Showing posts with label Nguyễn Đình Toàn. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Đình Toàn. Show all posts

3.22.2026

PHẠM TRỌNG

Nguyễn Ðình Toàn

Phạm Trọng sáng tác khá nhiều. Nhưng thính giả vẫn nhớ đến ông nhiều nhất qua hai ca khúc Mùa Thu Không Trở Lại và Trường Làng Tôi.

Những người đã viết về ông không ai cho biết rõ ca khúc nào trong hai ca khúc đó, đã được Phạm Trọng viết trước.

Nghe, không đoán ra được.

Có điều chắc chắn Mùa Thu Không Trở Lại đã dược Phạm Trọng sáng tác tại Pháp.

Sinh viên Việt Nam cùng thời với Phạm Trọng nói rằng họ đều biết hoặc thuộc Mùa Thu Không Trở Lại.

Ca khúc này của Phạm Trọng, cùng với thơ Nguyên Sa, thơ Cung Trầm Tưởng, đã làm cho những ngọn đèn của ga Lyon, sương mù sông Seine, công viên Luxembourg trở thành gần gụi hơn đối với các thính giả Việt Nam, nhất là các thính giả trẻ, vào cái thời còn ít người được đi xa :

Ngày em đi

Nghe chơi vơi não nề

Qua vườn Luxembourg

Sương rơi che phố mờ

Buồn này ai có mua

Từ chia ly

Nghe rơi bao lá vàng

Ngập dòng nước sông Seine

Mưa rơi trên phím đàn

Chừng nào cho tôi quên

Hôm... em ra đi mùa thu

Mùa thu không trở lại

Sự gần gụi, cái chất thơ mộng, lãng mạn, người ta cảm nhận được khi đọc thơ, nghe nhạc, sự thật cũng chỉ có trong tưởng tượng.

Bài hát người ta thực sự chia xẻ xúc động với Phạm Trọng là bài Trường Làng Tôi .

Trong văn, thơ của chúng ta, nhạc của chúng ta, hình ảnh của ngôi trường cũ, được nhắc tới rất nhiều.

Những kỷ niệm “hoang mang” của ngày khai trường Thanh Tịnh kể lại, rất nhiều người còn nhớ.

“Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường” (Nguyên Sa).

“Tôi yêu thầy tôi lắm, nhớ tiếng nói vang vang” (Phạm Duy)

Hình như tình cảm sâu đậm nhất người ta thường dành cho các trường ốc trong đời mình là ngôi trường tiểu học.

Có phải vì đó là mối tình sớm hơn mối tình đầu?

Thắm thiết vậy nhưng đó vẫn chỉ là những “mảnh tình” người ta dành cho ngôi trường cũ.

Trong nhạc của chúng ta chỉ có hai (?)ca khúc các tác giả đã dành trọn tác phẩm để nói về ngôi trường thời thơ ấu của mình.

Bài thứ nhất đã có từ lâu lắm, có tên là “Trường Xưa” thì phải, tác giả là ai, kẻ viết bài này, cho đến nay cũng chưa biết, nhưng còn nhớ được lời ca như sau :

Bao tháng ngày xa vắng trôi

Còn đây nếp trường xưa

Xa vắng càng thiết tha mong

bên mấy khung song thưa

Say ngắm từng gian lớp xinh

Lòng xao xuyến tình thơ

Bao tình thơ ngây những lúc vui chơi

Cùng ngồi quanh bóng mát cùng reo cười

Cây xoài xưa kia lá tốt xanh tươi

Chạnh lòng ai nhớ tiếc khó nguôi

Trông khắp trường thấy khác xưa

Từ hiên trước tường sau

Nhưng bóng hình sáng tươi xưa trong trí đây in sâu

Ngao ngán thời vui sướng qua ngày nay biết tìm đâu

Bài thứ hai là Trường Làng Tôi của Phạm Trọng. Sau này, các ca khúc của Phạm Trọng có nhiều cái xa, cái lạ, cái hay khác. Nhưng Trường Làng Tôi của ông với giai điệu hồn nhiên, ca từ mộc mạc, đằm thắm, dường phản ánh nguyên vẹn bầu trời ấu thơ trong sáng, đầy kỷ niệm, mỗi người đều cùng như ông, nuôi giữ trong lòng.

Khi cái kho tàng ấy bị chiến tranh tàn phá, xóa bỏ, người ta mang chung một vết thương, một nỗi đau.

Ðó có thể là lý do giải thích vì sao rất nhiều người yêu ca khúc Trường Làng Tôi của Phạm Trọng :

Trường làng tôi cây xanh lá vây quanh

Muôn chim hót vang lên êm đềm

Lên trường làng tôi con đê bé xinh xinh

Len qua đám cây xanh nhẹ lướt

Trường làng tôi hai gian lá đơn sơ

Che trên miếng sân vuông mơ màng

Trường làng tôi không giây phút tôi quên

Nơi sống bao kỷ niệm ngày xanh

Nơi sống bao mái đầu xanh màu

Ðời tươi như báo lá xanh, lá xanh

Theo tháng ngày chiến cuộc lan tràn

Qua xóm thôn nát ngôi trường xưa

Không bóng hình bao trẻ nô đùa

Cùng nhau vang hát khúc ca vô tư

Mơ đến ngày nước non thanh bình

Trong thôn xóm ấm ngôi trường xưa

Trường làng tôi nay (xưa) vang tiếng ê a

Nay (xưa) in bòng bao em nô đùa

Trường làng tôi không giây phút tôi quên

Dù cách xa muôn trùng trường ơi!

Phạm Trọng tên thật là Phạm Trọng Cầu. Ông sinh năm 1935 và đã mất tại Sài Gòn ngày 26 Tháng Năm, 1998.

Vũ Hoàng Chương

Nguyễn Ðình Toàn


Thuộc thế hệ Tây học và xuất hiện trong phong trào thơ mới ở Việt Nam thập niên niên 30, nhưng các nhà phê bình văn học cũng không biết xếp Vũ Hoàng Chương vào hàng ngũ các nhà thơ mới hay cũ.

Vũ Ngọc Phan bảo “thơ ông là thơ của một thanh niên mà nhiều lúc giọng già cóc cách”.

Còn Hoài Thanh thì cho rằng “Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào xưa của Ðông Á” và trong thơ ông, “trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa. Duy ở đây nó có cái vị chua chát, hằn học và bi đát riêng”.

Như thế, Vũ Ngọc Phan gọi Vũ Hoàng Chương là một thanh niên già. Còn đối với Hoài Thanh cái say sưa, trụy lạc, ngao ngán trong thơ Vũ Hoàng Chương xưa rồi, nhưng vẫn có ba vị chua chát, hằn học và bi đát riêng.

Riêng Vũ Hoàng Chương tự nói về mình như sau:

Ôi, Lý Bạch, Trang Chu đường chim nẻo nguyệt

Ðời họa còn ta là theo vết người xưa

Nhận định về Vũ Hoàng Chương, mãi sau này, những năm lưu lạc trên đất Mỹ, Võ Phiến viết:

“Trụy lạc hay không trụy lạc, say sưa hay không say sưa, ngao ngán hay không ngao ngán hay không ngao ngán, Vũ Hoàng Chương đều có thể xưa. Ngay trong yêu đương, ca hát, ông cũng có cốt cách một người xưa. Xưa trước ông chừng hai nghìn năm chẳng hạn. Mất Kiều Thu, chàng thanh niên trong tuổi đôi mươi ngồi vỗ chậu hát nghêu ngao hệt Trang Tử!”

Ở Vũ Hoàng Chương một đặc điểm khác cũng đeo dính vào ông vào ông suốt một đời. Ðó là lời nói trau chuốt.

Từ thuở ban đầu, thơ ông đã bày rõ cái sở trường [ và sở đoản ] ấy. Vũ Ngọc Phan chê ông gọt giũa quá cho nên lời thơ lẽ tự nhiên kém thành thực, ít làm cho người đọc cảm động; chê thơ ấy có hay chăng là hay nhờ chữ khéo chọn, nhờ âm điệu nhịp nhàng, chứ không hay về ý, về những rung cảm của thi nhân.

Ông Võ Phiến không tán thành điều bảo rằng thơ Vũ Hoàng Chương không có ý hay, không có rung cảm sâu. Võ Phiến cho ông Vũ này đã bất công với ông Vũ kia. Nhưng Võ Phiến đồng ý một điều: thơ Vũ Hoàng Chương gọt giũa quá! Song chính vì thế Vũ Hoàng Chương thuộc vào số thi sĩ Việt Nam có những lời thơ đẹp đẽ nhất. Ðẹp đẽ một cách cầu kỳ và kiêu kỳ.

Nói về cái đẹp của người đàn bà, đẹp hơn những người khác, Vũ Hoàng Chương gọi là “hoa bậc chị” chẳng hạn.

Cũng mãi sau này, vừa mới đây thôi, trong cuốn “Chiêu Niệm Văn Chương” nhà thơ Viên Linh đã viết về Vũ Hoàng Chương như sau:

“Thi ca Tiền Chiến, từ Vũ Hoàng Chương, đã từ ngũ cung 'xừ /xang /xự /cống/ hồ/ mà đi một vòng luân vũ 'điệu kèn biếc quay cuồng'. Ðã từ cổ phong, hát mưỡu, hát nói 'Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, má xưa kề, tình nay sao héo' mà sang tự do 'Ði chuyến ấy dòng đời ta tự xóa'. Ðã chuyển Nguyễn Trãi 'Yên Sơn sơn thượng tối cao phong' và phổ Thôi Hiệu 'Hoàng hạc nhất khứ bất phục phả' thành những 'cao tuyệt mãi mãi”

Chèo lên tuyệt đỉnh núi Yên chơi,

Vàng tung cánh hạc đi đi mất.

Nói chung khen hay chê Vũ Hoàng Chương, người ta đều lạc vào mê cung chữ nghĩa của ông. Và có thể nói, thơ ông cũng chính là sự ngây ngất của ông đối với chữ nghĩa. Chữ nghĩa gợi cảnh thần tiên, dẫn sâu vào quá khứ, đồng hóa với người tình, chắp canh bay khỏi hiện tại, biến các giấc mơ thành cõi sống.

Không thể tách rời thơ với những chuyện thường nhật, tách cái say ra khỏi cái tỉnh của Vũ Hoàng Chương, ngay cả khi ông kể lại những cuộc gặp gỡ của mình với người này, người khác, ta cũng không hiểu ông có đang làm thơ chăng?

Sau đây là một đoạn Vũ Hoàng Chương nói về một lần gặp gỡ giữa ông và nhà thơ Phan Khôi:

“...Suốt hai ngày đêm, trong cái dài dằng dặc và cái tối mò mò của cái 'gác ống' phố Bờ Sông, Phan Khôi đã cao đàm hùng biện, hứng khởi thao thao, giọng sắc bén như chém đinh, chặt sắt. Ông căm thù bạo lực, ông phản kháng độc tài, ông lên án mọi hình thức giả hiệu. Ông có thừa phong độ cốt cách của một nho sĩ ngang tàng, bất khuất, cộng thêm vào cái kiến thức sâu rộng của một tay lịch lãm giăng hồ. Lắm lúc ông nói như gào, như quát, sang sảng lạnh người.

‘Không thể được! Sao lại thế được? Văn nghệ phải là văn nghệ! Thiếu tự do thà ném bút đi! Cầm lấy một mũi nhọn khác!’

Sau biến cố 30 tháng 4/75, cũng như hầu hết các văn nghệ sĩ ở miền Nam, Vũ Hoàng Chương đã bị bắt đi tù cải tạo, và chỉ được thả khi người ta biết chắc rằng ông sắp chết. Và, quả thực về nhà chỉ được vài ngày thì ông mất.

Sau đây là bài “Thơ Gởi Vợ” một trong vài bài thơ sau cùng, Vũ Hoàng Chương viết trong nhà tù Chí Hòa tháng 6 năm 1976:

Thấm thoát vào đây tháng đã tròn

Lông hồng gieo xuống nặng bằng non

Một manh chiếu bả hồn ngây ngất

Ba chén cơm rau xác mỏi mòn

Ngày tới bữa ăn càng nhớ vợ

Ðêm về giấc ngủ lại thương con

Bao nhiêu nước chẩy qua cầu nữa

Chẳng dễ gì phai nhạt tấm son

Tình thương nỗi nhớ chon von

Trưa nay bừng thức vẫn còn đổi trao

Thật rồi đâu phải chiêm bao

Tin ra Vĩnh Hội thư vào Hòa Hưng

Người Xưa Ðâu Tá: TỪ VŨ

Nguyễn Ðình Toàn

Trong mấy ngày Tết vừa qua, thính giả của các đài phát thanh ở đây, đã được nghe lại một số những bài hát cũ, trong đó có bài “Gái Xuân” thơ của Nguyễn Bính, do Từ Vũ phổ nhạc.

Từ Vũ cũng thuộc số các tác giả, ôm đàn tới giữa đời [Phạm Duy Nhượng] một lần, rồi thôi.

“Gái Xuân” làm nhớ lại những cái Tết Sài Gòn xa xưa, các ca sĩ thường trình bày ca khúc ấy như Linh Sơn, Ánh Tuyết, Thu Hương, Bạch Quyên...

Bài hát được nhiều người hát như thế, nhưng có một chữ, không biết do người phổ nhạc hay người hát đầu tiên tự ý sửa đi, rồi những người sau cứ vậy mà hát, có lẽ phải xét lại, vì ý nghĩa ngược hẳn với bài thơ.

Tuy nhan đề của bài thơ là “Gái Xuân” nhưng câu đầu tiên của Nguyễn Bính là: “Anh như cô gái hãy còn xuân”.

“Anh” chứ không phải ”Em”.

Nếu “Em” mà “như cô gái hãy còn xuân”, rồi đọc tiếp nữa thì hình như “em” chẳng còn gì cả!

Các ca sĩ của chúng ta gần đây có thói quen khi hát, đã tự ý sửa các chữ “anh” thành chữ “em” hay ngược lại, tùy theo người hát là nam hay nữ. Thực tế, có những bài, những câu hát, không thể làm như vậy được.

Anh như cô gái hãy còn xuân

Trong trắng thân chưa lấm bụi trần

Xuân đến hoa mơ hoa mận nở

Gái xuân giũ lụa trên sông Vân

***

Tình xuân lơ đãng má xuân hồng

Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng

Ðôi tám xuân đi trên mái tóc

Ðêm xuân cô ngủ có buồn không

***

THANH CHÂU

Vào các năm 1970-1975 còn hai ca khúc “Mơ Người Lính Chiến” của Mai Sơn và “Chiều Cuối Thôn” của Thanh Châu, đều là những ca khúc hay, nhưng cho đến nay, không thấy ca sĩ nào cho thu thanh lại, thành thử đã lâu lắm không còn ai được nghe hát.

Từ Vũ và Thanh Châu cũng là những tác giả chỉ đóng góp một tác phẩm duy nhất với đời, rồi thôi.

Vì sao có hiện tượng này?

Cũng có người đã hỏi Lê Hoàng Long [Gợi Giấc Mơ Xưa] câu hỏi ấy. Lê Hoàng Long đã trả lời đại ý: “Nói một điều mà có cái gì đó để nghe còn hơn nói nhiều mà chẳng có cái gì để nghe cả”.

Lê Hoàng Long hiện đã cao tuổi, vẫn sống và dạy đàn ở Sài Gòn.

Từ Vũ và Thanh Châu thì từ sau biến cố 30/04/1975 không thấy ai nói có gặp hay biết ở đâu.

Người ta chỉ được tin Trọng Khương, tác giả “Bánh Xe Lãng Tử”, “Ghen”, “Về Miền Nam”... chết vào khoảng năm 1977 hay 1978. Trước ngày mất, Trọng Khương gần như người mất trí, ông thường lang thang trên các đường phố, bến xe, các quán cà phê cóc, áo quần bụi bậm rách nát, gày rộc, hai mắt trũng sâu, gặp người quen biết cũ, đôi lúc ông tỏ ra vồ vập, thăm hỏi, đôi lúc vẻ mặt ông ngơ ngẩn nửa như nhận ra nửa như không. Không ai biết gia đình, nhà cửa ông thế nào. Vào những ngày ấy, hầu hết người miền Nam gặp lại nhau, người nọ đều thấy người kia từa tựa như Trọng Khương cả.

Tác phẩm bị quên lãng.

Người ta thất lạc nhau.

Ðó là tình cảnh của chúng ta trong mấy chục năm rồi.

