Showing posts with label Quỳnh Giao. Show all posts
Showing posts with label Quỳnh Giao. Show all posts

3.22.2026

Nghe Strauss trên giòng Danube

Quỳnh Giao

Nhiều người yêu nhạc vẫn coi Johannes Brahms là “truyền nhân” của Beethoven. Brahms thì lại ưa nhạc valse của Johann Strauss. Có lần, vì ngưỡng mộ, bà Strauss xin chữ ký của ông làm kỷ niệm, Brahms bèn viết lên giấy mấy cung dẫn vào bài Blue Danube của Strauss. Bên dưới, ông ghi thêm: “Ðáng tiếc vì không là của Johannes Brahms”.

Quỳnh Giao nghĩ đến giai thoại ấy khi thăm viếng Vienna.

Trên đại lộ chính của thành phố, vườn hoa có bức tượng của Strauss. Nhưng, nơi tòa nhà ngày xưa có căn gác của Strauss thì ngày nay ở bên dưới có nhà hàng McDonald's. Cây cầu vồng màu vàng của nhà hàng thịt bằm này có thể làm nhiều người yêu nhạc thấy bầm tím ruột gan.

Cũng may là tối đó, tấm lòng yêu nhạc có được chút an ủi khi dự buổi hòa nhạc trong một sảnh đường nhỏ của vườn hoa. Ban nhạc loại “thính phòng”, không lớn mà cũng chẳng là một dàn nhạc siêu hạng của Vienna. Họ cũng chỉ chơi nhạc loại nhẹ, easy listening, cho du khách mà thôi. Nhưng dĩ nhiên là có bài Blue Danube và Emperor's Waltz của Johann Strauss và cả nhạc Mozart, có một màn song ca trong vở Don Giovanni. Khi dàn nhạc tấu lên khúc Giòng Sông Xanh (The Blue Danube - Le Beau Danube Bleu như chúng ta hay gọi ngày xưa ở nhà) trên sân khấu các nghệ sĩ trình bày vũ khúc ballet theo tiếng nhạc.

Vienna xứng đáng là thủ đô thanh lịch và nghệ thuật của nước Áo - Austria. Dân Vienna vẫn chưa quên Strauss và bài “An der schonen blauen Donau” - Bên giòng sông Danube xanh đẹp.

Trong chuyến thăm viếng Âu Châu vừa qua, Quỳnh Giao được đi du thuyền - nói cho bảnh, thực ra là một khách sạn nổi - chạy dọc sông Danube. Thuyền khởi hành từ Passau của Ðức, một thành phố cổ kính soi mình bên giòng nước. Ðây là đoạn ba con sông Danube, Inn va Ils nhập lại thành một giòng. Khúc sông quanh co rất đẹp, nhìn lên những nhà thờ cổ kính. Nhưng nhìn xuống, giòng sông không có màu xanh lam như nhạc và lời đã viết! Không trong bằng sông Hương đã đành, Danube còn nhờ nhờ màu nâu lục. Vì môi sinh, vì kỹ nghệ hay vì giấc mơ màu xanh của người nghệ sĩ từ hơn một thế kỷ trước?

Về chiều dài, sông Danube chỉ thua giòng Volga của Nga nhưng vẫn là giòng sông nối liền cả chục quốc gia Âu Châu, khởi nguồn từ Ðức, chảy qua Austria, Hungary, Romania, v.v.. (làm sao nhớ hết khi không là nhà địa dư học!) trước khi đổ vào Hắc Hải, giữa Romania và Ukraine.

Từ Passau, thuyền đi một đêm đến thành phố Linz của Vienna, nơi gợi hứng cho Mozart trong bài Symphony số 36, về Linz. Thành phố xanh tươi màu cây cỏ và được giữ rất sạch và thơm. Từ đấy, du khách đi xe bus đến Salzburg, nơi sinh của Mozart cách nay đúng 250 năm. So với lần trước khi được đến thăm, cách nay đã 18 năm, Salzburg ngày nay đã đổi khác, hiện đại hơn mà cũng ồn ào bụi bặm hơn. Năm nay, nhịp tim Salzburg đập theo tiếng nhạc Mozart. Không thể khác được! Một ngày chỉ có nhạc và nhạc, Mozart và Mozart. Cũng là một cách tưởng nhớ một thiên tài.

Khúc sông Danube đẹp nhất được đi qua là giữa Melk và Durnstein, lòng sông mở ra rất rộng, ánh sáng lấp lánh, hai bờ là những ruộng nho xanh ngát thoai thoải chạy theo sườn núi. Chót vót trên đỉnh là những ngôi nhà thờ với gác chuông cổ kính rêu phong. Sống giữa khung cảnh ấy, làm sao có thể nghĩ đến chiến tranh và bom đạn? Vienna là thủ đô của một quốc gia trung lập của Âu Châu, nhờ vậy mà ít bị tàn phá? Nhưng, tiệm McDonald's dưới căn gác của Strauss là một nhắc nhở về sự tiến hóa nhiều khi tàn bạo của thời bình!

Strauss thực ra có tên là Johann Strauss Jr. (theo kiểu Mỹ) hay Johann Strauss II theo kiểu Âu Châu. Ông sinh năm 1825 trong một gia đình nhạc sĩ. Thân phụ tên Johann Strauss I là tay soạn nhạc nổi tiếng, cho tới khi Strauss II xuất hiện. Ngoài ra, ông còn hai người em là Josef và Edward cũng viết nhạc và cháu ông, con trai của Edward, cũng là một nhạc sĩ. Trong năm nhạc sĩ đó, Strauss II là người nổi danh nhất, và nổi danh ở nhạc luân vũ, được gọi là Vua Nhạc Valse. Nói ra thì kỳ, nghĩ đến “The Waltz King” Johann Strauss II, mình lại nhớ đến Hoàng Trọng, được nhiều người ngày xưa gọi là “Vua Tango” - không phải vì ông nhảy giỏi mà vì tài viết nhạc làm mọi người không biết tango cũng muốn nhảy.

Strauss cũng vậy. Ông làm cả thành phố Vienna quay cuồng trong nhịp luân vũ. Từ một vũ điệu thực ra của thôn quê, Johann Strauss đã nâng điệu valse thành nhạc quý tộc, cho giòng Habsburg của nước Áo. Bài valse nổi tiếng nhất của ông chính là Le Beau Danube Bleu. Ban đầu, đó là ca khúc với lời từ của Josef Weyl. Về sau, Strauss viết lại thành nhạc khúc cho ban nhạc và nhạc khúc ấy tồn tại cho đến ngày nay. Tính ra thì có khoảng hai chục phim ảnh hay cả các computer game ngày nay đã lấy nhạc của Giòng Sông Xanh này. Nổi tiếng nhất là phim “2001: A Space Odyssey” của đạo diễn Stanley Kubrick.

Ở tại Vienna, nghe ban nhạc Áo trình bày Giòng Sông Xanh một cách rộn ràng, sắc xảo, có tiếng sóng vỗ và nắng vàng lóng lánh trên mặt sông bao la bát ngát trước mặt, người thưởng ngoạn có thể thấy ra màu xanh huy hoàng của giòng sông. Và còn thấy nhạc khúc đã có lời hát trong âm thanh. Chúng ta không nên hát Blue Danube nữa!

Nơi dừng chân cuối cùng và rời giòng sông, là Budapest, thủ đô của Hungary.

Không biết xứ Hung Gia Lợi này có bị rợ hung nô trùm cho cái tên chăng, nhưng Budapest là thành phố Ðông-Tây hai mặt. Ở giữa là giòng Danube. Giòng sông chảy xuống theo hướng Bắc Nam, bên hữu ngạn là nửa Tây phương và tả ngạn là nửa Ðông phương. Ðây là thành phố đẹp nhất vì còn giữ nguyên sự cổ kính với kiến trúc loại Baroque dị kỳ, với rất nhiều màu sắc Ðông phương.

Sóng Danube vẫn tung tăng ở giữa hai cõi Ðông Tây ấy. Nhưng, người yêu nhạc đã thấy rộn ràng nhạc của Franz Liszt và Bela Bartok, những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của đất Hung.

Rời Budapest về Frankfurt để lấy máy bay vượt đại dương, hình ảnh cuối cùng vẫn là giòng Danube lấp lánh ở dưới, rộn ràng như nhạc Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước. Những ai yêu nhạc valse hay Blue Danube của Strauss, hãy nghe hoặc hát Bến Xuân Xanh thì mới thấy sức tưởng tượng phong phú của những nghệ sĩ có chân tài.

