, chỉ có anh với em mà thôi" — nhưng chính lời ông tự viết thì đầy quê, đầy đò, đầy gánh thóc và luỹ tre, còn người thật sự viết ra thứ nhạc chỉ có hai người và không có gì khác lại là Lê Uyên Phương. Và cái chân dung "Phạm Duy kể chuyện, với chàng với nàng với đám cưới" mà đời sau vẫn nhắc, thì hoá ra phần lớn được dựng bằng chữ của Hữu Loan và những nhà thơ ông phổ nhạc.

Không có gì mỉa mai trong chuyện đó, và cũng chẳng phải Phạm Duy nói dối. Một nghệ sĩ mô tả chính mình bằng thứ mình có ý định làm, còn kho ngữ liệu ghi lại thứ tay ông thật sự viết ra trong hai mươi năm; hai thứ ấy không có lý do gì phải trùng nhau. Cái đáng quý là ông đã để lại một cái thước đủ cụ thể — bốn cái nhãn, kèm một chữ làm dấu hiệu — để người đời sau có thể cầm lấy mà đo, kể cả đo lại chính ông. Rất ít người viết nhạc để lại một công cụ như vậy.

Còn về trò chơi mở radio giữa chừng: nó vẫn chơi được, và giờ thì biết là mình đang nghe gì. Nghe hai câu mà thấy một động từ chạm vào da thịt kèm chữ "nầy", đó là Lê Uyên Phương. Thấy một bộ phận thân thể nằm sau chữ "trên", đó là Trịnh Công Sơn. Thấy một cái tên riêng — một con đường, một ngôi trường, một bến đò — đứng ngay cạnh người yêu, đó là Phạm Duy đang tự cầm bút. Còn nếu nghe thấy "nàng", thì hãy chờ một nhịp trước khi đoán: rất có thể người vừa viết câu ấy tên là Hữu Loan.