“Em có thương người thanh niên quốc gia

Sa trường vui trong tiếng ca

Xin bền duyên nơi quê nhà

Hẹn em đêm đêm khi sương mờ xuống

Ta chung xây mơ hình bóng

Hẹn ngày về thắm duyên tơ

Thanh Châu hình như là người duy nhất xác định được rõ ràng vị trí “người thanh niên quốc gia” trong nhạc. Các người khác chỉ dùng những từ chung chung “chiến binh, chiến sĩ...”

Chúng tôi rất tiếc đã không nhớ hết được bài hát của Thanh Châu. Ngay cái tựa “Chiều Cuối Thôn” cũng phải hỏi nhạc sĩ Nhật Bằng. Nhạc sĩ Nhật Bằng cũng cho biết, ông nhớ giai điệu của bài hát, chứ không nhớ lời ca.

Mong, chính nhạc sĩ Thanh Châu đang ở đâu đó, hoặc thân nhân của ông sẽ cho trình bày lại ca khúc này.

MAI SƠN

Tác giả Mai Sơn thì chắc chắn đang có mặt tại ngay Quận Cam, vì đã có người gặp ông.

Ca khúc “Mơ Người Lính Chiến” của Mai Sơn có vẻ đẹp của một bông hoa đồng nội, một bản tình ca nhiều hơn là một bản hùng ca.

Chiều nay quân xuôi qua thôn vắng

Có cô em ngây thơ dừng gót hồng

Nhìn theo anh binh tươi trong nắng

Bước đi oai hùng

Tình tang duyên đâu nương thôn vắng

Cho cô em đêm xuân bừng giấc nồng

Hàng cau bên hiên đêm yên lắng

Dâng hương chờ mong

Anh quân nhân yêu quý

Em muốn khoác chiến y

Tìm đường về đầy sao

Vui hát dưới quân kỳ

Nhưng ai thương nong tằm

Ai buông tơ cho đành

Ðời thơ chưa dứt mái nhà tranh

Nhắn ai đi, thề giết thù

Cười vui phong trần say tranh đấu

Lúc quay về trong nắng đào

Ðừng quên thôn nữ mơ bên cầu...

Bài hát nghe qua các đài phát thanh, một thời, trải biết bao nhiêu tang thương, biến đổi, không được nghe lại, làm sao có thể nhớ đúng, nhớ hết?

Không biết có phải vì nội dung các ca khúc của Thanh Châu, Mai Sơn, không còn thích hợp với các bạn trẻ lớn lên ở hải ngoại này [hình ảnh người lính quốc gia xa lạ đối với họ, cho dù kẻ xa lạ đó, có thể lại chính là người thân nhất, gần gụi nhất với họ] nên họ không tìm hát nữa, hay chỉ giản dị vì chưa được nghe bao giờ nên không biết để tìm hát lại?

Trang Văn Học Nghệ Thuật Người Việt mong sẽ có dịp in lại một lần đầy đủ ca khúc “Mơ Người Lính Chiến” của Mai Sơn để gửi tới những người yêu nhạc.

Nguyễn Ðình Toàn

Nguyễn Bạt Tụy

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN

Trước 1975, ở miền Nam, người ta đuợc biết, có hai ông Bạt Tụy: nhạc sĩ Bùi Bạt Tụy tác giả Chim Chiều Bạt Gió và nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy.

Nhạc sĩ Bùi Bạt Tụy, có bao nhiêu tác phẩm ít người biết.

Phần đông các thính giả chỉ được nghe có một ca khúc duy nhất của ông là bài Chim Chiều Bạt Gió. Thời gian ca khúc này được hát nhiều nhất là trước 1954. Đó là lúc chiến tranh đã lan tràn khắp đất nước, và, chỉ nguyên cái tên của bài hát đủ gây ra nỗi ngậm ngùi trong lòng người nghe. Có một chút gì đó, giống như định mệnh của tác giả, được báo trước trong cách đặt tên cho tác phẩm của mình. Hiêïn ông còn hay mất, bạt gió tới phương nào, có vẻ như cũng chẳng ai hay.


Nói vậy chứ với cuộc tang thương biến đổi trên đất nước những năm qua thì dường như “cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”!

Về phần nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy, gần đây, đọc một bài báo của ông Bùi Minh Quốc ở trong nước, người ta được biết, hiện ông đang sống tại Đà Lạt.

“Người dân ở khu Hòa Bình - trung tâm thành phố Đà Lạt -rất đỗi quen thuộc với hình ảnh một ông già ngoài bảy mươi, vóc người cao lớn, mái tóc bạc phơ cắt ngắn và cặp mắt sáng đầy vô tư, ngày ngày vào một giờ nhất định thường chống can dạo bước trên hè phố. Ông bước từng bước khó khăn, bởi một bên chân bị bệnh tê liệt cách đây hơn mười năm”.

Đó là hình ảnh nhà ngữ học Nguyễn Bạt Tụy do ông Bùi Minh Quốc phác họa.

Ông Nguyễn Bạt Tụy vừa là nhà ngôn ngữ học, vừa là nhà dân tộc học của miền Nam Việt Nam trước đây.

Ngay từ năm 1949 ông đã nổi tiếng cả ở trong và ngoài nước, khi cho xuất bản cuốn sách nghiên cứu “Chữ Và Vần Việt Nam”, sau được ông tăng bổ và cho xuất bản thành cuốn “Ngôn Ngữ Học Việt Nam”.

Trường hợp ông Nguyễn Bạt Tụy cũng có chút gì đó tương tự trường hợp ông Cung Giũ Nguyên. Quá nửa số tác phẩm của cả hai ông đều được viết bằng ngoại ngữ, phần lớn lại chưa được công bố, nên trừ các nhà chuyên môn và các thân hữu của họ, độc giả thông thường, và nhất là những người không đọc được tiếng Anh, tiếng Pháp, ít người biết.

Theo ông Việt Thường trên báo Người Việt “tạm kê” các tác phẩm của ông Nguyễn Bạt Tụy thì gồm có:

1. Dân Và Ngữ Ở Đất Giao [hay Việt Nam] dày hơn 500 trang, công trình 10 năm của tác giả với những chi tiết văn hóa vật chất và tinh thần cùng những đặc điểm về ngôn ngữ với nhiều bản đồ hình ảnh.

2. Khảo Về Dân Việt Ở Hoa Nam và Dân Ta Không Phải Là Dân Việt hai quyển đầu trong loại “tìm về nguồn”, chứa đựng những bằng chứng về sử học, nhân chủng học, cổ cốt học, ngôn ngữ học, cho thấy rằng dân tộc Việt thật sự là ai? Ở đâu?

3. Các cuốn Phonologie Vietnamienne, Les Voyelles Vietnamienne NOA recherche languistique en Giaoland v.v... tất cả đều được viết bằng tiếng Pháp, trình bày những biến chuyển về tư tưởng của tác giả qua hơn hai mươi năm suy tư về ngôn ngữ, trong mọi ngành ngữ âm, ngữ nghĩa, văn phạm, văn phong, và nhất là sự phát minh ra “thuyết độ tiếp xúc” [theorie du degré de contact] mà tác giả tin rằng sẽ làm đảo lộn các thuyết ngôn ngữ trên thế giới và chứng tỏ giá trị bấp bênh của mọi công trình nghiên cứu trước đây. Ngoài ra ông Nguyễn Bạt Tụy còn viết một số tác phẩm bằng Anh ngữ, trong đó có cuốn “New Principles Of Phonology” [Những nguyên lý mới của âm học] nhằm chống lại Trubezcoy, tác giả cuốn sách nổi tiếng tựa đề là Principe de Phonologie.

Được biết, sau khi chiếm được miền Nam tháng Tu 75, tối 4 tháng Bảy 75, Hà Nội đã cử một số các nhà ngôn ngữ học, dân tộc học đến thăm ông Nguyễn Bạt Tụy tại Đà Lạt, sơ bộ, để hỏi về những công trình nghiên cứu của ông.

Hơn một tuần sau đó, ông Nguyễn Bạt Tụy đã viết một bức thư gửi ông Tố Hữu, xin được giúp đỡ về hành chánh, tài chánh và phương tiện để ông có thể đi nghiên cứu khắp nơi trên đất nước, nhất là những nơi trên miền Bắc. Thư của ông cho đến nay vẫn chưa đuợc hồi âm, và chắc rằng sẽ không bao giờ được hồi âm, vì Tố Hữu đã chết. Không biết trước 75, có bao giờ ông Nguyễn viết và gửi thư cho một cấp chính quyền nào đó ở miền Nam đề nghị một việc tương tự? Không thấy ai nói tới chuyện này.

Lý do vì sao ông làm hay không làm chuyện đó, chỉ mình ông biết.

Nhưng viêc ông gửi thư cho ông Tố Hữu thì gần như một việc công khai.

Và, khi gửi thư cho ông Tố Hữu, thì ông Việt Thường cho rằng, ông Nguyễn Bạt Tụy đã gõ đúng cửa, vì khi đó Tố Hữu đang là Phó Thủ Tướng, cùng một lúc là người lãnh đạo nền khoa học xã hội và văn học nghệ thuật cả nước.

Có vẻ như ông Nguyễn Bạt Tụy tin ở sự liêm khiết, tin ở sự lương thiện, tin ở sở học của mình, chọn cơ hội để hiến dâng tất cả những điều tốt đẹp ấy cho đất nước.

Nhưng có thể có sự hiểu nhầm về tiêu chuẩn giá trị giữa hai bên chăng?

Thực tế là từ bấy đến nay, ông Nguyễn Bạt Tụy chỉ nhận được sự im lặng.

Ai muốn hiểu sự yên lặng ấy ra sao cũng đuợc.

Tố Hữu cũng không còn nữa. Trước khi chết, Tố Hữu cũng đã bị tước bỏ mọi quyền hành và đã có lúc làm thơ than thở vơí cái bóng cô đơn của mình.

Cái bóng đã mất cùng với người ấy, so với cái bóng xiêu vẹo của một học giả già nua, bệnh tật, đổ trên mấy con dốc ở Đà Lạt, còn đó, cái nào buồn hơn?

Nguồn: Viet Tide

Phạm Hoàng Hộ

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN


Nhớ lại các năm trước 1975, bộ sách của giáo sư Phạm Hoàng Hộ còn mang tên là Cây Cỏ Miền Nam. Cuộc chia cắt đất nước đã giới hạn tầm mức của cuốn sách.

Thế nhưng công trình của giáo sư Phạm Hoàng Hộ không phải chỉ được coi là quý đối với các nhà chuyên môn về thực vật học.

Nhà văn Võ Phiến có kể lại trong bộ sách Văn Học Miền Nam, soạn thảo tại hải ngoại của ông sau biến cố 75, nhiều nhà văn đã tìm đọc cuốn Cây Cỏ Miền Nam để biết thêm về một vài loại cây cỏ quanh mình, để khi cần, có thể đưa vào tác phẩm.

Nói chung, hình như chúng ta ít chú ý đến hoa cỏ, cây lá quanh mình, ít chú ý tới thiên nhiên.

Đối với rất nhiều người, phân biệt thế nào loại ẩn hoa hay hiển hoa, thế nào là giống một lá mầm với giống hai lá mầm là một việc khó khăn, và e rằng số người hoàn toàn không biết gì còn nhiều hơn nữa.

Bác sĩ Mai Kim Ngọc kể về một vài kỷ niệm của ông đối với giáo sư Phạm Hoàng Hộ như sau:

“Tôi có dịp được quan sát giáo sư khá gần trong giai đoạn đầu của cuộc đời sư phạm của ông. Đó là những năm sau hiệp định Geneve, miền Nam mới khai sinh như một tân quốc gia, có tổng thống, có tối cao pháp viện, có quốc hội, có viện đại học và có đại học khoa học. Từ thế nhìn của một sinh viên sinh vật học năm thứ nhất, tôi đã quan sát giáo sư vừa tốt nghiệp khoa thực vật tại Pháp trở về. Thầy tôi là tiến sĩ Roger, người Pháp, giản dị, khiêm tốn, hiền từ. Ông mặc quần short và áo sơ mi kaki có cầu vai và nắp túi, kiểu phổ thông bấy giờ. Tôi nhớ giáo sư Hộ rất giống thầy Roger, chỉ khác ở chỗ chủng tộc màu da một Pháp một Việt, ở chỗ tuổi tác một già một trẻ, ở chỗ mái tóc giáo sư còn xanh và dày và trán không hói như trán thày Roger. Nhưng họ vẫn giống nhau như anh em ruột, vì cái thần thức trong sáng của những nhà giáo kiêm khảo cứu gia của thế giới”.

Được biết giáo sư Phạm Hoàng Hộ có ở lại Việt Nam một thời gian sau biến cố 75, và như các đồng nghiệp và những người quen biết của ông cho biết, giáo sư đã ăn cơm hẩm đạp xe cọc cạch để mong cho đất nước đi lên, nhưng cuối cùng ông đã phải gọi đó là thời “ảo vọng”, để bầy tỏ sự cay đắng, thức tỉnh của một người trí thức miền Nam, trước sự lật lọng, độc ác, dốt nát của những người thắng trận, tạo ra một thời đen tối của đất nước.

Giáo sư Hộ đã đề tăng công trình của ông cho:

“Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước.


Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh.


Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.

Riêng về địa hạt chuyên môn, nhờ sự thống nhất đất nước, ông đã được dịp đi về các tỉnh miền Bắc như Thái Nguyên, Hòa Bình, Quảng Ninh, Lào Cay, Lai Châu và nhất là ngọn Fan-Si Pan ngọn núi cao nhất của bán đảo Đông Dương để nghiên cứu và sưu tập của ông đã tăng thêm được 2500 loại thực vật, và, nó còn được đổi tên là Cây Cỏ Việt Nam.

Cây Cỏ Việt Nam do nhà xuất bản Mekong Printing ấn hành, gồm 3 cuốn, mỗi cuốn 2 tập, tổng cộng 3599 trang chưa kể phần phụ lục và tự vựng, bao gồm thêm cả công trình những năm giáo sư rời bỏ Việt Nam sang Pháp, rồi qua Canada, mặc dầu tuổi đã cao, giáo sư vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc. Từ những thành quả đã thâu lượm được giáo sư cho hay, ông cũng đang sắp đặt và khai triển thêm để soạn bộ dược thảo.

Theo bác sĩ Mai Kim Ngọc thì tác phẩm của giáo sư Hộ sẽ không chỉ về dược thảo nói chung mà về dược thảo Việt Nam.

Riêng cuốn Cây Cỏ Việt Nam, với kỹ thuật tin học hiện đại còn có thể sắp xếp thành một bộ tự điển đa dạng dưới hình thức y học, thảo mộc học, kinh tế học, nhân chủng học, thổ ngơi học. Bộ sách còn có thể là món quà vô giá cho những người thiết tha về văn học nghệ thuật mà chuyện đẹp bao gồm thiên nhiên trong đó có hơn vạn cây cỏ mà giáo sư Hộ đã đếm, đã vẽ.

Thật hết sức cảm động khi đọc những cảm nghĩ của bác sĩ Mai Kim Ngọc về cuốn sách. Chúng ta có cảm tưởng được chia sẻ dưỡng khí, sự tôn kính, lòng biết ơn và cái đẹp... những gì thực sự là giá trị của cuộc sống, những thứ chúng ta cứ mất dần đi kể từ sau biến cố 1975.

Bác sĩ Mai Kim Ngọc viết:

“Sách là hình ảnh của một đời tận tụy của một khoa học gia, và mỗi chương là mỗi gian khổ cũng như hoan lạc của một trí thức đàn anh trong những năm lịch sử vừa qua. Trong khi đất nước nổi trôi qua những chặng đường phong kiến, ngoại thuộc, chiến tranh, hòa bình, cộng sản, kinh tế thị trường, kinh tế tư bản, có những người sắt son đầu tư cuộc sống của mình vào những chuyện thầm lặng khiêm tốn mà giá trị vô song, với tham vọng lớn nhất là không bỏ sót một lá cây, ngọn cỏ của kho tàng đất nước, là bảo vệ rừng già, bảo vệ thiên nhiên, là giữ gìn đất đai cha ông để lại cho con cháu đời đời. Vui về công trình của một nhà thực vật nuôi dưỡng bởi miền Nam nói riêng và thế giới tự do nói chung, đã là một mẫu mực cho sự đóng góp của người trí thức cho đất nước, hay rộng lớn hơn cho đời sống. Giá có một công trình tương tự trong mỗi bộ môn, như bệnh lý Việt Nam, hành chánh Việt Nam, kiến trúc Việt Nam, đê điều Việt Nam, cầm thú Việt Nam, hành chánh Việt Nam, luật pháp Việt Nam v.v... thì ta đã đương nhiên tạo dựng được một nền tảng cụ thể cho một nền văn hóa văn minh Việt Nam, ngoài chuyện 4000 năm văn hiến và một ít trống đồng, đồ gốm”.