Xuân Ca Ngày Cũ - Từ La Hối đến Nguyễn Hiền

Quỳnh Giao

Khi các nụ thủy tiên đầu tiên tỏa hương thơm trong nhà thì dù chưa nghe được tiếng pháo, người người đã thấy rộn ràng trong tâm tưởng những khúc nhạc Xuân của thời trước, nay đã thành Xuân ca của mọi thời.

Trong số này, có lẽ nên hồi tưởng lại La Hối và bài Xuân và Tuổi Trẻ.

La Hối là nhạc sĩ có duy nhất một tác phẩm, nhưng lại nổi tiếng nhờ ca khúc duy nhất ấy. “Xuân và Tuổi Trẻ” là bài hát không thể thiếu mỗi độ Xuân về. Ông vốn là người Việt lai Hoa, nên dù viết bằng Việt ngữ, bài hát có âm hưởng Trung Hoa rất đặc biệt. Ngay từ đầu thập niên 1950 thính giả đã yêu thích bài hát vì ý nhạc phong phú, vi vút như những cánh bướm chập chờn.

Nhưng, trong nghề với nhau thì các ca sĩ thì thường dễ hụt hơi vì đoạn chuyển khúc:

Vui hát đi cho lòng thêm sướng,
Vui hát đi cho lòng thêm tươi,
Ta hát ca đón mừng Xuân mới,

Ta hát ca cho lòng thêm hăng hái...

Mười trường canh hát liền một hơi không được ngắt! Và “...hăng hái” phải được ngân khá dài.

Rời xa chúng ta được ba năm, Nguyễn Hiền là tác giả của những bài hát nhẹ nhàng đầm ấm cũng cống hiến một bản nhạc về Xuân rất đẹp, phổ thơ Kim Tuấn. Ðó là “Anh Cho Em Mùa Xuân”, nổi tiếng trong thời kỳ 1960-1970. Ðây là một bài ca về Mùa Xuân mà cũng là một bài ngợi ca quê hương với nét nhạc rất trữ tình.

Giữa hai tác giả ấy và cùng trong dòng nhạc nhẹ nhàng, thanh cao, thích hợp với mọi thời kỳ, Tuấn Khanh, tác giả của “Hoa Soan Bên Thềm Cũ” có tác phẩm “Mộng Ðêm Xuân” nhịp “Boston” tha thiết và êm đềm như một bài thơ. Thế rồi, qua những năm dài chiến chinh, Xuân của người lính chiến cũng trở thành Xuân của mọi người. Ngày nay dù chinh chiến đã tàn, ít ai quên được những bài Xuân ca viết cho chiến sĩ. Tiêu biểu nhất có Nguyễn Văn Ðông với “Phiên Gác Ðêm Xuân” và Trần Thiện Thanh với “Ðồn Vắng Chiều Xuân”...

Nói tới nhạc Xuân của Việt Nam, không thể không nhắc tới Phạm Duy.

Ông đã soạn tám bài hát về Xuân: “Hoa Xuân”, “Ðêm Xuân”, “Xuân Thì”, “Xuân Nồng”, “Xuân Ca”, “Xuân Hành”, “Tuổi Xuân”, “Xuân Hiền”. Ðó là không kể tới “Bến Xuân” soạn chung với Văn Cao, hoặc “Xuân Trên Buôn” dân ca cải tiến của sắc dân Ê Ðê và “Mùa Xuân Yêu Em”, phổ thơ Ðỗ Quý Toàn.

Trong các ca khúc trên, bài “Hoa Xuân” được hát nhiều nhất vào dịp Nguyên Ðán. Lời ca và nét nhạc bình dị, tươi tắn, diễn tả trạng thái tâm hồn phơi phới trước thiên nhiên và đồng loại. Lãng mạn nhất thì có “Ðêm Xuân”. Nghe “Ðêm Xuân”, ta hiểu thế nào và tại sao các cụ ta xưa thường dùng chữ “Xuân” để tả những gì đẹp đẽ và thơ mộng.

Riêng với người viết, nhạc và lời của “Xuân Thì” là một công phu trác tuyệt.

“Xuân Thì” không tả cảnh Xuân mà là tâm sự của tác giả về mình, về nhân thế, với đặc tính cố hữu trong lời ca của Phạm Duy là lòng nhân ái. Ông mong có một Mùa Xuân thái hòa cho nhân loại. Ông thương từ cây súng cô đơn đến những nụ đào nở trên lối mòn chiến xa. Ông ôm nhân loại trong mình, cười tuôn nước mắt cho Xuân tình dấy men. Cùng với lời ca súc tích và đầy hình ảnh, Phạm Duy dùng cách chuyển khúc từ giai điệu “thứ” sang “trưởng” thật thần tình để diễn tả nỗi hân hoan thăng hoa từ sự khổ đau.

Bản “Xuân Nồng” của ông hoàn toàn tả cảnh Xuân, mà là mùa Xuân miền Nam. “Xuân về không có mưa phùn mà chỉ có bụi xe”... nhưng vẫn là Xuân nên thơ. Nét nhạc Phạm Duy thường đi đôi với lời, nên tình và cảnh của ngày Xuân trong Nam được diễn tả bằng nhịp ba linh hoạt với âm giai “Fa trưởng” trong sáng.

“Xuân Ca” và “Xuân Hành” là hai ca khúc Phạm Duy soạn theo khuynh hướng những bài hát tâm linh. Người từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Hãy hưởng Mùa Xuân trong từng chớp mắt trong cuộc sống ngắn ngủi này. Mùa Xuân của Phạm Duy có từ trong đêm tân hôn của cha mẹ, và từ đó ông ra đời góp chung câu gào thiết tha cho Mùa Xuân vĩnh cửu. Nếu chết đi thì xin được tái sinh nhiều lần để được tiếp tục đi mãi trong Mùa Xuân. Bài này soạn theo giai điệu ngũ cung, rất Việt Nam.

Một bậc sư trong nghệ thuật dung hợp cái rất Tây và rất Ðông trong tân nhạc là Dương Thiệu Tước. Ông vua của tiết điệu bán cổ điển Tây phương trong nhạc Việt đã cống hiến cho chúng ta bản luân vũ được coi là hay nhất của Việt Nam, ca khúc “Bến Xuân Xanh”.

Dương Thiệu Tước sáng tác “Bến Xuân Xanh” rất công phu. Tác phẩm dài tổng cộng 180 trường canh (gấp ba một bài luân vũ trung bình có 64 trường canh, như “Thu Vàng” của Cung Tiến) và được viết bằng âm giai “Do trưởng”, loại âm giai được coi là “sáng”. (Xin có đôi lời về nhạc thuật ở đây: giới sáng tác nhạc cho âm giai “Ré giáng trưởng” và “La giáng trưởng” là âm giai “dịu” nhất. Âm giai “Sol thứ” và “Si thứ” là âm giai “buồn” nhất. Âm giai “Do trưởng” và “Fa trưởng” là âm giai “sáng” nhất)

Vì thế, “Bến Xuân Xanh” đòi hòi ca sĩ phải trình bày đúng âm giai nguyên thủy. Khi nghe một người trình bày không đúng “ton” (thí dụ người hát không lên được những nốt cao nhất của bài hát, phải hạ xuống một hay hai “cung”) thì ông hơi hơi buồn. Ðoạn biến khúc của “Bến Xuân Xanh” được Dương Thiệu Tước chuyển sang âm giai “La giáng trưởng” trở nên êm dịu lạ thường trước khi về lại cung “Do trưởng” trong sáng.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước còn soạn phần nhạc mở đầu (introduction) và kết thúc (Coda) thật vi vút, du dương. Lời ca trong “Bến Xuân Xanh” tràn đầy thơ, nhạc, hoa, nắng, gió và sóng nước: toàn những biểu tượng lung linh rực rỡ của Mùa Xuân. Khi Dương Thiệu Tước vừa tạ thế ở trong nước, trong dịp tưởng niệm ông ở hải ngoại, 12 năm về trước, nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi đã nhắc tới bản luân vũ này với lòng khâm phục. Không thua kém gì các nhạc khúc về sông nước nổi tiếng của Tây phương!

Ngoài “Bến Xuân Xanh” độc đáo nói trên, Dương Thiệu Tước có soạn ba bài khác về Mùa Xuân, là “Vui Xuân”, “Vườn Xuân Thắm Tươi”, và “Tìm Xuân”. Nhưng chỉ cần viết một “Bến Xuân Xanh” thôi, Dương Thiệu Tước đã xứng đáng với một chỗ đứng sáng chói trong nền tân nhạc Việt Nam.

Một nhạc sĩ khác cũng xứng đáng với ngôi vị trên mà lại không được quần chúng để ý, và chỉ được giới thẩm âm biết tới, đó là Vũ Thành. Người nghệ sĩ tài hoa này có ca khúc mang tựa đề về Mùa Xuân là “Tình Xuân”. Cũng với âm giai sáng “Do trưởng”, ông dùng ý nhạc cao sang, thanh thoát, cho ta nghe và thấy được một Mùa Xuân đầy sắc hương thi vị. Tuy nhiều sáng tác khác của ông không có tựa đề về Mùa Xuân nhưng luôn luôn gợi nhớ tới Xuân. Câu mở đầu của bản “Nhớ Bạn” là “Xuân vương trên ngàn hoa...” Bản “Say Nhạc Canh Tàn” cũng mở đầu bằng “Gió Xuân đưa mây vật vờ...”

Nhạc Vũ Thành cũng như con người nghệ sĩ của ông: già dặn, thanh cao mà ẩn dật như một cội mai...

Sau cùng, nói về Mùa Xuân trong nhạc, xin nhắc tới Phạm Ðình Chương, người được thính giả mang nợ nhiều nhất mỗi khi Xuân về. Ngày Xuân có thể thiếu pháo mà không thể không có “Ly Rượu Mừng”! Có lần ông nói đùa: “Nếu mọi người chỉ cần trả một đồng thôi mỗi khi hát ‘Ly Rượu Mừng’, thì tôi đã thành triệu phú từ lâu”. Ngoài nét nhạc phơi phới hân hoan, dễ nghe dễ hát, lời ca lại mang nội dung thích hợp với mọi tầng lớp thính giả. Vì thế “Ly Rượu Mừng” không chỉ được cất lên mỗi dịp Tết Nguyên Ðán mà còn thường được mọi người chung hát tại các buổi họp mặt, tiệc tùng, cưới hỏi...

Một bản nhạc Xuân khác của Phạm Ðình Chương cũng thường được nghe trình bày hợp ca tại các đài phát thanh, hay đồng ca vào những dịp họp mặt tất niên tại các trường học là bản “Ðón Xuân”. Nhưng thật ra, bài Xuân ca tuyệt vời nhất của Phạm Ðình Chương chính là “Xuân Tha Hương”. Tác phẩm này được viết với nhịp điệu Boston 3/4 chậm rãi, tha thiết. Âm giai “Ré trưởng” không quá cao hoặc quá thấp nên thích hợp với mọi giọng hát. Ý nhạc nhẹ nhàng, uyển chuyển, nhờ ông dùng nhiều chuyển âm. Gần như cứ hai trường canh ông lại thay đổi hợp âm, mang lại cho “Xuân Tha Hương” sắc thái đặc biệt Phạm Ðình Chương.

Bản nhạc còn tuyệt vời vì lời ca buồn man mác, nhẹ nhàng kín đáo chứ không rũ rượi sầu thảm. Trong thập niên 60 khi bài hát được thịnh hành, người ta yêu lời ca vì nhớ tới Hà Nội và những ngày Xuân êm đềm xa xưa.

Ngày nay, người ta càng yêu lời ca hơn vì nỗi buồn tư hương bao phủ lên cả quê hương yêu dấu.

Lời ca ý nhạc vào Xuân (Quỳnh Giao)

Quỳnh Giao


Tân nhạc nước ta là một rừng hoa bát ngát. Hoa có thứ lộng lẫy, có thứ nồng hương, có loại chỉ có sắc không hương, có thứ đẹp não nùng, có thứ mong manh ẻo lả, có loài trong trắng đơn sơ. Người ta yêu nhạc cũng như yêu hoa, hoàn toàn bằng cảm tính chủ quan. Nói về nhạc, mức thẩm âm khác nhau của người nghe đã là điều khó diễn tả. Sang đến lời ca thì sự yêu thích khen chê có lẽ tùy tâm trạng của từng người, vào từng hoàn cảnh.

Trong giới yêu thích nhạc cổ điển Tây phương, người ta thường luận rằng người giỏi toán thì thích nhạc Bach hay Vivaldi, chuộng văn chương thời yêu nhạc Chopin, Lizst... Tính tình dũng mãnh, bảo thủ thì yêu Wagner, hồn nhiên và ôn hòa thì thích Mozart, người khắc khổ chẳng thể không mê Beethoven... Ðó mới chỉ nói đến loại nhạc không lời, loại nhạc đòi hỏi người nghe một trình độ hiểu biết tương đối về nhạc, hoặc một trí tưởng tượng phong phú.

Cổ nhạc của chúng ta - loại nhạc không lời - thì hiển nhiên cũng đòi hỏi trình độ ấy, và khởi đầu bằng cách chịu khó nghe, nghe mãi thì mới thấy quen. Rồi học hỏi rồi thì mới hiểu và thấy thích.

Trừ một thiểu số thiên phú, ai ai trong chúng ta cũng phải trải qua tiến trình tập nghe thì mới làm giàu thêm cho cảm xúc và khả năng thưởng thức.

Sang đến loại nhạc có lời như tân nhạc của nước ta thì người nghe hòa lẫn tình cảm của tác giả với cảm quan của riêng mình. Việc hướng dẫn có khi hết là cần thiết, cho nên lòng yêu nhạc mới dễ đi tới tận cùng của chủ quan. Một thanh niên tới tuổi hai mươi vừa đi thăm bạn gái về ắt phải lâm râm Em Ðến Thăm Anh Một Chiều Mưa, và mẹ cha có la cũng khăng khăng tuyên bố nhạc của Tô Vũ là nhất! Gặp trường hợp người yêu của chàng mặc áo tím, thì Ngàn Thu Áo Tím của Hoàng Trọng và Vĩnh Phúc sẽ lên ngôi Bắc Ðẩu...

Nhưng là người nghe, chúng ta nghĩ gì về sở thích của chính các nghệ sĩ sáng tác?

Ðược may mắn nuôi dưỡng và trưởng thành trong một gia đình yêu nhạc, người viết học nhạc và sinh hoạt trong môi trường đó từ khi còn học chữ. Với Quỳnh Giao, thế giới tân nhạc là gia đình thứ hai, quen thuộc từ thuở ấu thơ. Từ tấm bé, những tên tuổi Phạm Duy, Vũ Thành, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Phạm Ðình Chương, cùng những tiếng hát Anh Ngọc, Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Châu Hà... là cô chú như người thân trong gia đình. Vì vậy, bài này thử làm cái gạch nối giữa bạn đọc - người thưởng ngoạn - và các nghệ sĩ, tác giả, khi nói về những ca khúc họ yêu thích, của chính họ. Chúng ta có thể gặp nhiều bất ngờ lỳ thú, như khi gặp lại mùa Xuân.

Xin bắt đầu bằng một nhạc sĩ lớp tiền phong của nền nhạc Việt, đó là Dương Thiệu Tước, mất từ năm 1995. Ông sáng tác hơn hai trăm ca khúc, với đủ thể loại. Mang âm hưởng Tây phương có Thuyền Mơ, Áng Mây Chiều, Bến Xuân Xanh hay Mơ Tiên.

Tiết điệu phong phú lôi cuốn là những bản viết theo nhịp Tango, như Cánh Bằng Lướt Gió, Hờn Sóng Gió, Ước hẹn Chiều Thu... Nổi tiếng nhất có lẽ ở những bài có nét cổ truyền như Tiếng Xưa, Ðêm Tàn Bến Ngự, hoặc trữ tình như Bóng Chiều Xưa, và Ngọc Lan. Hai ca khúc Bóng Chiều Xưa và Ðêm Tàn Bến Ngự trình bày nhiều nhất và được ưa thích nhất.

Bóng Chiều Xưa là tác phẩm hài hòa phần nhạc của Dương Thiệu Tước và phần lời ca của Minh Trang, mẫu thân của người viết. Trong các tác phẩm của Dương Thiệu Tước, bà yêu nhất bài Buồn Xa Vắng nhịp Boston lãng mạn, tình tứ nồng nàn. Bản này ít được thính giả biết đến.

Nói về Ðêm Tàn Bến Ngự nhà văn Võ Phiến có lần nêu lên nhận xét mà riêng tôi cho là thật tinh tế: Ca khúc có âm hưởng miền Trung sâu đậm nhất và tuyệt vời nhất lại do một nhạc sĩ chính cống người Bắc soạn ra! Riêng phần tác giả, trong gia đình, chúng tôi biết Dương Thiệu Tước thích nhất một bài ít thấy trình bày là Mơ Tiên. Ðây là một ca khúc có tiết điệu hết sức mới, ít được trình bày vì khó hát và vì đòi hỏi một dàn nhạc với hòa âm hẳn hoi. Mơ Tiên có phần nhạc đệm như giai điệu của Ravel trong bản Boléro bất hủ với nhịp phách dìu dặt và càng lúc càng dồn dập. Về các ca khúc của Dương Thiệu Tước, sở thích của Quỳnh Giao không khác gì những người bình thường: yêu nhất Ngọc Lan, tuyệt đẹp về cả nhạc lẫn lời.