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN

Nguồn: Viet Tide

Vũ Bằng

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN



Vũ Bằng là một trong những nhà văn tiền phong của chúng ta. Ông viết văn, viết báo rất sớm. Năm 16 tuổi, còn đang là một học sinh trung học, ông đã có sách in ra, đó là cuốn Lọ Văn, châm biếm người đồng thời.

Những tác phẩm chính của Vũ Bằng đã được xuất bản gồm có:

Lọ Văn [Tạp văn]

Một Mình Trong Đêm Tối [Tiểu Thuyết]

Truyện Hai Người [Tiểu Thuyết]

Tội Ác Và Hối Hận [Tiểu Thuyết]

Để Cho Chàng Khỏi Khổ [Tiểu Thuyết]

Khảo Về Tiểu Thuyết [Biên Khảo]

Miếng Ngon Hà Hội [Tạp Văn]

Phù Dung Ơi Vĩnh Biệt [Sau đổi thành Cai, Tự Truyện ].

Bốn Mươi Năm Nói Láo [Hồi Ký]

Thương Nhớ Mười Hai [Tạp Văn]

Được biết, đương thời Vũ Bằng cộng tác với rất nhiều báo, viết nhiều mục khác nhau, ký nhiều tên khác nhau, nên có thể còn rất nhiều bài vở của ông chưa được sưu tầm đầy đủ.

Nhưng qua những gì đã được in thành sách, người ta đã được đọc, có thể coi như tầm quan trọng của hai vai trò nhà văn và nhà báo của ông ngang nhau.

Ông đã lăn xả vào nghề làm báo, bỏ dở cả học hành, phụ cả ước mơ của thân mẫu những ước muốn ông trở thành một bác sĩ. Song chính nhờ những người như ông mà nền báo chí của chúng ta đã trưởng thành mau chóng.

Hồi ký Bốn Mươi Năm Nói Láo của ông, tuy ông viết về mình, rõ hơn, viết về việïc theo đuổi cái nghiệp viết văn, làm báo của mình, nhưng qua tác phẩm này, người đọc có thể hình dung lại được một phần sinh hoạt báo chí Việt Nam hơn nửa thế kỷ trước. Cũng qua Vũ Bằng, người ta được biết nhiều chuyện vui buồn liên quan đến các nhà văn, nhà báo kỳ cựu của chúng ta môt thời như: Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Tích Chu, Tam Lang, Phùng Tất Đắc, Vũ Trọng Phụng, Đào Trinh Nhất, Tản Đà, Nam Hương, Nhượng Tống...

Ngay từ những ngày đầu tiên ấy, ông đã ý thức rõ ràng về cái nghề làm báo của mình. Vũ Bằng viết:

“Bây giờ người ta gọi nghề làm báo là nghề nói láo ăn tiền. Kẻ viết bài này đã ngã vào cái nghề đó từ lâu, hôm nay ngồi giở lại cuốn sổ ký ức của mình, xin nhận ngay là mình làm nghề nói láo, Vì thế, tác giả lấy đầu đề tập ký ức này ‘Bốn Mươi Năm Nói Láo’ chứ không dám đề là ‘Bốn Mươi Năm Làm Báo’. Vì tác giả nhận thấy rằng, nói láo là một cái vinh dự, làm nghề nói láo là một nghề đặc biệt ít ai dám đem ra khoe khoang. Thực vậy, đa số các nhà làm báo bây giờ, nghe thấy danh từ ‘làm báo nói láo ăn tiền’ ngoài mặt thì có vẻ bất cần, nhưng trong thâm tâm thì hơi giận: tại sao làm một cái nghề cao quý như nghề báo, tại sao lãnh một cái sứ mạng nghiêm trọng là hướng dẫn dư luận, tại sao phục vụ một quyền lực lớn mạnh vào bậc thứ tư trên trái đất này mà có người dám bảo là nghề nói láo?”.

Nghề báo đến với nước ta muộn so với các nước Âu Mỹ. Vậy người Âu Mỹ nghĩ sao về nghề báo?

Carlyle cho rằng: “Cao quý thay nghề làm báo. Một ông chủ báo có khả năng há chẳng phải là một nhà cai trị thế giới, vì là người thuyết phục thế giới, mặc dầu không do thế giới cử mà do mình cử mình thôi, tuy nhiên cũng được bằng con số báo bán ra cho thiên hạ”.

Còn văn hào Đức Goethe thì lại nói về báo chí bằng những lời chua chát: “Từ lâu, tôi vẫn tin rằng báo chí ra đời, là đề tài để cho dân chúng người ta tiêu khiển giết thì giờ và lòe bịp họ nhất thời, hoặc vì có một sức mạnh nào ở bên ngoài ngăn viên ký giả nói ra sự thực; hoặc vì tinh thần đảng phái đánh cho y lạc hướng đi, vì thế tôi không đọc một tờ báo nào hết”.

Vũ Bằng cho biết, khi ấy chưa có một trường nào dạy viết văn, làm báo, ông đã đọc và học thuộïc thơ của Tản Đà, Nam Hương, Nhượïng Tống, Thi Nham, Đàm Xuyên, để rồi bắt chước.

Đọc những dòng tâm sự của ông, người ta vừa buồn cho ông, vừa buồn cho đất nước:

“Mục đích của tôi là thuật lại thật đúng các giai đoạn làm báo nói láo ăn tiền của tôi để nhân đó may ra có nhận thấy diễn tiến của nghề báo ở nước ta như thế nào. Thêm nữa, tôi bắt đầu làm báo từ khi người mình còn sống dưới sự đô hộ của Pháp, qua thời kỳ Nhật vác kiếm lê trên mặt đất, đá Pháp một cú vào mông, rồi đuổi đi, đến Việt Minh bí mật, rồi Nhật thua, Việt Minh nắm chính quyền, rồi Pháp trở lại, rồi Pháp thua Điện Biên Phủ, ký hiệp định Geneve chia đất nước làm đôi, vác va li vào Sài Gòn hầu hạ Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, cho tới bây giờ sống nhờ vào quân đội Mỹ ô kê, sa lem... rất có thể cứ thuật lại hết những giai đoạn nói láo của mình, chưa biết chừng lại vẽ lại được một giai đoạn đau thương tang tóc, đã qua”.

Vũ Bằng cũng kể lại trong Bốn Mươi Năm Nói Láo cuộc gặp gỡ của ông với ông Phùng Tất Đắc, khi ấy đang là chủ bút báo Đông Tây, như sau:

“Tôi được gặp ông Phùng Tất Đắc lần đầu tiên vào một chiều tắt nắng, nhân dịp yết kiến Hoàng Tích Chu, tại trụ sở báo Đông Tây, số 12 phố Nhá Thờ.


Vừa mới thấy ông Đắc ngồi ở bàn viết, ở cửa đi thẳng vào, tôi đã biết ngay, không phải đã được ông tự giới thiệu, nhưng tại chính tôi được biết vì có bạn bè, trước đó, đã chỉ ông cho tôi rồi, ngồi xuống ghế, nói với ông câu đầu tiên, máu tôi chảy có một vòng, phần vì sợ văn ông, phần vì vẫn nghe tiếng ông là con nhà giàu ở Nam Thành, thạo đời ‘một cây’, lại có tiếng là tay ăn chơi ‘sộp’... tôi luống cuống và cảm thấy tay chân thừa cả, không biết giấu chỗ nào”. Ông Đắc mặc Âu phục, vén tay áo sơ mi lên ngồi rung đùi khảo cứu Nho Giáo. Bên cạnh cuốn sách của Lệ Thần Trần Trọng Kim, tôi thấy một chồng sách chữ Nho. Đêm hôm ấy, về nằm nhớ lại buổi ban chiều, tôi chán đời không thể tả, vì thấy Phùng Tất Đắc, tôi quan niệm muốn viết báo cho ra viết báo, muốn sử dụng ngòi bút tài tình như ông Đắc trong mục ‘Trước Đèn’ của báo Đông Tây, người ta phải thông kim bác cổ, thạo cả chữ Hán lẫn chữ Tây”.

Sau này, năm 1964, khi ông Phùng Tất Đắc cho tái bản cuốn Trước Đèn, người đề tựa cho cuốn sách lại chính là Vũ Bằng đấy!

‘Người xưa’ đối xử với nhau như thế không lạ sao? Không đẹp sao?

Nói chung các cuốn tiểu thuyết của Vũ Bằng không được nhiều người đọc như các cuốn tạp văn của ông. Ngay cả cuốn Luận Về Tiểu Thuyết, được viết vào một thời chưa một ai [trong nước] bàn về lý thuyết của bộ môn nghệ thuật này, cũng không được mấy người muốn vào nghề tìm đọc.

Hai cuốn tạp văn Miếng Ngon Hà Nội và Thương Nhớ Mười Hai được độc giả hoan nghênh hơn nhiều. Ở các cuốn này, văn ông trau chuốt, đôi khi đọc, người ta có cảm tưởng như đang đọc những bài thơ xuôi.

Sau đây là một đoạn Vũ Bằng viết về Phở: “Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú, một nhúm bánh phở, hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc, mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên, vừ đỏ sẫm như hoa lựu... Ba bốn thứ màu sắc đó, cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể, của một họa sĩ trong phái Văn Nghệ Tiền Tiến, dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt.


Trên tất cả mấy thứ đó, người bán hàng bây giờ mới thái thịt bỏ từng miếng bày lên”.

Trong văn chương của chúng ta không biết đã có bao nhiêu người viết ca ngợi ‘cốm’, cái món ăn đặc sản này của dân tộc? Và cũng không biết trên thế giới những dân tộc nào chế biến được món ăn tương tự, dù họ có trồng lúa? Đó là điều người ta không thể không có lúc cảm thấy thầm hãnh diện tựï hỏi, khi đọc vũ Bằng viết về cốm Vòng, vì ngoài cái ngon còn có cái đẹp của món ăn nữa:

“Cốm Vòng quả là một thứ quà đặc biệt nhất trong mọi thứ quà Hà Nội, đặc biệt vì cứ mỗi khi thấy gió vàng hiu hắt trở về thì lại nhớ đến cốm, mà đặc biệt hơn nữa là khắp các nẻo đường đất nước, chỉ có Hà Nội có cốm thôi!


Có những hình ảnh đẹp quá, thoáng qua trước mắt một giây, mà ta nhớ không bao giờ quên.


Bây giờ nghĩ lại cái đẹp não nùng của cốm Vòng xanh màu lưu ly để ở bên cạnh những trái hồng trứng thắm mọng như son tàu, tôi thích nhớ lại một buổi chiều đã xa lắm rồi, có một nhà nọ đưa hồng và cốm sang sêu một người em gái tôi.


Trên một cái khay chân quỳ, khảm xà cừ, đặt ở giữa án thư, hai gói cốm bọc trong lá sen được xếp song song còn hồng thì bầy trong một cái giá, dưới đệm những lá chuối xanh nõn, tước tơi, để ở trên mặt sập”.

Lại không phải chỉ có cái ngon, cái đẹp, qua ngòi bút Vũ Bằng còn có cả cái tình bên những món ăn nữa.

Đoạn Vũ Bằng nói về món “hổ lốn”, tức là những món ăn dư của những ngày giỗ, tết, bỏ “hầm bà làng” vào nồi đun nóng, thêm vào chút ít rau cỏ, cũng đáng được đưa vào các cuốn “thi văn trích diễm”:

“Ngoài sân mưa, mưa lăn tăn làm ướt giàn thiên lý. Mấy con ngỗng trời bay tránh rét, buông ở trên màn trời xám màu chì mấy tiếng đìu hiu. Cơm vừa chín tới, ‘hổ lốn’ lại nóng hổi, bốc khói lên nghi ngút, mà ngồi ăn ở trong một căn phòng ấm cúng với người vợ má hồng hồng vì mới ở dưới bếp lên, có họa là thất phu lắm mới không cảm thấy cái thú sống ở đời”.

Cuốn Thương Nhớ Mười Hai xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 được rất nhều người đọc và coi ông như một trong những nhà văn viết tùy bút hay nhất của chúng ta.

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN

Cao Đông Khánh

Chúng ta có nhiều nhà văn miền Nam, viết theo phong thái và ngôn ngữ đặc thù của miền Nam như Trương Vĩnh Ký, Hồ Biểu Cháùnh, Phi Vân rồi Vương Hồng Sển, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên tới Nguyễn Thị Thụy Vũ, Hồ Trường An, Huỳnh Phan Anh, Trần Thị Ngh., Kiệt Tấn v.v... Nhưng về thơ thì hình như sau Nguyễn Đình Chiểu chỉ có Tô Thùy Yên, Trần Tuấn Kiệt và gần đây nhất là Cao Đông Khánh.


Tuy vậy, về phương diện thuần chất miền Nam thì thơ Tô Thùy Yên cũng như Trần Tuấn Kiệt không còn thuần chất lắm, nó đã chín phần mười nhập vào cái thăng hoa của ngôn ngữ Việt nói chung.

Thơ Cao Đông Khánh giữ được nhiều bản sắc miền Nam hơn:

sàigòn, chợ lớn như mưa chớp
nát cả trùng dương một khắc thôi
chim én bay ngang về xóm chiếu
nước ròng ngọt át giọng hàng rong
hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược
trái cây quốc cấm giấu trong lòng
hỏi thăm cho biết đường ra biển
nước lớn khi nào tới cửa sông
sàigòn khánh hội gió trai lơ
khi ấy còn tơ gái núi về
đào kép cải lương say tứ chiếng
ngã tư quốc tế đứng sàng xê
gánh nước nặng hơn vác thánh giá
má đỏ hình như rượu mới hồng

Có thể Cao Đông Khánh làm thơ đã từ lâu. Nhưng chỉ từ khi ra hải ngoại sau biến cố 75 thơ ông mới được phổ biến và được nhiều người biết đến.

Theo nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh trên báo Phố Văn thì:

“Thơ Cao Đông Khánh xuất hiện khi làn sóng thuyền nhân lên cao độ những năm 80-81, khi lương tâm nhân loại phải đương đầu với thảm kịch thuyền nhân Việt Nam, khi những tuyên truyền khuynh tả và chủ nghĩa bạo tàn đã để rơi mặt nạ. Thủ phạm đã rõ nhưng nạn nhân cũng đã quá nhiều, hàng trăm ngàn người trong số hơn hai triệu thuyền nhân rời bỏ quê hương đã không bao giờ đến bến. Họ, những thảm kịch mà công luận quốc tế cuối cùng đã biết đến, đã nhìn thấy, họ đã bỏ mình nơi biển cả, trong rừng sâu, vì bạo lực, vì bất nhẫn của người đối với người... Cao Đông Khánh là thuyền nhân, ông đã sống cái bi tráng đó và ông đã dùng thơ để lên tiếng.

Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn là một tuyển tâïp những bài thơ Cao Đông Khánh đã sáng tác trong hai thập niên từ 1976 đến 1996, gồm đủ mọi thể loại từ lục bát đến thơ văn xuôi. Và bài nào của ông hình như cũng có dấu vết máu và nước mắt các cuộc biến đổi tang thương trên đất nước dù ông có nói đếùn điều gì chăng nữa.

“Nơi em ở đó lâm li tình ái, mà, em nỡ bỏ đi, không ai có thể hiểu nổi. Cái trái ô môi đậm đà hơn đường mật, cái thơm cái khóm ngọt ửng màu phèn, cái xe thổ mộ rềnh rang lục lạc, cái con nhỏ hồi xưa tóc cài hoa thiên lý, mà, lí em về dọn dẹp hồi xưa, dọn anh ra khỏi quốc gia, dọn Việt Nam ra hải phận quốc tế.


Anh mang khối tình còn e lệ đi chu du.


Trên núi mây ngũ sắc, ngoài biển gió mưa hòa thuận anh gầy lại miếng đất thân sinh, lập trang trại gia bảo. Anh chọn con ngựa trong mười hai con giáp, anh tra khớp bạc, anh thắng kiệu vàng, anh phi nước kiệu đưa nàng đi thăm cổ tích, có chiếc lá rơi biến thành chim vành khuyên đậu trên vai người hóa đá”.

Thật hụt hơi. Ta tưởng chừng như đang nghe một bài vọng cổ, được ca bằng một giọng tài tử nhưng có thừa ngọt ngào, vừa oán trách vừa thiết tha.

Kể lể với đời, kể lể với tình. Ai kể? Ai nghe? Cuộc tan vỡ mỗi người mang một ít trong máu, nghe nói thì hiểu ngay, chẳng cần biết đó là chuyện của ai. Bài vọng cổ không phải đời sống, nhưng có bao nhiêu đời sống mất đi mới thành bài vọng cổ, hát lên và nghe hát là có thể khóc, không phải khóc những gì ở ngay trong bài vọng cổ, mà khóc cái xa hơn, khóc người đã trở thành bóng, khóc xóm củi, khóc cái bến tắm ngựa, khóc chuyến xe buýt đậu trước cửa chợ Bà Chiểu, em mặc áo dài đen bước xuống... rồi biển lấp đi tất cả...

như vậy đó, biển hằng ngày tăng trưởng
biển mọc trong đầu biển khắp tay chân
biển xót xa em từ cái răng cái tóc
con mỹ nhân ngư này tên gọi thuyền nhân
em nói chồng em chết tù cải tạo
những đứa con ngọc ngà chết ở biển đông
còn đứa trẻ khôi ngô này sinh ở trại tị nạn
cha nó đang làm hải tặc Thái Lan

Có chỗ nào cho thơ trong những chuyện đớn đau như thế? Cao Đông Khánh viện dẫn đến cả những lời nói thông thường của các người bán hàng rong, các tay anh chị, cả những chữ líu lưỡi của dân nhậu không chừng:

Để anh nhắc ngày anh ra biển
chặt một chân để lại làm tin
hãy xẻ khô cất làm lương thực
em ráng sống giùm anh nghe em
nghe đó em người làm nhân chứng
tình yêu này như hỏa diệm sơn
Để anh kể cho em tưởng tượng
một đêm, gió khô hết hơi thở
người chết dưới biển lên đảo viếng thăm

Nguyễn Vy Khanh đã nói đúng: “Thơ Cao Đông Khánh không phải là văn chương mà trước hết là ngôn ngữ và tiếng nói.”

Thật vậy, người đọc thường phải đương đầu với một ngôn ngữ quá đà, thô tục, một ngôn ngữ tuyệt vọng nẩy sinh tiếng cười khinh mạn, châm biếm, những thành ngữ bẻ cong bẻ ngược như tiếng lóng trao đổi ở đầu đường vô nghĩa.

Thơ Cao Đông Khánh phải đọc lớn tiếng và nếu được, trước người khác, hình như mới hay, vì với Cao Đông Khánh, ý của ngôn ngữ chính là ở ý của lời nói: Bài thơ bỗng rưng rưng / lời mặc khải viết xuống thành chữ / chữ hiện hình xinh đẹp”.

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN


Nguồn: Viet Tide

Quách Tấn

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN


Quách Tấn là một hiện tượng đặc biệt của thi ca Việt Nam.

Trong khi những nhà nho cuối cùng của chúng ta như Tản Đà, Phan Khôi gần như không còn ai làm thơ Đường luật nữa, và phong trào thơ mới cũng đang bước dần sang thế giới thơ tự do với những Nguyễn Xuân Xanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đình Thi; Quách Tấn vẫn sống lặng lẽ với “vũ trụ thơ ngũ ngôn, thất ngôn bát cú” của ông.

Trước 1975 ông còn cho xuất bản nguyên một tập thơ sáng tác theo phong cách ấy, lấy tên là Mùa Cổ Điển.

Hai chữ “cổ điển” chính ông dùng để gọi thơ mình, hình như không hề có ý thách thức hay so sánh vơí bất cứ một hình thức thơ mới / cũ nào. Nó chỉ khẳng định công việc của ông.

Nói Quách Tấn lặng lẽ sống, không phải chỉ vì ít người, rất ít người gặp ông, biết ông như một người làm thơ, một thi sĩ. Người ta không bao giờ thấy ông tới một nơi nào để hội họp bàn chuyện văn chương, phát biểu ý kiến, phê bình, khen chê người này hay tác phẩm nọ, ở một địa điểm công cộng nào.

Hình như ông cũng ít di chuyển, đi đây, đi đó.

Ông ở Huế, hay thật ra, phần lớn người ta phỏng đoán như vậy, vì đọc thơ ông:

Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng
Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
Tro tàn thơ viện duyên ngao ngán
Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng
Gầy gọ cỏ sương tùng Thế Miếu
Bẽ bàng trăng nước trúc Huơng Giang
Trông vời Thiên Mụ mây man mác
Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng

Nhớ xưa, Tản Đà sau đôi lần vào Nam ra Bắc, có lúc ngồi kiểm kiểm lại cuộc đời cầm bút của mình, đã viết trên tờ Đông Pháp Thời Báo số ra ngày 17 tháng 12 năm 1927 như sau:

“Tôi từ theo nghề quốc văn kể có tới gần mười lăm năm, lên bổng xuống trầm, vào trong ra đục, phong trần chẳng quản, phi nghị mặc ai, thực cũng mong tựa văn chương để có ít nhiều sự nghiệp. Mới đây, tôi ở Hà Nội vào Nam, thăm Thuận An, qua Đà Nẵng, trải Hoành Sơn, Hải Vân, một lần đường bộ, hai lần đuờng thủy, càng thấy giang sơn ta là to, càng mới biết văn chương là rất nhỏ mà bao nhiêu cái tư tưởng muốn lấy văn chương làm sự nghiệp, tự nhiên như bọt bể mây ngàn”.

Đó đây không thiếu những nguời khuyến khích, tán dương những chuyến du hành, nhất là đối với các văn nghệ sĩ, coi đó như một điều kiện cần thiết để sáng tác.

Về chuyến đi xa và dài tới tận nước Mỹ của mình, Võ Phiến lại cảm nhận thêm một điều gì đó, vừa khôi hài vừa bi thảm nữa. Một bữa đi vãng cảnh núi non tại Quốc Gia Lâm Viên Hồng Sam, nhìn cây hồng sam có cái tuổi khoảng 4000 năm, gần ngang với tuổi của Tổ Hùng Vương, tần mần cho mấy ngón tay ngoáy vào những lỗ đá lớn bằng miệng chén trà, thổ dân Da Đỏ xưa đã dùng như là một thứ cối để nghiền thức ăn, Võ Phiến bỗng băn khoăn tự hỏi:

“Một đứa bé sinh trưởng ở làng quê dưới chân dãy Trường Sơn bên Việt Nam như mình sao lại đến nỗi có ngày ngồi ngẩn ngơ giữa một cao độ um tùm miền Tây lục địa Mỹ Châu thế này?”

Như thế, đi nhiều, đi xa, và có đi thật xa chăng nữa, đó là điều hay hay dở quả thật cũng khó biết. Nó lại còn tùy thuộc mỗi người nữa.

Trước 1975, ở Sài Gòn, cũng hiếm khi người ta thấy bóng Quách Tấn, hoặc giả ông có vào, nhưng ngay cả trong văn giới hình như ông cũng không giao du.

Ngay thơ ông, thỉnh thoảng lắm mơí thấy xuất hiện trên báo, thường là chỉ trong các số đặc biệt như số Xuân chẳng hạn.

Đọc thơ Quách Tấn người ta thấy, cái mà ông yêu nhất có lẽ là sự lặng lẽ, yên tịnh:

Chim chiều kêu trước giậu
Gối sách nhìn hư không
Phơi phới làn mây trắng
Bay qua ngọn ráng hồng

Ông sống với sự lặng lẽ tìm thấy, nghe thấy và cả nhìn thấy quanh mình:

Nghìn xưa trang giấy lật
Hiu hắt ngọn hàn đăng
Tháo kính ra thềm đứng
Cành rơi đôi giọt trăng

Quách Tấn đã mất tại Huế ngày 21 tháng 12 năm 1992.

Nghe nói trước khi mất ông đã phải trải qua những ngày khó khăn, tang thương lắm.

Đọc lại thơ ông, nghĩ tới những nỗi biển dâu trong đời, người ta bỗng thấy cái tịch mịch, lặng lẽ trong thơ ông, thấm qua mình như một sự xóa bỏ không cưỡng lại được.

Nhưng xóa bỏ cái gì đây?

Đêm xóa bỏ ngày. Cái chết xóa bỏ đời sống. Quên xóa bỏ nhớ.

Danh lợi mình không tranh với ai
Vườn không rào kín ngõ không cài
Sân lồng gió biển cháu kèo mận
Hiên ngát hương trời ông thưởng mai
Đầu bạc tuổi xanh xuân vẫn một
Chim vàng bướm trắng thú chung đôi
Bên đường em bé nhủ mua báo
Rằng: nhạn đưa tin đã đến rồi

Bài thơ Đường luật, vận / đối nghiêm chỉnh, nhưng hình ảnh, ý tứ, lại có vẻ gì đó nửa tân kỳ, nửa cổ điển: hiên mai, kèo mận, bán báo, nhạn đưa.

Nếu thơ là nơi ẩn trốn của người làm thơ thì cùng một lúc nó cũng cho thấy đó là một nơi ẩn trốn không an toàn.


NGUYỄN ĐÌNH TOÀN


Nguồn: Viet Tide

Ðinh Hùng

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN

Có thể nói, tất cả các thi sĩ của chúng ta, không ít thì nhiều, ai cũng làm thơ tình.

Nhưng hình như chỉ một mình Ðinh Hùng, đã dành suốt đời thơ của mình, để làm thơ ca ngợi tình ái.

Dĩ nhiên, suốt lịch sử của chúng ta, cho đến tận hôm nay, có lẽ chưa một người nào có thể sống được nhờ thơ của mình, hiểu theo nghĩa cụ thể: sống bằng tác quyền thơ.

Ðinh Hùng cũng vậy. Ông phải sống nhờ vào những công việc khác như làm báo, dạy học, cộng tác với các đài phát thanh.

Song tất cả các công việc này chỉ giúp ông tồn tại để làm thơ. Ở miền Nam không có chế độ thi sĩ ăn lương nhà nước, nên các văn nghệ sĩ đều phải tự lo liệu lấy đời sống của mình, như mọi người khác.

Và, người ta rất tư hào về sự không lệ thuộc này.

Ðinh Hùng có làm thơ trào phúng, viết truyện hằng ngày cho các báo, và ông cũng có viết mấy vở kịch thơ nữa, nhưng sự nghiệp chính của ông vẫn là hai thi phẩm: Mê Hồn Ca và Ðường Vào Tình Sử.

Cả hai tác phẩm này đều là những tậïp thơ tình.

Gọi đó là những tập thơ tình chỉ là một cách nói giản dị.

Thực ra đây chính là vũ trụ thơ Ðinh Hùng.

Phải gọi là vũ trụ thơ Ðinh Hùng vì từ khi ông mở ra cái thế giới ông gọi là mê hồn ca ấy, ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc của ông dành cho cái thế giới đó, cho đến những ngày cuối cùng của đời ông, không hề thay đổi.

Khi Ðinh Hùng biến đổi ngôn ngữ / hình ảnh / cảm xúc của ông thành tranh, bởi vì Ðinh Hùng còn biết vẽ nữa, cái thế giới trong tranh và trong thơ của ông vẫn chỉ là một.

Nói về cái bìa tập Mê Hồn Ca do chính Ðinh Hùng vẽ, ấn bản của nhà Khai Trí, Nguyên Sa viết:

“Thiếu nữ chắp tay nguyện cầu, trên nền ngọn lửa, tóc nàng chạm vầng trăng, trong vầng trăng có chữ Thơ. Góc trái của bức tranh có hình Phật Bà ngồi trên tòa sen, hai ngọn lửa một trắng, một đỏ chìm phía dưới làm tôn sự uy nghi của Phật Bà, chứ không làm suy giảm hay biểu lộ sự đe dọa nào cả. Phía trên, bên mặt là những vì sao, phía tận cùng dưới có hình đầu lâu và chữ ký Ðinh Hùng, chữ Hùng nguyên chữ, chữ Ðinh chỉ một chữ Ð viết hoa và dấu chấm. Chim, không rõ loại, mỏ dài, không phải là bồ câu, đậu trên đầu lâu trắng hếu, dưới mỏ chim có hai trái tim. Chim màu xanh nước biển, hai trái tim màu đỏ, cùng với mặt trăng có chữ Thơ, thiếu nữ mặc áo màu xanh rêu đậm, nền trời xanh. Phía dưới góc trái có một vật hình thể dài, không phân biệt được là hình gì, có vẻ như đền đài thời xa xưa, có vẻ như kim tự tháp, cũng có vẻ như chiếc mộc của người da đỏ”.

Những hình ảnh mà Nguyên Sa nói rằng không phân biệt được trong tranh Ðinh Hùng cũng là những gì người ta cảm nhận được trong thơ Ðinh Hùng, ông không viết ra, nhưng dường như nó lẩn khuất đâu đó ở đằng sau, ở đằng trước, ở chung quanh những chữ ông viết ra, một thế giới u uẩn, gồm cả trăng sao, tín ngưỡng, chim chóc, đàn bà, cái chết và sự say đắm:

Ta thường có những buổi sầu ghê gớm
Ở bên em ôi biển sắc, rừng hương!
Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm
Em đến đây như đến tự Thiên Ðường
Những buổi đó ta nhìn em kinh ngạc
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly
Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ!
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước
Thấy cả bóng một vừng đông thuở trước
Cả con đường sao mọc lúc ta đi
Cả chiều sương mây phủ lối ta về
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ!

Có người cho rằng Ðinh Hùng chịu ảnh hưởng thơ Tống, thơ Ðường, thơ tượng trưng Pháp.

Nhưng đọc những bài như Kỳ Nữ của ông hẳn người ta phải thấy đó là cái thế giới của riêng Ðinh Hùng, nó lẫn lộn giữa mộng và thực, tiền kiếp và hiện sinh, “ở bên em” mà “khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ”, trong một đôi mắt mà ông nhìn thấy cả “vừng đông”, “sao mọc” và “chiều sương”, nghĩa là một không gian / thời gian hỗn mang.

Thèm ăn một chút hương man dại
Và ngủ như loài muông thú kia

Cái thèm ấy có dinh dáng chút gì đó với con người tiền sử chăng?

Cũng có người cho rằng, Ðinh Hùng có một chút “máu xanh”, nghĩ là máu của các quan Châu, quan Lang, vùng Thượng Du Bắc Viêt, vì trong thơ ông, rừng, núi, hang, động, suối, đèo, hoa cỏ hoang vu, đóng một vai trò rất quan trọng.

Song tất cả những điều ấy, cũng chỉ dùng để làm tăng thêm nhan sắc của người đàn bà trong thơ ông, làm tăng thêm nỗi say đắm trong lòng ông đối với các nàng thơ của ông thôi:

Ta run sợ cho yêu là mệnh số
Mặc tay em đinh hộ kiếp ngày sau
Vì người em có bao phép nhiệm màu
Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc
Ta đặt em lên ngai thờ nữ sắc
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết
Ôi cam dỗ! Cả mình em băng tuyết
Rợn xuân tình lên bộ ngực thanh tân
Ta gần em mê từng ngón bàn chân
Mắt nhắm lại để lòng nguôi gió bão

Nói tóm laị, có thể nói Ðinh Hùng mới thực sự là thi sĩ của tình ái.

Tất cả thơ của ông, chỉ là những lời ngợi ca tình ái, dù ở trong đó có gai sắc làm chảy máu, có những giấc mơ dữ dội, có hương trầm trên các lối đi, trời đất đều thơm tho bởi vì có em trong đó, ông yêu từ lúc chưa gặp

Chưa gặp em tôi vẫn nghĩ rằng
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng
cho đến lúc người không còn nữa:
Nằm trong đáy mộ chắc em sầu
Thu ơi đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm đáy mộ sâu

Ðinh Hùng cũng là thi sĩ duy nhất cho ta thấy hình như tình yêu nối được cả đời sống và cõi chết, biến hung bạo thành dịu dàng và ngược lại

Hỡi kỳ nữ! Em có lòng tàn ác
Ta vẫn gần, ôi sắc đẹp yêu ma
Lúc cuồng si nguyền rủa cả đàn bà
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết

Ðinh Hùng muốn nói gì thì nói, thơ ông chỉ có một ý nghĩa: đó là những lời tỏ tình.