Nhạc sĩ lão thành Phạm Duy là người cống hiến nhiều ca khúc nhất cho chúng ta. Không có ông, có lẽ tân nhạc Việt Nam không như ngày hôm nay. Phân tích những tác phẩm được ưa thích nhất của Phạm Duy không phải là việc đơn giản. Ông viết quá nhiều và hầu như thích hợp với mọi giới thưởng ngoạn. Theo thiển ý, và nữ danh ca Thái Thanh cũng đồng ý như vậy, Tình Ca là bài được yêu thích nhất. Nhạc phẩm này được viết vào thời điểm gia đình Phạm Duy giao du mật thiết với học giả Nguyễn Ðức Quỳnh. Lời ca là sự góp ý của Nguyễn Ðức Quỳnh với Phạm Duy.

Viết vừa ráo mực, Phạm Duy hát cho Thái Thanh nghe ngay và từ đó bài hát gắn liền với tên tuổi của bà.

Thực ra từ hơn nửa thế kỷ nay, nhạc và lời ca của Phạm Duy đã đi sâu vào lòng người. Ai cũng có một lần trên đời thấy lòng mình thổn thức với Tiếng Ðàn Tôi, Cành Hoa Trắng, Khối Tình Trương Chi... Rộn ràng lòng yêu nước với Về Miền Trung, Quê Nghèo, Tình Nghèo, và nhất là hai bản trường ca Con Ðường Cái Quan và Mẹ Việt Nam. Những đôi lứa yêu nhau thì qua bao thế hệ vẫn thì thầm Ngày Ðó Chúng Mình, Thương Tình Ca, Trả Lại Em Yêu, Cỏ Hồng...

Tác giả thì cho biết bài nào ông viết ra ông đều yêu cả, nhưng ông thích nhất hai bài trường ca, vì công lao và vì tính chất trường tồn của nó.

Trong suốt mấy chục năm hát và nghe nhạc Phạm Duy, Quỳnh Giao yêu nhất theo từng giai đoạn của cuộc đời. Khi còn trẻ, yêu nhất Dạ Lai Hương. Tuổi trung niên thì yêu bài Kỷ Niệm, và bây giờ yêu Chiều Về Trên Sông có lời ca thâm thúy và nét nhạc bao la mà buồn cô quạnh.

Nhạc sĩ Vũ Thành là người Quỳnh Giao kính mến về cả tài nhạc lẫn tư cách ngoài đời.

Theo ý riêng, ông là người tài hoa và khí phách nhất, nhưng lại sáng tác không nhiều dù cống hiến cả cuộc đời cho nhạc. Nghệ thuật viết hòa âm của ông xứng đáng bực thầy trong ngành ca nhạc, và cho đến nay, nhiều ca sĩ thượng thặng vẫn nhắc nhở đến. Ai đó đem từ quê nhà một cuộn băng có giọng hát mình hát với dàn nhạc và hòa âm Vũ Thành thì coi như tìm lại được một bảo vật, giữ gìn cẩn trọng và đôi khi không dám cho ai mượn về nghe, sợ họ đánh mất...

Vũ Thành viết ít nhưng mỗi bài hát của ông là một tuyệt tác. Nhạc Vũ Thành mang âm hưởng Tây phương, sang trọng và quý phái, khó hát và kén người nghe. Ông được thính giả biết đến nhiều nhất qua bài Giấc Mơ Hồi Hương, viết sau cuộc di cư từ Bắc vào Nam. Ca khúc được ông yêu nhất là Thụy Khúc viết đầu thập niên 70, và là bài hát cuối cùng trong đời. Bài này được giọng hát ông yêu thích nhất trình bày trong tape nhạc “Tiếng Chiều Rơi” do Lê Văn Khoa thực hiện vào thời gian gần như đầu tiên của làng nhạc hải ngoại. Nữ danh ca Kim Tước, người trình bày trung thực nhất những tác phẩm của Vũ Thành, thì yêu nhất bài Gửi Áng Mây Hàng, lời ca nói về nỗi ai oán khôn nguôi về mối sầu tha hương, và sự tiếc thương mối tình nơi cố xứ. Ý nhạc thiết tha và bâng khuâng.

Cũng là người trình bày nhạc Vũ Thành rất đạt và làm tác giả hài lòng, Nam danh ca Anh Ngọc, có tâm sự là ông thích nhất bài Nhặt Cánh Sao Rơi, viết về sự xa cách của tình bạn đậm đà. Anh Ngọc cho biết ông thích loại nhạc sang quý dù là ít phổ biến. Ông càng thích vì loại nhạc đó đòi hỏi người trình bày phải có trình độ và kỹ thuật mới hát được. Riêng Quỳnh Giao thì yêu nhất bài Nhớ Bạn của ông, vì nét nhạc trang trọng êm ái, và lời ca tình cảm trân trọng.

Cũng như Vũ Thành, nhạc sĩ Cung Tiến sáng tác không nhiều, nhưng được thính giả dành cho một chỗ đứng cao quý riêng. Lúc còn trẻ, ông viết nhiều tác phẩm có âm hưởng bán cổ điển Tây phương như Hương Xưa, Nguyệt Cầm, Ðêm Hoa Ðăng, Mùa Hoa Nở, kết hợp lời ca rất cổ, với hình ảnh rất “Ðường thi”. Càng lớn tuổi ông càng có khuynh hướng soạn ra những giai điệu phức tạp phong phú hơn và gần với Ðông phương hơn, như Hoàng Hạc Lâu, Kẻ Ở, Vết Chim Bay...

Và dường như ông không viết lời nữa, mà chỉ phổ thơ. Ngoài ba bài thơ phổ nhạc vừa kể, Cung Tiến còn đưa nhạc vào thơ như Thuở Làm Thơ Yêu Em, Ðêm, Lệ Ðá Xanh. Thính giả thì vẫn yêu thích những bài ông viết lúc trẻ như Thu Vàng, Hoài Cảm, nhưng ông thì thích nhất tác phẩm không lời viết cho dàn nhạc đại hòa tấu, bản Chinh Phụ Ngâm Khúc, ông viết rất công phu và sử dụng hoàn toàn giai điệu Ðông phương. Anh Ngọc thích nhất Mắt Biếc, Duy Trác thích nhất Hương Xưa, người viết bài thì thích nhất Lệ Ðá Xanh, thơ Thanh Tâm Tuyền phổ nhạc, bao giờ nghe cũng rất mới.

Chúng ta không thể thiếu nhạc Phạm Ðình Chương trong cuộc sống. Ngược với Vũ Thành, Phạm Ðình Chương được nhiều người biết và có một số lượng tác phẩm đáng kể. Ông được coi như một nhạc sĩ tài hoa, với tác phẩm đượm hồn dân tộc. Ông có biệt tài phổ nhạc vào những bài thơ hay nhất của chúng ta, kể cả những bài mà ông xem là thuộc loại bí hiểm. Thơ tình được Phạm Ðình Chương phổ nhạc trở thành những ca khúc dễ thuộc, dễ yêu nhất.

Trong chỗ bạn bè thân thiết, ông hay nói đùa rằng ai tán gái cũng phải nhờ đến nhạc của ông làm mai mối. Thổ lộ mối tình cho nàng thì còn gì hay hơn Mộng Dưới Hoa (thơ Ðinh Hùng). Còn muốn vật vã khóc than cho nỗi tuyệt vọng của mình nàng mủi lòng thì đã có Người Ði Qua Ðời Tôi (thơ Trần Dạ Từ). Ðám cưới tiệc tùng, ngày Xuân ngày Tết mà thiếu Ly Rượu Mừng thì thiếu vui. Hỏi ông về tác phẩm yêu thích nhất của mình, ông cho biết thích Hội Trùng Dương vì tính chất nghệ thuật và giá trị trường cửu của nó. Sau này, ra tới hải ngoại thì đó là Ðêm Nhớ Trăng Saigon, phổ thơ Du Tử Lê. Riêng Quỳnh Giao thì yêu nhất Bài Ngợi Ca Tình Yêu gồm có hai phần (Bài Ngợi Ca Tình Yêu và Ðêm Mầu Hồng) phổ từ một bài thơ dài của Thanh Tâm Tuyền.