Hay nói theo cách nói của chính Ðinh Hùng:

Ta, suốt đời ngư phủ
Thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN


Nguồn: Viet Tide

Mai Thảo

NGUYỄN ÐÌNH TOÀN

Không biết Mai Thảo bắt đầu viết văn từ bao giờ. Nhưng ông chỉ thực sự nổi tiếng tại miền Nam, sau hiệp định Genève, 1954.

Ðóng góp của ông vào văn học Việt Nam được coi là rất quan trọng, và ngay từ tác phẩm đầu tay: Ðêm Giã Từ Hà Nội.



Hà Nội 1954 đối với những người rời xa Hà Nội vào Nam là một Hà Nội bỏ lại.

Chia tay với Hà Nội, cùng một lúc người ta cũng chia tay với một quá khứ.

Một số văn nghệ sĩ đã nổi danh từ trước khi rời Hà Nội, một số khởi nghiệp vào đúng cái thời điểm đau thương đó, một số khác vừa lớn lên, bắt đầu công việc sáng tác, đã cùng với các văn nghệ sĩ miền Nam, tất cả, hợp sức tạo nên nền văn học nghệt thuật mới tại miền Nam.

Mai Thảo đã đứng ra chủ trương tạp chí Sáng Tạo, theo nhận định của Võ Phiến “Trong Tổng Quan Văn Học Miền Nam” thì, “tuy chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn 31 tháng, nó đã phát huy được một số văn tài đông đảo”.

Sau Sáng Tạo, Mai Thảo còn có lúc làm chủ biên cho các tạp chí Văn và tuần báo Nghệ Thuật.

Riêng phần sáng tác, sau tập truyện ngắn đầu tay Ðêm Giã Từ Hà Nội như một lên đường đầy mới lạ vào văn chương, ông đã liên tục cho ra đời gần 50 tác phẩm. Công trình sáng tác hết sức phong phú và nhiều mặt ấy gồm có 10 tập truyện ngắn, 2 tập tùy bút và 33 truyện dài, trong đó những cuốn được người đọc yêu thích nhất và được tái bản nhiều lần là Sống Chỉ Một Lần, Mười Ðêm Ngà Ngọc, Ðể Tưởng Nhớ Mùi Hương”.

Nói là giã từ Hà Nội, chia tay với quá khứ, nhưng đọc Mai Thảo, người ta sẽ nhận ra, cuộc rũ bỏ ấy ông đã làm suốt đời không xong.

Và, đó cũng chính là nguyên cớ để ông “đổ ra một biển chữ nghĩa”. Không nói thì thôi, hễ nói đến bất cứ điều gì Mai Thảo cũng có cách nói riêng của ông, và luôn luôn ào ào chữ nghĩa. Chỉ phát biểu một chút về thơ Bùi Giáng chẳng hạn, ông viết: “Ngôn ngữ và tư duy Bùi Giáng hiển lộng tới không bến không bờ, vô cùng vô tận, và tài năng ông cũng vậy. Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa. Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương”.

Vì thế, đọc Mai Thảo, không phải là đọc những gì ông viết mà là đọc cái cách ông viết ra những gì ông đã viết. Một căn nhà vùng nước mặn. Một chuyến tàu trên sông Hồng. Một bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời. Ðó không phải là những cái truyện, những tên truyện. Ðó là mảnh vỡ của những cuộc đời, long lanh hạnh phúc, ràn rụa nước mắt. Không kể lại được. Phải đọc từng dòng, từng chữ của Mai Thảo, để thấy ông nghĩ, ông viết thế nào về những truyện đó, chứ không phải những gì chất chứa trong những truyện đó.

“Thời gian nghiêng đi, mỗi thước vuông không khí là một phiến ngực trần chói lọi thở, gió và nắng chan hòa lẫn lẫn, niềm kiêu vạm vỡ cuối cùng của tạo vật”, đó là cách viết cách nhìn, cách dùng chữ của Mai Thảo. Chỉ cần đọc một câu thôi, người ta có thể nhận ra ông ngay. Cầu kỳ quá chăng? Có thể như vậy. Nhưng đó là văn Mai Thảo. Và với cách viết ấy, nhiều đoạn văn của ông đạt tới vẻ đẹp chưa một nhà văn nào của chúng ta đạt tới:

“Tôi muốn bảo Luân: anh sót thương em những đêm dài trong núi, dưới mái nhà sàn cơ quan, trên những con đường hầm hố vết thương, những xóm làng hủy phá, trên những thềm nhà cỏ hoang phủ kín, trên những vì tường đổ gục, trên những thân cây chặt đứt, qua những chân cầu đổ nghiêng, trong hầm trú ẩn máy bay.


Tôi muốn bảo Luân, anh sót thương em đêm giã từ Hà Nội ra đi nhìn về Hà Nội cái rừng lửa cháy, buổi chiều đứng trên con đê Hồng Hà, buổi trưa về thăm lại Hưng Yên. Buổi ra đi bãi ấy còn xanh biếc ngô non, buổi về chỉ thấy mênh mông phù sa kín nhòa bãi cũ.


Tôi muốn bảo Luân, anh sót thương em trên những đầu ngón chân anh đi, cái hình ảnh sót thương lăn theo sỏi đá dọc đường, nằm trên từng cột cây số, từng nền lũy tre xanh, chảy theo mặt nước lúc xuống đò qua sông, khuân theo lòng đường lúc xuống đò lên bộ, từng buổi sớm xuống suối rửa mặt, cái hình ảnh sót thương trong veo trên nền sỏi trắng, từng buổi chiều không biết đi đâu, cái hình ảnh xót thương bát ngát đầy chiều.


Tôi muốn bảo Luân, anh nhớ em trong tiếng súng ban đêm, những vệt lửa dài cháy vào bóng tối, lúc bỏ núi sau lưng cái hình ảnh sót thương còn mang hình trái núi, lúc xuống đồng bằng trước mặt cái hình ảnh xót thương đã mang hình những ngọn lửa dài, lúc anh muốn chết, lúc anh muốn sống, lúc tuyệt vọng tối đen vực thẳm, khi tin yêu sáng chói mặt trời, lúc nhìn xa cái hình ảnh lớn theo ngút mắt, lúc tưởng gần cái hình ảnh thu cũng nhỏ vào một góc trái tim như một tấm hình kỷ niệm”.

Các câu chữ ấy là điển hình cho những dòng văn Mai Thảo. Ðỏm dáng. Kiểu cách. Nhưng nó cũng chính là con người ông. Như cách ông ăn mặc, uống rượu, nói chuyện, vuốt tóc, đốt thuốc. Vừa kiểu cách vừa xóa bỏ kiểu cách. Không ai quen biết ông mà không một lần nhận được ở ông môït chút tình cảm đặc biệt dành riêng cho mình, bằng lời nói, bằng cách ông đối xử. Nhưng đừng nhận là người thân của ông. Hãy để ông làm điều đó. Ông rất thành thật. Không kiểu cách. Người ta sẽ nhận ra như thế khi gặp lại ông đôi ba lần, và, cả khi đọc lại ông đôi ba lần.

NGUYỄN ÐÌNH TOÀN

Nguồn: Viet Tide

Tình Ca Việt Nam Một Thời Hạnh Phúc

Ðào Trường Phúc

NHẠC CHỦ ÐỀ TRÊN LÀN SÓNG ÐIỆN

“Tình ca-những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời nhất của một đời người - bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau... Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta”...

“Em đâu ngờ anh còn nghe vang tiếng em trong tất cả những tiếng động ngù ngờ nhất của cái ngày sung sướng đó: Tiếng gió may thổi trên những cành liễu nhỏ, tiếng những giọt sương rơi trên mặt hồ, tiếng guốc khua trên hè phố... Ngần ấy thứ tiếng động ngân nga trong trí tưởng anh một thuở thanh bình nào, bây giờ đã gần im hơi, nhưng một đôi khi vẫn còn đủ sức làm ran lên trong ký ức một mùa hè háo hức, một đêm mưa bỗng trở về, gió cuốn từng cơn nhớ... Anh bỗng nhận ra anh vẫn còn yêu em, dù chúng ta đã xa nhau như hai thành phố”...

Ðó là những lời mở đầu một chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, một buổi tối thứ năm nào đó của thập niên 60. Nguyễn Ðình Toàn đọc những lời giới thiệu ấy sau phần nhạc hiệu của chương trình, và tiếp theo là những giọng hát và những ca khúc chọn lọc đến với thính giả - giọng hát Duy Trác và “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, giọng hát Thái Thanh và “Giáo Ðường Im Bóng” của Nguyễn Thiện Tơ, giọng hát Sĩ Phú và “Trở Về Dĩ Vãng” của Lâm Tuyền, giọng hát Lệ Thu và “Bóng Chiều Tà” của Nhật Bằng, giọng hát Khánh Ly và “Mùa Thu Chết” của Phạm Duy...

Những lời giới thiệu ấy, những lời ca tiếng hát ấy dội vào tâm tư của cả một thế hệ Việt Nam, một thế hệ lớn lên trong bối cảnh của những cơn binh lửa nối tiếp nhau trên quê hương. Và kỳ lạ thay, đến bây giờ những ca khúc ấy vẫn ở lại trong ký ức họ, cho dù nhiều năm tháng đã trôi đi, bao nhiêu khuôn mặt đã xa khuất, một cuộc chiến đầy cay đắng đã tàn để nhường chỗ cho một thảm kịch khởi đầu, một thế hệ đang lùi dần vào quá khứ trong khi nhân loại đón chào một thiên niên kỷ mới...

Nếu như đối với các thính giả ái mộ “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60, chương trình phát thanh ấy là một thư viện cất giữ giùm cho họ những trang sách kỷ niệm vô giá của tuổi thanh xuân hay một thời yêu đương, thì đối với sinh hoạt văn nghệ nói chung, “Nhạc Chủ Ðề” là nhịp cầu tiếp nối giữa dòng nhạc tiền chiến và dòng nhạc sau cùng của miền Nam tự do. Chất nối kết hai dòng nhạc ấy là tình yêu, cho nên cuộc hành của “Nhạc Chủ Ðề” chính là cuộc hành trình của tình ca Việt Nam, dọc theo những năm tháng oan trái nhất của lịch sử...

“Tình Ca Việt Nam” là tựa đề của băng nhạc đầu tiên và duy nhất do người khai sinh chương trình “Nhạc Chủ Ðề” - nhà văn Nguyễn Ðình Toàn - thực hiện vào năm 1970. Ngày đó trên quê hương chúng ta, compact disc và video chưa xuất hiện, mới chỉ có hình thức“bande magnetique”, và các phòng thâu băng cũng chưa có những thiết bị kỹ thuật tối tân để lọc âm thanh, ghép tiếng hát... Nhưng ngày đó cơn lốc chiến tranh đã cuốn hàng triệu người tuổi trẻ tù thành phố ra sa trường và đưa lửa đạn mịt mù từ sa trường về thành phố. Giữa giông bão chiến tranh, trong nỗi mong manh bọt bèo của thân phận con người và số phận đất nước, những ca khúc bất hủ của kho tàng tình ca Việt Nam được ghi lại và cất lên qua những giai điệu tuyệt vời nhất, vào giai đoạn thăng hoa nhất của những tiếng hát Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác, Sĩ Phú, Võ Anh Tuấn, tiếng dương cầm của Nghiêm Phú Phi và Lê Vũ Lê Văn Chấn, tiếng vĩ cầm của Ðan Thọ, Tuấn Khanh, Phạm Văn Phúc, Ðào Duy... tiếng clarinette của Ðỗ Thiều và Lê Ðô, tiếng đại hồ cầm của Nhật Bằng, nhịp trống của Trần Quang Mây...

Hơn ba mươi năm sau, khi khối người Việt Nam lưu lạc nơi hải ngoại đã chuyển tiếp từ thế hệ thứ nhất qua thế hệ thứ hai, rồi thế hệ thứ ba, “Tình Ca Việt Nam” mới được in và phát hành lần đầu tiên dưới hình thức CD. Nguyễn Ðình Toàn gửi đến thính giả mười lăm bài hát cũ của chương trình “Nhạc Chủ Ðề” trên làn sóng điện của Ðài Phát Thanh Sài Gòn, cùng lúc với tuyển tập ca khúc thứ hai do ông sáng tác “Tôi Muốn Nói Với Em”. Và như thế, phải chăng một nhịp cầu đã được nối trở lại?

Nhưng câu hỏi ấy đặt ra để làm gì nhỉ? Ba mươi quá đủ dài để dập vùi bao nhiêu cuộc đời, xé nát bao nhiêu giấc mơ, cuốn phăng bao nhiêu ân tình, nhưng vẫn chưa và có lẽ chẳng bao giờ xóa sạch được dấu vết kỷ niệm trên ký ức của những người đã lạc nhau trong một cuộc bể dâu. Ba mươi năm trước, khi viết lời giới thiệu “Hướng Về Hà Nội”, Nguyễn Ðình Toàn nhắn nhủ rằng sự chia lìa hai thành phố trên cùng một đất nước cũng đớn đau y như cuộc phân ly giữa những cặp tình nhân sinh ra đời để yêu nhau. Bây gờ đây, có những người mở mắt chào đời ở Hà Nội và trưởng thành ở Sài Gòn nhưng chẳng biết có còn được một ngày trở về để nhìn lại hai thành phố thân yêu ấy lần nữa hay không. Sự chia lìa giữa người và người đã trộn lẫn trong cuộc phân ly giữa người và quê hương, cũng như những con sông đều trở thành dòng vĩnh biệt để chảy vào biển cả câm lặng.

“Ta đã xa nhau như đời xa cõi chết

Có bao giờ

Còn có bao giờ ta thấy lại nhau không?”

Ðó là lời hát của “Em Còn Yêu Anh”, một trong những ca khúc Nguyễn Ðình Toàn viết khi ông sống sót trở về từ lao tù và ngơ ngác giữa một thành phố đã bị đổi tên, trên một quê hương nơi mà “sông chia dòng vĩnh biệt” và “người với người đã trở thành thiên tai”. Mỗi ca khúc ấy là hóa thân của một bài thơ, được viết trong đầu rồi hát trong tim, như sự mài dũa trí nhớ để chống chọi với một cơn mộng dữ. Nhưng dẫu cho đau buồn bao nhiêu và cay đắng chừng nào, những bài thơ ấy vẫn còn nguyên vẹn sự óng chuốt và mềm mại, cũng giống như những lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” của thập niên 60.

Thật là kỳ lạ khi mỗi câu thơ và lời hát này, sau bao nhiêu đợt sóng quay cuồng của định mệnh, vẫn có thể mang người ta trở lại với một ngày nắng vui hay một chiều mưa buồn, một buổi sớm mai trong mảnh vườn nhỏ của Hà Nội hay một đêm khuya hiu hắt trên đường phố Sài Gòn. Nếu người ta tái ngộ với chính mình qua những dòng thơ “Em Ðến Thăm Anh Ðêm Ba Mươi” thì người ta cũng cảm thấy lòng trẻ lại với “Căn Nhà Xưa”. Cái rung cảm của năm nào “Tay em lạnh để cho tình mình ấm, môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm, sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan, trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết” - vẫn trở lại đầy ắp trong lời thầm thì của mấy chục năm sau: “Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải, nơi những sớm mai nằm nghe nắng ròn trên mái... Có những sớm em tìm đến, với những đóa hồng khép nép giữa vòng tay ôm... Nghe sau lưng em có chiếc lá mừng, đã đổi màu xanh lấy hương nồng...”

Những ca khúc ấy khiến người ta bâng khuâng tự hỏi: “Biết đâu có một ngày ở hai phương trời cách biệt mà cũng đều là đất khách quê người, có đôi tình nhân cũ tuy xa nhau hàng ngàn dặm nhưng đang cùng chia xẻ với nhau một thanh âm quen thuộc, để nhắn nhủ nhau rằng “ tình ca - những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người - bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau...”

***

“Tôi Muốn Nói Với Em” [2001] là tuyển tập ca khúc thứ hai của Nguyễn Ðình Toàn, sau tuyển tập “Hiên Cúc Vàng” [1999] với 10 ca khúc đánh dấu những ngày đầu tiên khi tác giả đặt chân tới nước Mỹ. Và tiếp theo đó là tuyển tập thứ ba: “Mưa Trên Cây Hoàng Lan” [2002]. Một trong những ca khúc của tuyển tập này, được trình bày qua giọng hát Khánh Ly, mang tên “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, với những lời hát mà ngay từ đầu năm 1976 đã trở thành rất quen thuộc với thính giả hải ngoại, nhưng dường như chỉ được biết đến dưới tựa đề bài hát “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” của một tác giả khuyết danh.