Người nhạc sĩ gần với loại nhạc của khiêu vũ trường là Văn Phụng. Ông thành công với loại nhạc vui tươi và có đầy sở trường về tiết điệu. Nói như thế không có nghĩa là ông thiếu loại nhạc buồn. Chỉ vì nghĩ đến Văn Phụng, người ta cảm thấy ngay không khí vui tươi của thành phố, của ánh đèn mầu. Ông đem những nhịp điệu Tây phương vào tân nhạc rất sớm, như bản Trăng Sơn Cước nhịp Bolero, hay Tôi Ði Giữa Hoàng Hôn nhịp Slow Rock.

Những ca khúc trữ tình của Văn Phụng rất nhẹ nhàng và được yêu thích là Suối Tóc, Tiếng Dương Cầm, Lời Nhi Nữ. Nữ danh ca Châu Hà, người bạn đời của ông, thì thích nhất Tôi Ði Giữa Hoàng Hôn, hoàn toàn vì kỷ niệm: bến Hoàng Hoa được nói đến trong bài là bờ sông Saigon, nơi hò hẹn của hai người! Hỏi ông là sáng tác nào thích nhất, Văn Phụng trả lời khi được lái xe đưa ông đi mua cây kèn Clarinet ngày ông mới đến Mỹ: Thích nhất bài Chán Nản, viết năm 1972. Lý do bài hát nào có tâm sự của mình thì mình nhớ nó nhất! Riêng Quỳnh Giao thì thích nhất bài Yêu, chỉ vì tiết điệu khoan thai nhịp 3/4 thật chậm, mà ray rứt khôn nguôi...

Khi viết nhạc hoặc đặt lời, người nghệ sĩ hoàn toàn tự do làm chủ tác phẩm của mình. Nhưng, khi tác phẩm được phổ biến trong quần chúng, nó bắt đầu có đời sống riêng, vượt khỏi sở thích hay chủ đích ban đầu của tác giả. Có khi nó được đón nhận hững hờ, rồi chìm vào quên lãng, rồi sau đó khá lâu lại được yêu thích bất ngờ, Vì hoàn cảnh chiến cuộc, hoặc vì tâm trạng chung của xã hội, trong một thời điểm nào đó. Cũng có khi tác phẩm được viết ra theo kiểu “trả nợ”, như một nhà văn viết “feuilleton” bị thúc bài, viết xong rồi quên, vậy mà lại được thính giả đón nhận nồng nhiệt!

Các ca sĩ có lẽ chỉ đóng góp một phần nhỏ trong sự thành công của một ca khúc, nếu coi sự yêu thích của công chúng là một thành công.

Thông thường, nói theo lời một nhà văn Ý ghi lại ở đâu đó, nghệ sĩ thường thích tác phẩm của mình được đón nhận đông đảo, nhưng... chỉ một số ít hiểu được thôi. Vì sao lại có phản ứng “lập dị” như thế? Phải chăng họ có cảm quan khác với công chúng, và ít khi hài lòng với những gì đã có, hay đang có. Họ muốn ra khỏi đám đông để tìm cảm hứng mới lạ, nếu được đón nhận càng hay. Trong tinh thần đó, có lẽ họ là những người được yêu thích nhất, nhưng cũng cô độc nhất...

Nguồn: Báo Người Việt Xuân Canh Dần 2010

Tạ Ơn Đời

Quỳnh Giao

Jacques Prévert là một nhà thơ mà cũng là một nhà điện ảnh nổi tiếng của Pháp. Ông sinh cùng thế kỷ 20 và tạ thế năm 1977.

Ða số người Việt chúng ta biết tới Prévert qua bài thơ Les Feuilles Mortes, được người bạn là nhạc sĩ Joseph Kosma gốc Hung Gia Lợi phổ vào nhạc, rồi được Juliette Gréco và Yves Montand trình bày để trở thành ca khúc cổ điển của mọi cặp tình nhân trên đời.

Thật ra, tình bạn giữa hai người còn bền chặt hơn giai điệu rơi rụng của chiếc lá úa.

Kosma là một nhạc sĩ đa điện, ông soạn nhạc opéra, ballets, nhạc thính phòng và nhất là viết nhạc phim. Vì là ông có huyết thống Do Thái, khi Pháp bị Ðức chiếm đóng thì Prévert đã chứa chấp và giúp bạn tiếp tục viết nhạc, nhưng dưới tên giả.

Ngoài Les Feuile Mortes, Kosma còn phổ nhiều bài thơ khác của Jacques Prévert, như Barbara, En Sortant de l'École, Et la Fête Continue, Dans ma Maison, v.v...

Trong số này, có lẽ ca khúc ngắn nhất, hát trong một phút chín giây, lại có âm hưởng dài nhất, đến vĩnh cửu. Ðó là bài Le Jardin.

Cả ngàn năm và cả ngàn năm

Cũng không đủ

Ðể nói

Khoảnh khắc vĩnh cửu

Khi anh hôn em

Và em hôn anh

Một buổi sáng dưới ánh Mùa Ðông

Tại vườn Montsouris ở Paris

Ở Paris

Trên trái đất

Ðịa cầu cũng là tinh cầu...

Nhiều nhà văn nhà thơ của chúng ta cũng cảm nhận như Prévert: tình yêu có thể biến khoảnh khắc thành vĩnh cửu.

Nhưng, trao nhau nụ hôn rồi, “người trong cuộc” cũng sẽ có ngày thấy:

Chiều tan trên đường tối

Có ta như rã rời

Hồn ta như gò mối

Im chờ phút đầu thai...

Phạm Duy đã viết thế trong Ðường Chiều Lá Rụng. Lúc ấy, nếu người trong cuộc đã thành gò mối, ai là người cảm nhận ra sự vĩnh cửu? Chúng ta. Chúng ta tiếp tục cảm nhận ra sự vĩnh cửu nhờ tác phẩm của người nghệ sĩ để lại, mà có lẽ cảm nhận dễ nhất nếu đó là một tác phẩm âm nhạc.

Chúng ta có thể nghĩ đến điều ấy khi thiên hạ mừng Lễ Tạ Ơn và mình lẩm nhẩm lại Tạ Ơn Ðời của Phạm Duy.

Về tiểu tiết thì Phạm Duy viết bài này vào năm 1959, dường như sau một vụ tai tiếng đã gây đổ vỡ cho nhiều người thân. Ðấy là tiểu tiết không ai cần nhớ, trừ các nhà muốn viết... “nhạc sử”.

Nhưng đời sau không biết vẫn thấy bài này quá hay, với lời quá đẹp. Ông mở đầu như một bản tình ca buồn đầy những luyến tiếc. Thế rồi bỗng dứt ở một cảm nhận bất ngờ: “Ðời vắng xa như mẹ hiền...”

Ông nghĩ gì khi ấy mà từ những chuyện rong chơi lại thấy vắng xa như mẹ hiền?

Từ những nỗi niềm rất riêng tư, Phạm Duy mở ra không gian vĩnh cửu, để tuôn trào những tâm tư rất chung, của nhân thế.

Trong trăm Mùa Xuân héo

Tay hái biết bao niềm yêu

Dăm eo xèo nhân thế!

Chưa phai lòng say mê!

Với đôi ba lần gian dối!

Ðời vẫn ban cho ngọt bùi...

Ðấy là phần “tự thú” rất riêng tây của người nghệ sĩ. Thế rồi, ông chuyển đoạn, nhìn thấu chuyện tử sinh, từ khi còn là bào thai:

Ôi ơn đời chói vói!

Nhớ khi thân tròn ôm gối!

Ba trăm ngày trong gói

Ngóng trông ra đời góp mối chung vui...

Ôi ơn đời mãi mãi!

Thoát thai theo đời vun xới

Bao nhân tình thế giới

Lớn lên trong vườn ân ái muôn đời...

Như một kẻ lãng tử hư đốn trở về nhà, người nghệ sĩ bật khóc tạ ơn đời, tạ ơn từ lúc sinh thành, từ ba trăm ngày còn nằm trong gói cho đến khi lớn lên trong vườn ân ái muôn đời! Tình yêu có thể biến người đàn ông thành một đứa trẻ thơ, điều ấy ai cũng có thể biết. Nhưng trở thành một bào thai cuộn tròn trong lòng mẹ thì không có thiền cũng phải có tâm phân học mới giải thích được. Ca khúc quả là đẹp bất ngờ.

Thế rồi, gã tình si ấy - giờ đây không còn là chuyện của người nhạc sĩ nữa, ông nói cho mọi kẻ tình si của nhân thế vĩnh cửu - lại từ bào thai tìm đến chỗ chết.

Mang ơn đời chăn vỗ!

Dâng cho người yêu góa!

Dâng cây đàn bơ vơ!

Dâng biết bao ân tình xưa.

Mang ơn đời nâng đỡ!

Dâng nấm mồ thô sơ

Với dâng hương hồn thương nhớ

Còn vấn vương trong chiều tà...