“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên - như dòng sông nước quẩn quanh buồn - như người đi cách mặt xa lòng - ta hỏi thầm em có nhớ không... Sài Gòn ơi, đến những ngày ôi thành phố xôn xao - trong niềm vui tiếng hỏi câu chào - sáng đời tươi thắm vạn sắc màu - còn gì đâu...”

Cũng như Hà Nội, Sài Gòn trong lời giới thiệu “Nhạc Chủ Ðề” có thể chỉ là một nơi chốn kỷ niệm nào đó - “một thành phố nơi người ta đã yêu nhau”. Nhưng đối với tác giả bài hát, và đối với cả một thế hệ những người yêu quý ông, Sài Gòn giống như một chiếc hộp thần bí mà Pandora đã vô tình mở ra, và những oan khiên thống khổ tràn ngập không gian là cái giá phải trả cho những hạnh phúc tuyệt vời mà người ta nhận từ thế giới huyễn hoặc của một thời tuổi trẻ.

Sài Gòn là nơi từ đó, suốt thập niên 60, qua làn sóng điện giữa đêm khuya thanh vắng, chương trình “Nhạc Chủ Ðề” đã gửi đến thính giả những viên ngọc trác tuyệt nhất của kho tàng tình ca Việt Nam, những sáng tác bất hủ của Ðoàn Chuẩn, Ðặng Thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Ngọc Bích, Lâm Tuyền, Phạm Duy, Hoàng Trọng, Nhật Bằng... mỗi bài hát là tặng vật vô giá mà chỉ riêng các cặp tình nhân Việt Nam mới có thể chia sẻ cùng nhau. Sài Gòn cũng là nơi mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết lên những ca khúc của chính ông, đầy chất thơ và miên man tình tự, ghi lại dấu vết những cuộc tình không may, nổi trôi giữa cơn gió định mệnh khắc nghiệt, trên một quê hương tan nát vì khói lửa đạn bom. “Một Ngày Sau Chiến Tranh” là một trong những ca khúc ấy, vẽ lên hình ảnh quê hương như trong giấc mơ, những người trai trẻ ra đi ngày nào khi trở lại thấy mình già, nhưng “dẫu sao lòng anh vẫn đầy bao nỗi vui, đóa xương rồng sắc tươi hồng trong bó gai, ôi gió mát trời xanh ơi, sông sâu chôn những hồn ai, cây cao đã héo bao nhiêu nụ đời...”

Tiếc thay chiến tranh không tàn như trong một giấc mơ. Chiến tranh đã kết thúc bằng một cơn ác mộng, và ngay cả những viễn ảnh đen tối nhất vẽ nên bởi một đầu óc bi quan nhất cũng không thể so sánh nổi với thực tại về mức độ kinh hoàng. Cuộc chiến nửa thế kỷ chỉ kết thúc để mở đầu cho một thảm kịch mới, để biển Ðông trở thành mồ chôn cả triệu xác người, mảnh đất quê hương biến thành trại tù vĩ đại, và người ta bám víu vào mỗi cuộc chia ly như một niềm hy vọng đau xót. Trong những năm tháng nhọc nhằn cùng khổ, đầy bất trắc ấy, giữa một thành phố yêu dấu đã bị mất tên, có những người bạn thầm thì với nhau “Nước Mắt Cho Sài Gòn”, để nhớ... Rồi cơn sóng thời gian lại cuốn đi, hết thập niên 70, rồi hết thập niên 80, cuộc bể dâu tiếp tục vùi dập từng mảnh đời, chia xa những thân tình, thử thách những số mệnh, như âm vang của một lời tiên tri nhẹ nhàng nhưng đau đớn:

“Này đường xưa tôi đi

Khóm cây bao lần thay lá nhớ

Dòng đời trôi quanh co

Có khi xui người lỗi hẹn hò...”

Dường như mỗi bài hát mà Nguyễn Ðình Toàn đã viết và mang theo khi ông rời xa quê hương là dấu vết còn sót lại của một thời mà người ta cùng nghe với nhau và hát cho nhau nghe những bản tình ca. Những bài hát ấy rất buồn, mỗi lời hát có thể như một tiếng thở dài chua xót, nhưng đó là ngôn ngữ của tình ca, của hạnh phúc và khổ ải quyện lẫn với nhau thành tặng phẩm của trần gian. Như ai đã nói: “Chẳng có gì khác biệt giữa những giọt lệ khóc thương và những giọt lệ mừng vui”, biết đâu mỗi kỷ niệm đắng cay âm thầm chứa đựng một phút giây hạnh phúc?

Và nếu Sài Gòn - như lời hát viết cho một người tình đã mất tên - chính là chiếc hộp oan nghiệt mà Pandora đã mở ra, thì người ta cũng có thể nhắc nhở nhau rằng chiếc hộp ấy đã được đóng lại sau khi tất cả những thống khổ và bất hạnh đã tràn ngập không gian, và nơi đáy hộp vẫn còn sót lại một tặng vật cuối cùng, mang tên hy vọng, để Sài Gòn sẽ không mãi mãi chỉ là một “Quê Hương Thu Nhỏ” trong lòng người viễn xứ.

Ðào Trường Phúc

Nguồn: Nguoiviet Online

ÐỖ LỄ

Bạn,

Tìm dược một số bài hay của tác giả Nguyễn Đình Toàn trên trang báo Người Việt, trong đó có bài về nhạc sĩ Đỗ Lễ. Hồi đó tôi cũng có ghi danh học lớp ghi-ta vài tháng do Thầy Đỗ Lễ dạy, trên lầu của một chung cư nằm trên đường Võ Tánh thì phải, gần Tượng Thánh Gióng Ngã Sáu Sài gòn. Trong khu chung cư ấy cũng có một ông thầy dạy đánh trống hay lắm, có lúc tôi nghĩ nếu theo học ông thầy đó chắc giờ này cũng biết vò vẽ ...

Bạn ấn vào label Nguyễn Đình Toàn cuối bài để xem các bài còn lại nghe.

Thân mến,

****

ÐỖ LỄ

Nguyễn Ðình Toàn

Ðỗ Lễ viết nhiều tình ca. Có thể nói, nhạc Ðỗ Lễ dành cho tình ca, như những con nước, lớn nhỏ đều tuôn ra biển. Cứ nghe ông đặt tên các ca khúc của mình người ta đủ thấy điều đó: Hận Tình, Lời Người Yêu, Oan Trái, Sang Ngang, Tan Vỡ, Tình Buồn, Tình Phụ, Tuyệt Tình... Sự thực, trong đời sống, để ca ngợi tình yêu, còn gì thích hợp hơn nhạc và thơ? Nên có thể nói, các nhạc sĩ của chúng ta, không ai không viết tình ca. Nhiều người viết rồi, khi về già, còn tỏ ý tiếc, đã không viết nhiều tình ca hơn nữa. Trừ những người, chỉ viết một bài, và, cái bài duy nhất ấy lại không phải là tình ca, người ta không biết, nếu người ấy viết thêm nữa, liệu có viết tình ca chăng? (Tuy vậy, trong nhạc của chúng ta cũng có một hiện tượng khác thường đó là Ðỗ Nhuận: sự nghiệp âm nhạc của ông khá đồ sộ, nhưng ông không viết một bài tình ca nào. Chẳng những thế, nếu có dịp nghe lại nhạc Ðỗ Nhuận, căn cứ vào những gì được phổ biến, người ta còn thấy, toàn bộ ca từ của ông, không có một câu nào “gần” với lời tỏ tình, chỉ “gần” thôi, cũng không có! Người ta tò mò tự hỏi, không biết trước khi có nhạc Ðỗ Nhuận, bản thân, ông hát thứ nhạc nào nhỉ?)

Ðỗ Lễ viết nhiều tình ca. Hai ca khúc được yêu thích nhất của ông là Sang Ngang và Tan Vỡ. Ðã có một thời, ở Sài Gòn, đêm đêm, người ta đến phòng trà Queen Bee để nghe Lệ Thu hát Sang Ngang của Ðỗ Lễ:

“Thôi nín đi em

Lệ đẫm vai rồi

Buồn thương nhớ ơi

Em hỡi đôi mình

Mộng nay đã tan

Tình đã dở dang

Em khóc những chiều

Anh xót xa nhiều

Thương cho tình yêu

Nỗi buồn chua cay

Khi lòng đổi thay

Thôi hết sum vầy

Nếu biết rằng tình là dây oan

Nếu biết rằng hợp rồi sẽ tan

Nếu biết rằng yêu là đau khổ

Thà dương gian đừng có đôi mình

Lau mắt đi em

Gần hết đêm rồi

Buồn thêm nữa sao

Mai bước sang ngang

Lòng thêm nát tan

Tình đã dở dang

Thôi khóc làm gì

Ðã lỡ duyên thề

Thương nhau làm chi

Nỗi buồn chua cay

Khi lòng đổi thay

Xa cách nhau rồi”

Tình ca Ðỗ Lễ ngọt ngào, đắm đuối. Ông chỉ nói những điều khi yêu người ta thường nói với mình và nói với nhau, không vặn vẹo ngôn ngữ. Lời thở than chính là hình bóng của niềm mộng mơ. Hãy cứ yêu như thế và được yêu như thế, không đủ hạnh phúc sao.

Sự thật hôm nay không thật đến ngày mai

Thì ân ái có bao giờ lại cũ?

Cần chi phải đi tìm những điều khác/lạ?

Ra khỏi nước sau biến cố Tháng Tư, 1975, Ðỗ Lễ đã trở về thăm Việt Nam Tháng Ba, 1997, và chết bất ngờ. Những người còn ở lại Sài Gòn khi ấy nghe tin ông qua đời với nghi vấn là một cuộc tự sát.

Lý do nào đủ, khiến người ta có một quyết định kinh khủng như vậy?

Và tình ca có nghĩa gì trước cái chết như thế?

Tan Vỡ

Bao nguồn vui đã mất

Lòng chết theo ngàn tiếng ca

Nghe niềm đau day dứt

Hoa lá nức nở xót xa

Khi tình yêu đã đến

Lòng đắm say ngàn ước mơ

Ôi mộng tình đôi lứa

Êm ái như như ngàn ý thơ

Khi tình vỡ tan theo mơ ước một đời

Trong niềm băng giá

Con tim thổn thức khôn nguôi

Em ơi nếu biết thế

Thà đừng quen nhau

Ðừng mơ phút ban đầu

Cho tình ta thêm sâu

Phấn son chưa nhạt môi hồng

Xa xôi em còn nhớ không

Một chiều mưa bay giăng giăng

Anh gửi màu hoa tím

Như màu máu con tim

Ðang tàn lửa hương duyên

Một mai mang xuống tuyền đài

Bóng hình em muôn kiếp không phai

Nguyễn Ðình Toàn

Viết cho Bố

Quỳnh Giao

Ngày còn bé, tôi thèm có cha vì mất ông từ khi mình mới lên năm.

Sau đấy, hàng năm, cứ mỗi ngày khai trường thấy bạn bè có bố mẹ đưa đi nhập học, tôi lại thấy tủi thân vì không có ai để gọi bằng bố. Khi thân mẫu tái giá với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, các em gọi ông bằng bố, còn anh Minh và người viết gọi ông bằng “cậu.” Cứ thế nên tôi thèm tiếng “bố” biết bao.

Tôi lập gia đình năm 1968, người hôn phối trước mồ côi cả cha lẫn mẹ, chỉ còn người chú và hai người cậu, tất cả chị em đều ở ngoài Bắc. Tôi lại vẫn chưa được gọi bố bao giờ!


Khi thành hôn với anh Nghĩa, tôi được gặp bố mẹ chồng và một gia đình tám anh chị em gắn bó quây quần. Mẹ tôi cũng vui mừng khi gặp gia đình bên chồng tôi, rất Tây học và vô cùng phóng khoáng. Dù xuất thân từ một gia đình cổ kính, tính mẹ tôi xưa nay vẫn hào sảng và phong lưu rất mực. Khi đi dự tiệc ra mắt họ hàng của chúng tôi, em gái út của tôi là Vân Dung vui mừng nói: “lần đầu nghe chị Trang gọi ‘bố’ đấy!”

Nghe cả nhà kể chuyện bố mẹ thành hôn gần bảy chục năm trước thì quả là ly kỳ.

Chẳng là mẹ của chúng tôi khi xưa là hoa khôi. Bà đẹp nổi tiếng nên còn đi học mà đã có nhiều người bắn tiếng dạm hỏi. Còn bố chỉ là một thư sinh chỉ có manh áo the trên chiếc xe đạp không “phanh” mà cũng chẳng có “garde boue”! Cứ nghe thấy ông tham này hay ông biện nọ tính hỏi người đẹp của mình, ông đạp xe tới tận nhà người ta dọa đánh vì một lý do ông cho là cực kỳ chính đáng: “Vì tôi yêu cô Thảo! Biết chưa?” Những gia đình Hà Nội kia thấy vậy đều ớn. Lại nghe nói là anh chàng du côn này có học đánh bốc, và vô địch bơi lội nữa đấy!

Có lẽ nhờ bác Châu (anh của mẹ) lại là anh rể của bố vì lấy bác Bảo (chị gái của bố) nên bố tôi chả phải “uýnh lộn” với ai mà vẫn chiếm được trái tim của mẹ sau khi khai quang dọn sạch chu vi chung quanh người đẹp. Nhưng tôi thì nghĩ rằng mẹ phải lòng bố là đúng rồi, vì bố chúng tôi thuộc loại đẹp trai, còn rất trẻ vì hơn có hai tuổi, lại học giỏi nữa, còn ai xứng đôi hơn...

Là con trai trưởng, bố tôi tự lập từ trẻ. Ông phụng dưỡng cha mẹ và nuôi nấng ba em trai và bầy con tám đứa. Từ Hải Phòng ra đến Hà Nội, rồi từ Hà Nội di cư vào Nam. Cuộc đời khi lên khi xuống, ông gánh vác lo toan cho cả nhà. Mẹ tôi được bạn bè khen là tốt phúc vì có chồng tốt, sống phong lưu và hạnh phúc cả đời. Mẹ là người thích đọc sách, bố lại là người ham hành động cho nên hai người thật ra rất hợp nhau. Bố thuộc loại cái gì cũng giỏi, học giỏi đã đành, ông còn nhẩy đầm điệu nghệ, chơi “mạt chược” thuộc loại cao thủ, và ăn diện rất bảnh bao. Mẹ tôi khi trẻ có lẽ cũng đôi lần ghen tuông vì bố có nhiều người ái mộ, nhưng bố chỉ yêu mình mẹ, lại thêm bà nội cũng thương và bảo vệ con dâu kỹ lắm! Các người đẹp quanh bố chịu thua chứ làm gì nữa!

Năm 1975 lại một lần di tản cùng gia đình, bố mẹ gom góp tiền bạc mở cây xăng ở San Francisco nhưng tâm trí của bố không nằm ở đó. Là một doanh gia thành công ở nhà, ông chỉ mơ xây dựng những dự án trọng đại cho Việt Nam nên tiền bạc trút hết vào máy móc cơ xưởng. Khi ông ra đi là đi trắng tay, đành mở trạm xăng qua ngày và sau cùng lại dẹp. Ông dọn đi Texas làm việc kiểm tra ngành xây cất rồi sau đó lại về quận Cam nghỉ hưu cho gần con cái.

Suốt đời ông tận tụy làm việc siêng năng, nhiều công trình ông thiết kế ngày nay vẫn còn và nổi tiếng là bền. Trên bảy mươi ông vẫn muốn làm việc có ích cho xã hội, cho quê hương và hay nói về hoài bão của mình mà nhiều người không hiểu!

Bố ít nói ra nhưng dạy cho chúng tôi rất nhiều qua cách hành xử: là chăm chỉ làm việc, rộng rãi với gia đình và bạn bè. Ðiều mà riêng tôi thú vị nhất là tính “đỏm dáng” của ông! Ông luôn luôn ăn mặc đẹp, nước hoa thơm tho, và nhất nụ cười luôn nở trên môi. Ngày đầu tiên gặp ông cách đây hơn hai chục năm, thấy tôi ông nở nụ cười, tôi thấy lòng như nở hoa...