Thơ Ðỗ Quý Toàn, “Mùa Xuân Yêu Em”, cũng đã có giây phút dọa nạt đó:

Có cành hoa đẹp

Anh hái cho em

Em không thèm nhận

Anh chết cho xem!...

Ở Phạm Duy, đây không phải là giây phút ăn vạ.

Ông thành thật nghĩ mình sẽ chết, sẽ dâng lời tạ ơn cho người yêu góa bụa... Khi ông viết, cách đây gần nửa thế kỷ, chúng ta không cần biết là ông viết cho ai, nhớ đến ai. Nhưng sau này, Thái Hằng đã ra đi trước ông và những người thân ở chung quanh đều chứng kiến sự suy sụp của ông từ đấy.

Tình yêu và cái chết là hai đề tài hay thắm quyện vào nhau. Thường thì người ta ưa dùng cái chết để bày tỏ cái tình. Nhưng, chết thì hết chuyện, còn đâu giây phút hạnh phúc sẽ thành vĩnh cửu nữa! Còn tác phẩm. Còn bài Tạ Ơn Ðời đã bay khỏi khung cảnh của tiểu tiết thời xưa để trở thành ca khúc khiến cho đời sau lưu luyến mãi. Cái “mãi” ấy là sự vĩnh cửu.

Về nhạc thuật, thông thường, cung thứ (mineur, minor) đều có âm hưởng u buồn ủ dột không tươi không sáng như âm giai trưởng (majeur, major). Các nhạc sĩ thuộc loại thiên tài của nhân loại đều có soạn nhạc trên cung thứ. Mozart thường dùng “ton” Sol khi viết những bài cung thứ. Beethoven hay viết trên “ton” Do những bài cung thứ u uẩn.

Riêng các nhạc sĩ Việt Nam, không hiểu sao lại ưa viết trên cung Ré thứ (D minor). Tạ Ơn Ðời của Phạm Duy không ra khỏi khuôn thước đó, với nhịp 4/4 thật chậm, thật buồn. Nói rằng hát như một bài “thánh ca” thì hơi quá và có thể xúc phạm những người sùng đạo, nhưng hát như một bài kinh cầu siêu - requiem - có lẽ không sai. Một lời nguyện cầu dâng lên đời như một nén nhang tạ ơn.

Tạ Ơn Ðời hợp với giọng nam hơn là nữ, vì cả lời lẫn tâm cảnh của bài hát. Và hai người đã trình bày rất thành công ca khúc này là hai ca sĩ của hai khung trời khác biệt, từ không gian đến thời gian, là Anh Ngọc của ngày trước và Trần Thái Hòa ngày nay. Khi Trần Thái Hòa trình bày Tạ Ơn Ðời mà người nghe vẫn thấy xúc động dù chẳng cần biết gì về tiểu tiết ra đời của ca khúc, chúng ta biết rằng khoảnh khắc ngày xưa đã có thể trở thành vĩnh cửu...

Mùa Trăng (Quỳnh Giao)

Có lẽ câu chuyện hôm nay phải bắt đầu bằng hai chữ “ngày xưa” thì mới đúng cách.

Người viết nghĩ như vậy vì liên tưởng tới những ngày thơ ấu của mình. Việt Nam bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và trẻ em cũng không ra khỏi ảnh hưởng đó nên rằm Trung Thu là ngày hội của tuổi thơ, chỉ thua sự tưng bừng của ba ngày Tết mà thôi.

Từ bé, mình đã nhìn ánh trăng như một thiên đàng treo trên cao. Qua bao truyện cổ tích, em bé Việt gọi mặt trăng bằng nhiều danh từ mỹ miều, nào là cung Quế, cung Quảng, chị Hằng hoặc Hằng Nga, mà không rõ xuất xứ từ đâu. Rồi thì các em cũng loáng thoáng biết là trên cung Quảng có chú Cuội già, có khi lại là thằng Cuội, vì mải chơi mà bị đầy lên đó! Các em đã nghe ông bà cha mẹ hoặc thầy cô kể như vậy. Và nghe nhiều hơn cả là qua... những bài hát trên các làn sóng phát thanh mỗi dịp Trung Thu.

Ðến mùa Trung Thu, ngoài cái thú được ăn bánh dẻo, bánh nướng đến sún cả răng, trẻ con thích nhất là đêm xuống, cả nhà đã ăn uống xong xuôi, được cha mẹ cho đi hóng mát bằng xe hơi một vòng ngoài phố. Có khi cha mẹ hứng chí cho đi xuống tận Chợ Lớn để xem đèn. Một rừng đèn đầy mầu sắc và hình thù khác nhau cứ làm cho con trẻ sướng mê. Nào là đèn bươm bướm, đèn con cá, đèn ông sao, đèn tầu thủy, đèn máy bay... Nhưng con bé thì mê nhất đèn xếp đủ mầu, và ngây mắt nhìn đèn kéo quân, tưởng tượng cảnh tiên giới hiện ra trước mắt mình nơi trần thề.

Trong khi đó thì các bài hát về Trung Thu vang lên từ góc phố, từ lối xóm vọng lại. Yêu nhất là bài “Thằng Cuội” của nhạc sĩ Lê Thương. Nhất là thằng Cuội đó lại “ôm một mối mơ.” Vừa ôm cái gối ôm, vừa nghĩ mình là thằng cuội ở trên cung trăng:

Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to

Có thằng Cuội già ôm một mối mơ....

Cuội ơi, ta nói cho Cuội nghe

Ở trên cung cấm làm chi?

Các em thích cười, muốn lên cung trăng

Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang

Mười lăm tháng Tám Trời cho

Một ông trăng sáng thật to...

Cùng một chủ đề, Phạm Duy viết bài “Chú Cuội” với nội dung khác hẳn, tình tứ mà ỡm ờ.

Chú Cuội của Phạm Duy là người lớn, không phải thằng Cuội của trẻ con. Chú Cuội này yêu cô Hằng năm xưa xuống trần, rồi vì tương tư cô nên để trâu ăn lúa mà quên đường về. Cô Hằng này lại không phải là nàng Hằng Nga trên cung Quảng Hàn của chúng ta. Cô Hằng này là nàng Thái Hằng mà ông đang tán tỉnh ở dương thế.

Ta yêu cô Hằng năm xưa xuống trần

Nàng ơi, nàng về dương gian tìm đường nuôi nấng

Cung đàn Hằng Nga.

Xin đôi cánh vàng, mượn chiếu mây non

Cuội ơi, Cuội theo cánh gió

Cuội lên cung vắng, Cuội không về làng...

Tụi nhóc tì chưa biết yêu là gì, cho nên không thích chú Cuội, mà chỉ thích thằng Cuội!

Lúc hát ban nhi đồng của bác Kiều Hạnh, Quỳnh Giao này còn giữ tên thật và có lần được hát bài “Hình Ảnh Một Ðêm Trăng” của Văn Phụng. Nói theo ngôn ngữ ngày xưa là con bé liền “mết” bài hát này liền. Văn Phụng viết ca khúc trên nhịp Boston dìu dặt, cung Fa trưởng trong sáng, bâng khuâng man mác. Trẻ con tưởng được chắp cánh bay:

Khi ấu thơ, ngồi trông bóng trăng, nhìn theo áng mây đưa

Nghe má ba, kể trong ánh trăng, Cuội đang sống say sưa

Rồi thôn xóm hừng lên tiếng reo, hòa theo khúc ca ngân

Tiếng ngây thơ, bầy em múa ca mời trăng thu xuống trần

Lưng trời mây trắng trôi lững lờ

Mơ hồ tiếng sáo ru hồn thơ

Ngắm trăng thanh và nghe tiếng tiêu đưa câu mơ màng

Lòng tôi mong ước tiên ban cặp cánh bay lên vừng trăng...

Nhưng rồi lại có năm 75 tan tác.

Rồi phải sang Hoa Kỳ tị nạn.

Khi ấy, gia đình mất vầng trăng cũ và đến tiểu bang Virginia tạm trú nhà người anh cả đã du học từ năm 1950. Lúc đó, anh Bửu Dương đã xong bằng tiến sĩ từ Harvard và làm giáo sư dạy Pháp ngữ và Văn Hóa Trung Hoa cho Ðại Học Bridgewater, cùng tên thị trấn ở miền Ðông, cách thủ đô Hoa Thịnh Ðốn hai giờ lái xe. Cả thị trấn hiền hòa này chỉ có độ 2,000 dân, phần lớn là sinh viên và gia đình của giáo sư dạy trong trường. Bridgewater có vỏn vẹn một trường đại học, một nhà thờ, hai siêu thị Mỹ bằng chợ Anh Minh gần phở Nguyễn Huệ của ta, và một rạp ciné nhỏ xíu tựa cái hộp quẹt.

Lúc mới tới, con gái của người viết mới lên năm, vừa đủ tuổi vào kindergarten. Cả vùng chỉ có anh Bửu Dương là người Á Ðông duy nhất. Nay thêm một gia đình tỵ nạn là có thêm ba người Á Châu. Mỗi khi ra đường, thiên hạ trố mắt nhìn. Người Mỹ có lòng bác ái thiết thực, họ tấp nập đem cho nào khăn tắm nào nồi niêu. Trong nhà có đến mấy chục bộ khăn và mấy bộ comforter cho giường ngủ. Ðôi khi họ đến nhà đón hai mẹ con đi ăn lunch, những món ăn vẫn chưa thể quen, như hot dog hay tuna salad.

Cả hai mẹ con chỉ mong được về ăn cơm nguội với nước mắm!

Tới Mỹ vào tháng 6, 1975, đến tháng 9 hoàn hồn nhìn tấm lịch là lại lẩm bẩm “bây giờ bên ấy đang là rằm Trung Thu.” Con bé con bỗng níu áo hỏi mẹ: “Mẹ ơi, thế cái ông Việt Nam ở trên moon, ông ấy còn đó không?” Phải vài giây sau mới kịp hiểu là cháu nó nhắc đến thằng Cuội! Và muốn khóc òa.

Nó ra đi mà hồn còn đầy ắp hình ảnh mùa trăng cũ. Cứ tưởng là người lớn mới hoài niệm quá khứ, nào ngờ con trẻ cũng như mình, vầng trăng năm xưa vẫn rạng rỡ trong trí nhớ.

Bây giờ, nhìn trăng mới mà nghĩ đến trăng xưa, ngày cũ, mình mới thông cảm với Nguyễn Du. “Vầng nguyệt trời Nam còn một mảnh, đêm về soi thấu dạ đôi nơi...” Ông viết bài này để từ biệt một người bạn trong thời ly loạn. Hai người đôi nơi cùng nhìn lên vầng nguyệt mà nhớ nhau.

Phải chi vẫn còn một lũ trẻ rồng rắn rước đèn, cho mình vui thêm được một chút...

Trưng Nữ Vương

Quỳnh Giao

Người viết tự dưng nhớ lại các ca khúc về Hai Bà Trưng vì đọc báo thấy có người mình qua tận tỉnh Quảng Tây bên kia biên giới để lên đồng hay múa hát gì đó trước miếu thờ Phục Ba Tướng Quân Mã Viện!

Trong kho tàng tân nhạc của chúng ta, thời kỳ phôi thai lại có nhiều tác phẩm viết về lịch sử nhất. Vì thời đó các tác giả đều ở lứa tuổi thanh niên nức lòng ái quốc, hay là vì khi đó nước ta đã chớm thấy hy vọng độc lập?

Riêng về Hai Bà Trưng, chúng ta có ba ca khúc tiêu biểu ca tụng công đức hai bà. Ðó là “Hồ Lãng Bạc” của Xuân Tùng, “Ngày Xưa” của Hoàng Phú và “ Trưng Nữ Vương” của Thẩm Oánh. Xin hãy lần lượt nhớ lại từng bài, trước tiên là “Hồ Lãng Bạc.”

Hình như nhạc sĩ Xuân Tùng chỉ sáng tác có mỗi bài này, hoặc nếu ông có các tác phẩm khác thì chúng không được phổ biến chăng?.. Nhưng chỉ riêng với “Hồ Lãng Bạc” ông đáng được biết đến vì lời từ và về nhạc thuật. Bài hát viết trên nhịp luân vũ ¾ âm giai Trưởng trong sáng, rất thích hợp với lời tả cảnh, dạt dào sóng nước:

Thuyền bơi dẻo lướt trên hồ đầy nước trong

Bọt tung theo sóng kêu dạt dào

Buồm căng nặng gió mang thuyền đi lướt nhanh

Én nhào trên nước lóng lánh

Bờ xa bát ngát ven trời mây sóng đưa

Thành cây xa tắp trong mây mờ

Hồ Tây đây chốn tranh hùng Trưng Nữ Vương

Khiến người như thấy bâng khuâng

Ðoạn đầu diễn tả cảnh sông nước và nỗi ngậm ngùi. Sau đó, đến chuyển đoạn thì nhạc và lời cùng thay đổi. Mỗi nhịp đều được nhấn mạnh (temps fort) và dứt khoát như lòng quật cường trong trận mạc:

Thề quyết chiến, liều xông lên, thét hùng oai nữ nhi

Gào gió thét, ầm sóng vỗ, thế cùng không chút sờn

Hồ vẫn đấy, người xưa đâu, sóng hùng ghi nữ anh

Buồm quyến gió, thuyền rẽ sóng, phía trời mây nước thanh

......

Bài ca trong sáng và cảm động này, ngày xưa, Quỳnh Giao hay song ca với người anh Bửu Minh (biệt hiệu là “Anh Minh”) khi mới lên bảy trong ban thiếu sinh nhi đồng. Hát với tên thật là Ðoan Trang - vì nít quá chưa có biệt hiệu hay nghệ danh gì!

Nhạc phẩm thứ hai viết về Hai Bà là “Ngày Xưa” của Hoàng Phú, là tên của nhạc sĩ Tô Vũ. Thời kỳ mới sáng tác các bài hát ngợi ca lịch sử, Hoàng Phú cùng anh là Hoàng Quý đã dùng nhạc khơi lên bầu nhiệt huyết trong sáng hồn hậu của thanh niên. Từ “Tiếng Chim Gọi Ðàn” đến “Nước Non Lam Sơn,” từ “Bóng Cờ Lau” đến “ Ngày Xưa,” là cả một tấm lòng tha thiết với quê hương và tổ quốc. Hãy nghe lại lời Hoàng Phú kể chuyện:

Dòng sông Hát nước xanh mờ sâu

Êm đềm trôi về tới nơi đâu?

Sóng đưa lăn tăn con thuyền ai xuôi

Theo gió khơi tiếng ca âm thầm trầm rơi

Ngày xưa kia nơi đây đã từng vanh hình bóng

Ðôi quần thoa đem máu đào hòa nước sông nhà

Hồn linh thiêng sống trong muôn ngàn sóng

Những khi nao chiều vắng trầm đưa êm tiếng ca

Thuyền ai lướt sóng trên dòng sâu

Êm đềm trôi về đến nơi đâu?

Có hay chăng ai trên dòng sông xanh

Tiếng ca thuở xưa như gợi tâm tình...

Ca khúc chậm buồn trên âm giai thứ, nhịp Boston ¾. Lời và nhạc u uẩn, tha thiết bi ai. Cũng trong ban nhi đồng ngày xưa, Mai Hương khi mới trên 10 tuổi thường hát bài này. Chắc chị rất thích “Ngày Xưa” vì trong những đĩa nhạc chị phát hành ở hải ngoại, người viết có nghe chị trình bày lại bài hát này...

Và sau hết phải kể đến “Trưng Nữ Vương” của Thẩm Oánh.

Ông thuộc lớp nhạc sĩ tiền phong của tân nhạc Việt Nam, với tác phẩm rất phong phú về nhạc thuật và lời từ cổ điển. Ðiểm đặc biệt khi ông dùng âm giai ngũ cung, nét nhạc lại mang âm hưởng nhạc Trung Hoa. Những bài như “Ngàn Cánh Chim Về”, Nhớ Nhung”, “Xa Cách Muôn Trùng”, “Chim Gió Tha Phương”, “Tòa Miếu Cổ”... đều nghe như giai điệu Trung Hoa. Và tuy “Trưng Nữ Vương” là bài hùng ca có nhịp quân hành mà vẫn nghe ra âm điệu Á Ðông.

Nhạc sĩ Thẩm Oánh viết tác phẩm ngợi ca hai vị nữ anh hùng trên âm giai Trưởng, với những chuỗi nốt móc có chấm và nốt móc hai để nhấn mạnh nhịp điệu hùng dũng của bài hát. Lời ca uy nghi và đầy mầu sắc:

Trưng Nữ Vương lau phấn son mưu thù nhà

Mài gươm vang khúc toàn thắng hùng ca

Thu về giang san cho lừng uy gái Nam

Bầu trời Á sáng ngời ánh quang...

Nợ nước phó tay người nhi nữ

Tình riêng cứu nguy cho toàn dân

Một lòng trung trinh son sắt bền

Hát giang sóng rền...

Trưng Nữ Vương, dầy đức cao ơn

Xin ứng linh ban phúc cho giang sơn hòa bình

Trưng Nữ Vương, nước non còn đó

Giống Lạc Hồng quyết kiên lòng bồi đền non sông...