Từ đấy, mỗi khi gặp ông, tôi lo mặc áo quần đẹp đẽ, hợp thời. Ngay cả khi ông bị bệnh, phải vào trong home care, lũ chúng tôi bảo nhau phải ăn mặc đẹp khi vào hầu thăm bố. Khi thấy con cháu tươi tốt, đẹp đẽ, ông tỏ vẻ vui. Tôi được giao nhiệm vụ mua “eau de cologne” cho bố và đến cắt tóc cho bố hàng tháng, hãnh diện lắm chứ!

Từ khi bố yếu, mẹ dọn về ở nhà Cẩm Anh, đứa con gái út nhà ở gần Orange Hill xa tắp. Mẹ tôi mỗi tuần đi xe bus vào thăm bố hai ba lần, rồi lại đi xe bus về. Ngồi bên cạnh nhau trong phòng, đôi lần tôi bắt gặp bố nắm tay mẹ thật chặt, lòng bỗng thấy xốn xang.

Bố nằm như thế trong hơn hai năm trời, ngày một yếu dần. Cuối cùng thì ông bị sưng phổi, phải đưa vào bịnh viện. Cả cơ thể suy nhược nên nhà thương đành bó tay. Hai ngày sau khi rời khỏi nhà thương, ông ra đi thanh thản nhẹ nhàng. Tám người con từ các nơi kịp thời tụ về thăm bố, và gia đình hai người em trai của ông đều có mặt. Giây phút cuối, ông được Hòa Thượng Chơn Thành đến bên giường nói chuyện và tụng kinh rồi một giờ sau là đi, da dẻ hồng hào, tươi tốt, mịn màng. Bố thật là may mắn và có phúc.

Bố ơi, bố thường khen con thật thà. Hôm nay con viết những lời thật thà này vì nhớ bố, thương mẹ. Từ trên ấy, bố biết chắc lũ con cháu sẽ luôn thương yêu nhau và lo lắng cho mẹ thay bố. Bố hãy yên tâm, thư thái nhé bố...

Xuân Tha Hương

Nguyễn Đình Toàn

Cuộc đời phiền muộn, điều chúng ta mong nhiều khi không đến, cái chẳng đợi lại tới như không gì cản được : muà Xuân chẳng hạn. Vì thế đã có người kêu lên :

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Mang chi xuân lại, gợi chi sầu
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau


Xuân này nữa có người tha hương đã hơn ba chục năm, có ngươì mươi mười lăm năm, có người đây là cái Tết đầu tiên ở nước ngoài.

Xa Việt Nam đã lâu hay chỉ mới đây thôi, Tết đến, đã là nguời Việt Nam, ai nấy hầu như đều có chung một môí ưu tư : tấc lòng cố hương.

Cố hương kêu gọi chúng ta hay chính lòng chúng ta đang réo tiếng âm thầm vọng về cái nơi đã nghìn trùng xa cách ấy?

Ngoài phố mưa bay Xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
Hỡi ôi ! Bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta hẳn cũng về

Cái chốn “ngoài trôi giạt” trong mấy câu thơ ấy của Thâm Tâm có xa, chắc cũng không xa bằng cái khoảng cách chúng ta đang sống đây đối với quê hương.

Về!

Nhưng về đâu đây?

Về Việt Nam, hẳn vậy.

Thế nhưng chúng ta đã chẳng từ đó bỏ ra đi ư?

Một cuộc trở về như người ta có thể làm được hiện nay, đã có thể gọi được là một cuộc trở về chưa?

Ta về hay không về được, mùa Xuân vẫn cứ tới. Trẻ thêm một tuổi lớn lên. Ta thêm một tuổi già đi.

Tết này chưa chắc em về được
Em gửi về đây một tấm lòng
Chị có một em, em một chị
Trời làm ngăn cách mấy con sông!

Cái khoảng cách Nguyễn Bính nói đến này, hình như cũng ở đâu đó kề bên cái chỗ Thâm Tâm vừa nói đến.

Mấy con sông? Chỉ có mấy con sông thôi sao?

Ôi biết bao nhiêu câu hỏi cứ như hương trầm thắp lên, đèn nến thắp lên, không cháy lên được cứ tỏa khói mịt mù, đổ tro tàn xuống lòng viễn xứ.

Nhớ!

Hình như người Việt Nam chúng ta mắc chung một cái bệnh nhớ. Miếng ngon nhớ lâu. Đòn đau nhớ đời. Cái đáng nhớ thì nhớ đã đành. Cái không ra gì cũng nhớ.

Có người cho rằng chính cái nỗi “gì cũng nhớ” ấy đã cầm chân chúng ta không ít. Không đi đâu được. Không đi xa được.

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình

Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà

Trên đường về nhớ đầy

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá

Nguyễn Du, Tản Đà, Hồ Dzếnh, Tế Hanh... và còn có thể kể thêm tên nhiều người nữa. Nỗi nhớ tràn gập trong thi ca, âm nhạc của chúng ta.

Nhớ tình. Nhớ nhà. Nhớ cái không khí mình đã thở. Nói như Hồ Dzếnh : “nhớ đầy” thì không biết ông nhớ những gì. Nhưng cái cảm tưởng ấy dường như ai cũng từng có lần trải qua.

Bao nhiêu chuyện đã xẩy ra, nhớ lại càng thêm sợ.

Chúng ta hãy thả hồn trở lại thuở quê hương còn đẹp như thần thoại, “nụ tầm xuân nở ra xanh biếc” khắp mọi nơi. Tình là một bài thơ dẫu có kết thúc ở chỗ “không biềt đâu mà gỡ” vẫn không làm ai sợ. Người ta còn ước ao được sống một lần như thế trong đời nữa.

Cái sợi tơ hồng vương vấn ấy leo mọc khắp ca dao của chúng ta, còn vươn dài thêm mãi, còn buộc lấy mọi người.

Một dân tộc được sinh ra trong một cuộc tình dài như thế, nối với nhau trong nghĩa nặng như thế, không hiểu sao chúng ta cứ mãi lận đận.

Bốn mùa của quê hương chúng ta là bốn mùa tình ái.

Cứ đem thơ của chúng ta ra mà đọc, cứ mở nhạc của chúng ta ra mà nghe, ngươì ta sẽ thấy đó là sự thực.

Một chiếc quán bên đuờng, một mái tranh xiêu vẹo, một bến đò, một con đường đất nhỏ, một nhịp cầu tre... đều cố thể là dề tài của một bài thơ, chỗ khởi đầu của một chuyện tình, cảm hứng của một bài ca hạnh phúc.

Đừng than tình lỡ dở.

Bởi vì tình tự nó đã là hạnh phúc.

Nếu không được một lần, vì tình, nhỏ lệ trong đời thì đó mới là điều đáng khóc!

Mấy chục năm qua, chúng ta đã quen với những cái tết tha phương, nhưng ngồi nhớ lại những ngày đầu lưu lạc, chúng ta vẫn không tránh khỏi lạnh người kinh sợ :

Ôi hỡi quê hương bè bạn cũ
Những ai còn mất giữa sa mù
Mất nhau từ buổi tàn Xuân đó
Không một tin nhà một cánh thư
Biền biệt thời gian mòn mỏi đợi
Rối bời tâm sự tuyết đan tơ
Mỗi năm người có mười hai tháng
Ta trọn năm dài Một Tháng Tư!


Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho giông bão phũ phàng đưa
Đầu thai lần nữa trên trần thế
Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Tập làm con trẻ nói ngu ngơ

Người viết ra những câu thơ ấy : Thanh Nam đau nỗi đau không nhìn thấy bằng hữu cũ, nay chúng ta buồn vì không thấy lại ông.

Nhưng thôi, chúng ta hãy ngưng nói đến những chuyện tang thưong biến đổi. Hãy đọc lại thơ Xuân, nghe lại nhạc Xuân của chúng ta một thời, những gì người ta đã cố tình xóa bỏ đi, bây giờ lại đang bắt đầu cho lưu hành trở lại, để làm gì thì chỉ những người làm như thế biết :

Em đến thăm anh đêm ba mươi
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi
Anh nói nhỏ với người phu quét đường
Xin một chiếc lá vàng làm bằng chứng


Tay em lạnh để cho tình mình ấm
Môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm
Sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan
Trời sắp tết hay lòng mình đang tết

Mùa xuân qua buồn xưa bay đi hết
Môt mình anh ngồi bên bờ sông
nhìn nước chảy
Dòng sông đen nhánh mạch dầu
Những vì sao kỷ niệm mọc lên như thủy tinh
Như tận đáy hồn tối tăm
Anh gọi tên em mà nghe vỡ hồn mình tiếng vang im lặng
Sương mù tan trong một hơi gió lộng
Khi con cá nhỏ vỡ một vầng trăng



Những câu thơ trên, rút ra từ bài thơ “Kỷ Niệm Rời, Một Người Yêu”, của Nguyễn Đình Toàn, khi trở thành ca khúc, có tên là Em Đến Thăm Anh Đêm Ba Mươi” nhạc Vũ Thành An.

Đã có một thời, ở Sài Gòn , mỗi dịp Tết đến, ca khúc này thường đuợc phát trên sóng các đài phát thanh của chúng ta, qua nhiều giọng hát khác nhau.

Nguồn: báo Viet Tide

Nguyễn Ðình Toàn - Dẫn Em Vào Nhạc

Quỳnh Giao

Ngày còn bé, Nguyễn Ðình Toàn không biết đánh đáo.

Ông đánh mạt chược thuộc loại đáo để và ăn nói còn đáo để hơn trên bàn mạt chược, nhưng Quỳnh Giao nghi là ông không biết đánh đáo. Hoặc có lẽ không thèm đánh đáo. Ở tuổi ấu thơ, Nguyễn Ðình Toàn ham mê chuyện khác, để ý đến chuyện khác, chuyện thi ca chẳng hạn, thơ và nhạc.

Người ta có thể kết luận như trên khi đọc tập bút ký của ông viết về 190 tác giả, có tựa đề là “Bông Hồng Tạ Ơn” vừa được ra mắt tại báo quán Người Việt chiều 28 Tháng Mười vừa qua. Quỳnh Giao không viết về ông trước ngày đó như để giới thiệu sinh hoạt này.

Nguyễn Ðình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu.

Nguyễn Ðình Toàn có lẽ không đánh đáo với chúng bạn đồng tuổi vì ông mải nhìn mây, nghe nhạc, đọc văn và tìm hiểu về thơ. Không vậy, ông đã chẳng có một ký ức đầy ắp về những nghệ sĩ đã nổi danh từ thập niên 1950. Ông biết về họ rất tường tận, trước khi chính mình bước vào thế giới đó.

Giới yêu văn học thì biết Nguyễn Ðình Toàn qua các tác phẩm văn chương. Ông là một nhà văn nổi tiếng, có độc giả và từng được Giải Thưởng Văn Chương với Áo Mơ Phai, tác phẩm làm ông bị khổ sở không ít sau năm 1975.

Ông còn khổ sở hơn vì không chịu cúi đầu, vẫn cứ ngang ngạnh khi gặp cảnh tù đày.

Sau khi được thả ra, ông còn ngang ngạnh (dùng chữ hiên ngang tất sẽ làm ông khó chịu!) và khi chế độ trong nước thay đổi, xin tái bản lại Áo Mơ Phai, ông vẫn ngang ngạnh: “Các anh muốn làm gì chẳng được, nhưng đã hỏi tôi khi muốn tái bản thì tôi chỉ xin các anh ghi vào lời tựa lý do vì sao đã kết án tác phẩm và bỏ tù tác giả!”

Ðược tái bản sách, nhiều người rất thích và đành nhịn. Nguyễn Ðình Toàn lại có cách từ chối đáo để như vậy thì... ai mà nhịn được!

Giới yêu thơ cũng từng mê thơ Nguyễn Ðình Toàn, đã được đọc lại còn được nghe.

Quỳnh Giao xin nói về chuyện nghe thơ này.

Thời ấy, vào thập niên 1960 trở về sau, các ban tân nhạc trên đài phát thanh đều có xướng ngôn viên của đài hoặc chính các ca sĩ tự giới thiệu lấy trước khi trình bày. Và người ta không có lời giới thiệu (tiền thân của giới EmXi MC thời nay) để cho tác phẩm một cái mũ, một cái “châpeau” dẫn vào tác phẩm và nghệ sĩ trình bày.

Ngoại lệ có tính chất tiên phong là chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” của Anh Ngọc, do Mai Thảo viết châpeau dẫn thính giả vào nhạc. Ông có cách hành văn rất tây, với lối dùng chữ mới lạ, dễ “bắt tai” thính giả. Hàng tuần, thính giả chờ đón để được nghe các ca khúc nghệ thuật mà người hát, hòa âm, và cả lời giới thiệu đều trau chuốt bóng bảy. Người đọc những dòng giới thiệu thường là Anh Ngọc, Mai Thảo, đôi khi Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương và cả Quỳnh Giao.

Người không đội mũ nhưng gắn hoa và thổi mây lên từng ca khúc nghệ thuật là Nguyễn Ðình Toàn, với chương trình gọi là “Nhạc chủ đề”.

Ông viết lời giới thiệu như người ta làm thơ. Văn phong của ông cổ điển hơn, khác với lối viết của Mai Thảo hay lời nhạc Trịnh Công Sơn, nhưng là một loại thơ dẫn vào nhạc.

Chương trình ăn khách và thực sự tạo ra một trào lưu chính là nhờ giọng nói truyền cảm, như lời thủ thỉ, của Nguyễn Ðình Toàn. Ông dẫn thính giả vào nhạc bằng câu “Hỡi em yêu dấu” như chỉ nói với một người. Qua làn sóng điện người nghe thấy ông thầm thì với riêng mình về những cảm xúc do ca khúc gợi lên. Ông tạo ra một không khí tình cảm dịu dàng điệu nghệ để người nghe chuẩn bị đón nhận...

Lời thủ thỉ ấy đẹp như thơ làm thính giả phái nữ thấy lòng mình chùng xuống.

Ðáng lẽ, chương trình ấy phải được gọi là “Dẫn em vào nhạc” mới phải, nhưng thời ấy chúng ta chưa dám táo bạo như thế! Qua cách nói... “hỡi em yêu dấu”, rõ là Nguyễn Ðình Toàn chỉ nói với phái đẹp. Vào quãng thời gian ấy, ông còn quá trẻ để gọi thính giả nam phái là “em”!

Mà ông không cao ngạo như Ðinh Hùng khi xưng là “ta” với người đẹp, ông mộc mạc nhũn nhặn xưng là “tôi”.

Thế mới chết... chị Thu Hồng!

Nhớ lại thì nếu Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc gồm những giọng hát thượng thặng của thời đó trình bày, được chính ông chọn lọc và bầy bán giới hạn tại cửa hàng Au Printemps gần thương xá Tax, đã dẫn tới một ngành sinh hoạt mới là các trung tâm thực hiện băng nhạc, thì chương trình Nhạc Chủ Ðề của Nguyễn Ðình Toàn đã là nơi báo hiệu hào quang lên những ca sĩ sau này là tên tuổi lẫy lừng, như Sĩ Phú, Khánh Ly, Lệ Thu...

Phải nói rằng nhiều ca sĩ thường xuyên cộng tác với đài phát thanh hoặc xuất thân từ các gia đình nghệ sĩ thì đã được... “lăng xê” từ trước và họ thực sự là những người chuyên nghiệp vì sự đòi hỏi của các đài phát thanh. Chương trình của Nguyễn Ðình Toàn lại khác.

Ông mời những giọng hát tài tử trong tinh thần “hát cho vui”, hát vì nghệ thuật.

Luật gia Khuất Duy Trác thuộc thành phần ấy và đóng góp rất nhiều cho chương trình này. Một thí dụ khác là kỹ sư địa chất Võ Anh Tuấn - người tham dự việc tìm ra mỏ dầu đầu tiên - được mời hát Dạ Khúc của Nguyễn Mỹ Ca với giọng Nam như Trần Văn Trạch. Theo Quỳnh Giao, bài thành công nhất của Võ Anh Tuấn là Giọt Mưa Thu của Ðặng Thế Phong. Miền Nam không có mưa Thu Hà Nội, Nguyễn Ðình Toàn khơi dậy Mùa Thu ấy trong tâm cảnh của chúng ta ở miền Nam qua cách trình bày của Võ Anh Tuấn.

Không có cái tai thẩm âm, ai lại dám làm điều ngược ngạo ấy vì thời đó và sau này, hát theo giọng Bắc mới được coi là hay!

Cũng qua chương trình Nguyễn Ðình Toàn, mà Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác hay Sĩ Phú, v.v... đã là những tiếng hát vượt không gian. Ra khỏi các sân khấu thành phố mà vang vọng khắp bốn vùng chiến thuật và tạo ra một làn sóng ngưỡng mộ từ đó không nguôi.

Ngay cả những ca khúc đầu tiên của Trịnh Công Sơn cũng đã như cánh vạc bay, và bay mãi, là từ chương trình Nhạc Chủ Ðề, qua tiếng hát Khánh Ly và lời thủ thỉ của Nguyễn Ðình Toàn.

“Những bản tình ca không có hạnh phúc” qua tiếng hát của “nàng góa phụ của cuộc chiến này” là cách Nguyễn Ðình Toàn giới thiệu ca khúc Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Có MC nào của đời nay làm chúng ta xúc động như vậy không?

Nguyễn Ðình Toàn là nhà văn, là thi sĩ và ông giới thiệu nhạc bằng cảm nhận của nhà thơ.

Ông cũng là nhạc sĩ đã sáng tác rất nhiều trong những năm về sau nhưng tác phẩm bị trùm lấp trong biến cố 1975. Khi ông ra đến ngoài này, sự thẩm âm của thiên hạ đã thay đổi. Người ta “hát giọng răng” (nói theo lối ví von của Phạm Duy, vì cô ca sĩ có hàm răng khấp khểnh) và giới thiệu ca khúc bằng vũ khúc...

Có lẽ vì vậy mà Nguyễn Ðình Toàn chưa cho ra mắt một tác phẩm đáng lẽ phải có tên là “Dẫn em vào nhạc Nguyễn Ðình Toàn”, mà lại viết về những người nghệ sĩ ông sợ là chúng ta sẽ quên.

Ông gửi tới họ những bông hồng tạ ơn qua tài năng cố hữu của ông, là dùng thơ dẫn người đọc vào ngôi vườn hoa của người khác.

Khi viết bài này, trong dư âm của một chương trình nhạc chủ đề của Nguyễn Ðình Toàn, (chủ đề cuốn băng là “tình ca”) Quỳnh Giao bồi hồi nghĩ là áo mơ chưa hề phai trong tâm khảm ông.

Nguyễn Ðình Toàn chỉ sợ những kỷ niệm cần trân quý của chúng ta bị phai lạt dần...


Nguồn: nguoi-viet.com

Phạm Quỳnh

NGUYỄN ĐÌNH TOÀN


Độc giả Việt Nam ở hải ngoại trong vài năm gầm đây, đã được đọc mấy tác phẩm của nhà văn Phạm Quỳnh, đó là các cuốn:

- Giải Oan Lập Một Đàn Tràng

- Phạm Quỳnh Tuyển Tập Và Di Cảo

- Phạm Quỳnh Hành Trình, Nhật Ký

Sách do các nhà Tâm Nguyện và An Tiêm xuất bản.

Như mọi người đều biết, vị vua cuối cùng của chúng ta là Bảo Đại.

Ông Phạm Quỳnh là Lại Bộ Thượng Thư, chức vụ tương đương với Thủ Tướng Chính Phủ hiện nay, trong triều đại cuối cùng ấy.

Ông vừa là nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa, vừa là chính trị gia, giữ chức vụ quan yếu nhất trong các Bộ, bên cạnh Hoàng Đế.

Hiển nhiên những gì ông viết ra, để lại, hết sức quan trọng đối với chúng ta, vì nó liên quan tới một giai đoạn lịch sử còn ảnh hưởng tới cả đất nước hiện tại.

Giải Oan Lập Một Đàn Tràng là chữ lấy trong truyện Kiều của Nguyễn Du [Giải oan lập một đàn tràng ven sông].

Ông Phạm Quỳnh cũng là người đã viết ra câu:

Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn.
Tiếng ta còn thì nước ta còn.

Dùng mấy chữ của Nguyễn Du để đặt tên cho tác phẩm của mình, có lẽ ông Phạm Quỳnh cũng hé mở cho mọi người thấy rằng, lịch sử cận đại của chúng ta có nhiều nỗi oan khiên chăng?

Hãy lấy đoản văn Một Ngày Một Đêm của ông làm thí dụ.

Cái ngày ông Phạm Quỳnh nói đến trong truyện của ông là ngày 9 và cái đêm đó là đêm 10 tháng Ba năm 1945.

Đó cũng là ngày và đêm Nhật đảo chính Pháp trên bán đảo Đông Dương.

Đọc Một Ngày Một Đêm chúng ta biết được, về phương diện lịch sử, vào thời điểm trọng đại ấy, Hoàng Đế và Triều Đình ta đã làm những gì?

Ông Phạm Quỳnh viết:

“Bấy giờ vào khoảng 9 giờ tối. Dùng cơm xong, tôi đang ngồi trong tư thất Bộ Lại, nói chuyện với con trai thứ tôi là Phạm Bích. Bấy giờ nghe tiếng súng nổ lung tung. Ra sân thì trông thấy đèn chiếu lấp loáng ở bên kia sông và tiếng nổ là tiếng súng liên thanh như tiếng pháo, khi ở phía trên, khi ở phía dưới.


Đương phân vân thì thấy quan Đề Đốc Hộ Thành Phan Gia Trung chạy vào Bộ. Ông nói: ‘Có biến to. Nghe đâu lính khố đỏ phản lại Tây, đương đánh nhau dữ. Xin cho đóng các cửa thành’. Tôi cũng hối ông truyền cho lính đóng chặt các cửa thành, nội bất xuất ngoại bất nhập.


Khi bấy giờ đứng ở thềm Bộ Lại, Ông Đề với tôi cùng sực nhớ Hoàng Đế và Hoàng Hậu ngự ra Quảng Trị đã mấy bữa nay, có lẽ chiều nay hay sáng mai về, nhưng chưa biết hiện giờ đã hồi loan chưa. Vì những khi các ngài ngự vi hành như thế này, thì chỉ lính canh trong Đại Nội và viên Võ Hộ Giá Tây mới biết giờ đi, giờ về mà thôi. Tôi nói với ông Đề: ‘Thôi quan lớn cứ đốc suất việc cấm phòng trong thành cho cẩn mật. Để tôi vô Nội, nếu Ngài đã hồi loan thì tôi chầu Ngài, nếu chưa thì tôi sẽ đi tìm Quan Ba Bon để hỏi’. Ông Đề cũng nói: ‘Phải đấy cụ nên vô Nội để chầu các Ngài là phải’. Bấy giờ, trời tối đen và hơi mưa phùn, ông liền nói: ‘Tôi sẵn cái xe tay kéo tôi đây, cụ lên xe mà đi cho mau’.

Như thế, theo lời kể của ông Phạm Quỳnh, chúng ta được biết, vào đêm xẩy ra vụ Nhật đảo chính Tây, Vua và Hoàng Hậu không có ở trong Đại Nội. Các quan thì cũng gần như chẳng biết chuyện gì đang xẩy ra, chỉ nghe nói ‘lính khố đỏ phản lại Tây’.

Sau đó người Nhật đã cho ông Phạm Quỳnh biết, qua một người thông ngôn:

“Hiện quân Nhật đang giải võ quân Pháp vì có việc lôi thôi giữa quân Nhật và quan Toàn Quyền Decoux. Nhưng không việc gì đến người Việt Nam ta”.

Giải võ xong người Pháp, người Nhật, chính xác là hai quan lãnh sự Watamata và Ishida đã đến Nội ‘xin chầu Hoàng Đế để tâu việc cần’, đúng như những chữ ông Phạm Quỳnh dùng.

Ông cho biết thêm:

“Buổi tiếp kiến này là một giai đoạn quan hệ trong lịch sử nước ta, vì là buổi đề cập tới vấn đề độc lập nước Việt Nam”.

Tình hình nước ta sau đó diễn ra thế nào cho đến nay, mọi người đã biết.

Có vài điều, chỉ khi đọc sách của ông nhiều người trong chúng ta mới biết, đó là cách xưng hô, các từ ngữ được dùng trong triều đình.

Chẳng hạn như xe của Vua gọi là “xe ngự”, xin được gặp Vua để trình việc gọi là “xin chầu” để “tâu”. Vua làm gì đó, chẳng hạn ra vào, gọi là “ngự”. Vua nói gọi là “ban”. Vua tha lỗi gọi là “ban xá”. Vua gọi các quan vào chầu gọi là “triệu”. Các quan gọi nhau dùng từ “quan lớn” hoặc thân mật thì gọi là “cụ”. Quân lính nói với các quan gọi là “bẩm”. Nghĩa là cũng gần giống như trong các truyện Tàu chúng ta thường đọc.

Cho đến năm 1945 trong triều đình hình như vẫn chưa có điện thoại, nên khi muốn thông tin gì đó, người ta vẫn phải tìm cách đi lại gặp nhau.

Vua đã di chuyển bằng xe hơi.

Nhưng các quan vẫn còn dùng “xe tay”, nghĩa là xe do người kéo.

Tuy Giải Oan Lập Một Đàn Tràng của Phạm Quỳnh đã được viết cách đây hơn nửa thế kỷ, nhưng cho đến nay vẫn còn có thể coi là mẫu mực cho những ai muốn học viết tiếng Việt một cách giản dị, mạch lạc, trong sáng.

Phạm Quỳnh cũng là người chủ trương tạp chí Nam Phong, tạp chí đã đóng góp rất nhiều vào việc khai hóa dân trí, nhất là bản lãnh trí thức các lớp thanh niên giữa giao thời Hán và Tây học.

Ông Phạm Quỳnh đã bị Cộng Sản giết chết khi họ cướp được chính quyền từ tay người Nhật.

Dư luận cho rằng, không biết đến bao giờ đất nước mới có được một bậc trí giả tầm cỡ như vậy.

Đọc sách đôi khi chúng ta không khỏi có lúc thắc mắc tự hỏi, tại sao, chúng ta không thiếu những nhà văn, nhà thơ, các học giả thông kim bác cổ, nhưng chúng ta lại không có những nhà tư tưởng, những triết gia?

Và đó có phải là lý do giải thích vì sao, văn học chúng ta không thực sự đạt tới những đỉnh cao?

Nguyên cớ của sự bất như sở nguyện ấy, có phải chính vì cái học của chúng ta, có điều gì đó, cần xét lại chăng?

Cái học nói tới ở đây là cái học của người xưa, ông Phạm Quỳnh, nhìn lại, suy ngẫm lại.

Trong một lá thư gửi bạn, ông Phạm Quỳnh viết:

“Xét ra cái tôn chỉ của đạo Nho ta là ở sự thực hành. Người đi học hễ đã biết suy nghĩ, tất có cái chí muốn thi thố ngay, vì học là cốt cho biết những lẽ khôn ngoan của các thánh hiền đời trước đã phát minh ra để trước là sửa mình, sau là tề nhà, sau nữa là trị nước; chứ học mà không đem ra ứng dụng được ở đời thời cái học ấy các cụ cho là không có giá trị gì.


Cứ lý tưởng mà xét thời cái chí ấy cũng không khỏi hẹp hòi một chút vì rằng, sự tư tưởng với sự hành động không tất nhiên là phải tùy thuộc lẫn nhau, nếu chỉ biết tư tưởng để mà hành động, thời tư tưởng ấy sẽ bị hành động hạn chế mà không bao giờ tiến lên được: coi như nước ta văn hiến đã từ bao giờ, tuy những bậc hiền nhân quân tử chẳng thiếu gì mà trước sau gọi được là bậc đại triết học có người nào? Chỉ vì cái quan niệm về sự học vấn tư tưởng của các cụ ta ngày xưa vụ thực quá, học để mà làm, chứ không học để cho biết, cho nên sự học không ra ngoài phạm vi việc làm, không siêu việt được lên cõi lý tưởng cao thượng thuần túy, như ở các nước văn minh khác: đó cũng là một khuyết điểm trong văn hóa cũ của chúng ta”.

Luận về cái học như vậy, nhưng ông Phạm Quỳnh cũng công nhận, về thực tế, cái chí của các cụ như thế cũng là hay lắm: nước ta sở dĩ sinh tồn được đến nay, từng trải biết bao nhiêu nông nỗi gian nan mà không đến lụn bại, cũng là nhờ cái chí đó của mấy mươi đời nho học.

Bàn về cái chí ấy của các cụ, ông Phạm Quỳnh viết:

“Tôi thường nghĩ đến cái chí ở việc đời của các các cụ ta ngày xưa mà lấy làm sợ: cái chí của các cụ thật là bền, là mạnh vô cùng, càng không siêu việt lắm lại càng cương nghị nhiều. Trừ những người bẩm tính đa sầu, muốn ẩn nhẫn cho an ủi chút lòng phiền muộn xa xôi, còn ai đã chuyên tâm về sự học hành cũng là có bụng về thời thế, cũng là mong có ngày đem tài kinh luân ra thi thố với đời, giúp cho dân, phù cho nước. Dẫu có muốn hiển đạt cho mình cũng là để cho tới địa vị có thể suy khứ được thời thế, biến hóa được nhân tâm, mà ra công phù trì cho thế đạo, chỉnh đốn lấy cương thường.


Mục đích sự học của người xưa rõ ràng như vậy, nên khổ công, dẫu bạc đầu chưa nghỉ và nếu chẳng toại chí thì lấy làm di hận suốt đời. Có yếm thế cũng có nghĩa là cùng không thể sao được nữa mới phải chịu để mình vào chốn bàng quan, chứ không lấy sự yếm thế làm chủ nghĩa một đời”.

Ông Phạm cho rằng, hình thức của nho học đã lỗi thời bỏ đi không lấy gì làm tiếc. Nhưng tinh thần kia phải cố mà cứu vớt, vì cả xã hội luân lý nước ta nương tựa vào đấy. Ông Phạm Quỳnh viết tiếp:

“Tinh thần nho học chính là ở cái chí về thế đạo cương thường, như ta nói ngày nay là nghĩa vụ về quốc gia, xã hội vậy. Nghĩa vụ ấy, phàm làm dân trong một nước ai cũng phải có một phần, nhưng nhất là kẻ thượng lưu học thức, lại càng phải nên thận trọng lắm. Ngày nay phàm người biết trông biết nghĩ, cũng từng nhận rằng buổi này là buổi giao thời, về chính trị, xã hội, luân lý, chưa đâu là thành rường mối cả, lòng người lơ láo không biết lấy gì làm phương châm, thành ra một cái xã hội sốc nổi, tạm bợ, người nào chỉ biết người nấy, mang nhiên không hiểu gì đến việc nước, việc đời, mà trong cách làm ăn cư xử có lắm điều thương phong hóa, bại cương thường mà không biết”.

Những điều ông Phạm viết ra đó, cách nay đã hơn nửa thế kỷ, có bao nhiêu điều còn đúng với cuộc sống chúng ta đang sống đây?

“Lấy cái chí giúp đời ngày xưa mà thi hành vào thời thế bây giờ, dùng phương pháp ngày nay mà đạt cái chí nguyện trăm năm của các cụ, đem học vấn tư tưởng giúp cho xã hội quốc gia, đó là phận sự của bọn mình.


Ngày xưa các cụ học là để sửa mình, tề nhà, trị nước, ngày nay chúng ta học cũng phải lấy ba điều đó làm mục đích. Tuy cái học xưa với cái học nay không giống nhau, mà tôn chỉ của sự học cũng là một, duy phương pháp để thực hành tôn chỉ ấy phải tùy thời thay đổi thôi.


Vậy nay ta phải đem hết trí tuệ mà nghiên cứu những vấn đề hiện thời rồi mới tìm phương giải quyết cho thỏa đáng. Ta phải bình tĩnh mà quan sát, vấn đề nào cũng phải xét cho hết các phương diện, tìm cho đến ngành ngọn, cứu cho ra gốc nguồn, rồi mới bầy tỏ một cách rõ ràng sáng suốt cho quốc dân đều được biết: vấn đề đã bầy tỏ rõ ràng thời giải quyết không khó, chỉ sợ mập mờ chưa tỏ mới lo thi thố sai lầm vậy”.

Tóm lại ông Phạm Quỳnh phân định việc học nhắm hai mục đích rõ rệt: học để biết và học để làm. Chúng ta chưa có những nhà tư tưởng thuần túy, nên chưa có triết gia. Những lời ông luận về “học để hành” có thể coi là những lơì tâm huyết. Nó còn giúp được gì cho học giới ngày nay chăng, điều ấy còn tùy thuộc mỗi người vậy.




NGUYỄN ĐÌNH TOÀN

Nguồn: Viet Tide