Như hầu hết tác phẩm của Thẩm Oánh, bài “Trưng Nữ Vương” khá dài vì còn một chuyển đoạn rồi mới trở về điệp khúc. Bài này là hiệu đoàn ca của trường trung học Trưng Vương trước năm 1975. Bên trường Gia Long thì dùng bài “Cô Gái Việt” của Hùng Lân.

Thời nay, có lẽ nhiều người trong nước không còn biết gì về ba ca khúc này, huống hồ là người sống trên mạn ngược ở gần biên giới Quảng Tây.

Nhưng thật ra, họ không được học hay được kể lại về trận đánh của Hai Bà với Mã Viện tại hồ Lãng Bạc nên hiển nhiên là không hề rung động nếu có nghe thấy Hồ Lãng Bạc của Xuân Tùng. Trong hoàn cảnh đó, làm sao họ biết rằng sau khi Hai Bà tử trận, chư tướng bị bắt qua bên Tầu vẫn còn nhớ tới công ơn và lập miếu thờ tại tỉnh Hồ Nam! Nếu lên tận đó mà múa gươm đánh trống thì đẹp đến chừng nào!

Dĩ nhiên là với tình trạng ngày nay của đất nước thì đấy là việc cấm kỵ! Vì vậy, và cũng để nhớ tới hai vị anh hùng dân tộc, người viết bèn hỏi thêm các bậc trưởng thượng trong nhà để kết thúc bài tạp ghi với vài chi tiết mà hải ngoại này không thể quên:

Tại địa giới Hành Sơn của Hồ Nam có núi “Phân Mao” với nét lạ là cỏ mao rẽ hẳn ra hai hướng Nam-Bắc. Thời xưa, đây là địa giới cực Nam của Trung Nguyên. Chẳng biết đấy có là biên vực phía Bắc của nước Văn Lang không, nhưng bỗng dưng mình nhớ Bình Ngô Ðại Cáo và lời Nguyễn Trãi: “Sơn hà cương vực đã chia; Phong tục Bắc Nam cũng khác!”

Ta cũng biết là phía Nam Ðộng Ðình Hồ của khu vực này có đền thờ bà Trưng Trắc. Biết như vậy vì trên đường đi sứ vào thời Tây Sơn, Ngô Thời Nhiệm của nước Nam có qua đó, kể lại chuyện phân mao và làm bài thơ về núi Phân Mao với lời nhắc tới lưỡi gươm của Trưng Trắc. Ðó là bài “Phân Mao Lĩnh”...

Ai sẽ thắp nhang tại đền thờ Trưng Trắc bây giờ? Mà liệu ngôi đền ấy còn không khi mà mấy tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại Ðông Nam Á còn bị Hà Nội cho người đi phá!

Chuyện Vô Lý

Quỳnh Giao


Thời nào, người nào cũng có thể thấy nhiều chuyện vô lý trong đời mình.

Thời càng loạn thì chuyện vô lý càng nhiều, như những chuyện của nước ta trong thế kỷ 20 vừa qua. Vì hoàn cảnh ấy, người thấy nhiều chuyện vô lý nhất trên thế gian trong cái thế kỷ loạn lạc nhất ắt hẳn phải là... người Việt Nam!

Ghi lại những chuyện vô lý ấy thì cũng có lắm người.

Nhưng, bật cười viết ra với lòng trung hậu và văn phong dí dỏm thì có lẽ chỉ có Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc. “Chuyện Vô Lý” cũng là tên cuốn sách ông xuất bản năm 1942, sau tác phẩm đầu tay là cuốn “Trước Ðèn” xuất hiện năm 1939. Ðây là những bài phiếm luận viết trên nhật trình, tức là báo ngày, về sau được gom lại xuất bản thành sách.

Giờ này, khi thế kỷ 21 đã tròn mười tuổi, mà nhắc đến những bài phiếm của bảy chục năm trước, khi đất nước chưa lâm vào những cảnh thậm vô lý, thì có phải là... vô lý không? Vậy mà ngòi bút tạp ghi này vẫn cứ muốn ghi lại, sau khi lần giở lại từng bài phiếm của Lãng Nhân.

Nhớ lại thì vào khoảng thời gian 1940 ấy, tân nhạc Việt Nam mới bắt đầu phôi thai, với các tác phẩm đầu tay đã có thể đi vào lãng quên, và những tác phẩm gần đây thì cũng không đáng nhớ. Hình ảnh cây cầu vồng ngũ sắc để lại những dư âm chói lòa mà mất dần cái thời vang bóng là một lối nói về tân nhạc Việt Nam. Nhờ Lãng Nhân trong “Chuyện Vô Lý,” người viết biết là lối so sánh ấy gọi là “quá thực ngữ,” tiếng Pháp gọi là “hyperbole.”

Trong cùng khoảng thời gian ấy, văn học đã trải qua mấy đợt thác ghềnh và thoát xác. Có khi còn bị lột da lột xác như sau năm 1975.

Từ thời Nam Phong cổ kính bị tờ Phong Hóa của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn chế diễu bài xích vì tội cổ hủ, qua đến thời Sáng Tạo nổi lên ở trong Nam đã cười cợt cái phong hóa cổ lỗ của Tự Lực Văn Ðoàn, chúng ta có thấy bút chiến tưng bừng và cãi nhau tóe mực. Sau đó, đến lượt anh em trong Sáng Tạo cũng được “cách mạng” trong ngoặc kép cho vào hầm tối. Rồi văn học kiểu cách mạng ấy còn bị đào thải nhanh hơn vậy!

Trong khung cảnh ấy, ngồi đọc lại Lãng Nhân thì mới thấy ông là cây bút tối tân.

Vượt qua ngần ấy chặng đường và chứng kiến bao cảnh trang thương, ông vẫn là ông với văn phong cứ như mới. Trẻ mãi không già là con người ấy. Lời chúc “sống lâu trăm tuổi” cũng ứng vào ông. Lãng Nhân sinh năm 1907 tại Hà Nội và mất năm 2008 tại Cambridge, bên Anh.

Tác phẩm “Chuyện Vô Lý,” xuất bản năm 1942. (Hình: sachxua.net)

Có lẽ bút hiệu Lãng Nhân của ông xuất phát từ một tích xưa của Nhật về 47 tay “lãng nhân” hay “ronins,” biểu tượng của sự chung thủy trong một thiên anh hùng ca của các võ sĩ đạo Nhật Bản. Ông còn dùng bút hiệu Cố Nhi Tân để viết về chuyện xưa. Khi lưu vong tại Anh thì lấy bút hiệu là Tị Tần, ông muốn xác định tư thế tỵ nạn chế độ bạo Tần.

Ngày nay, khi đọc tin thấy ngần ấy hoa hậu Việt Nam ngồi cho dăm ba người Ðại Hàn, Ðài Loan chấm làm vợ, chúng ta cho là chuyện vô lý, vô đạo. Lãng Nhân đã nói phiếm về chuyện cũng vô lý như vậy dưới thời thực dân Pháp. Mấy chục năm sau khi giới thiệu thiên phóng sự “Kỹ Nghệ Lấy Tây” của Vũ Trọng Phụng, ông không ngờ là nước ta lại có “Quốc Sách Lấy Tầu”! Ðâm ra trái đất xoay đủ một vòng và nước ta lại quay về chốn cũ!

Những chuyện như vậy thì nhiều lắm, đọc xong nước mắt bỗng cay xè. Nếu đọc lại bài “Lời Người Bán Cám” thì mình hiểu. Nhưng lâu lâu lại được tác giả an ủi cho, với một lời châm biếm làm bật cười.

Lãng Nhân là người tân tiến mà nệ cổ trong cách viết. Các từ kép đều có gạch nối cẩn thận, như thầy cô ngày xưa đã dạy chúng ta. May lắm, ngày nay chỉ còn ông Nguyễn Ngọc Bích là giữ lối viết đó.

Nhưng đấy chỉ là cách viết để nhấn mạnh đến xuất xứ và ý nghĩa của ngôn từ. Còn về văn phong thì Lãng Nhân quả là người hiện đại. Ðọc lại vẫn như mới. Còn hay hơn nhiều bài phiếm của thời nay ở cách chấm câu, ngắt dòng, bằng lối dùng chữ súc tích dù rằng khi đó chữ nghĩa của ta không nhiều như ngày nay. Còn ngòi bút ông thì sắc như một lát dao.

Xin hãy thưởng thức lại một đoạn:

“Thịt da ai cũng là người, nay nhờ có bác-sĩ ta mới biết có thứ da thịt annam, có thứ da thịt tây.”

Tác giả viết về “Ông Tây Nam Annam” như vậy. Và ông dí dỏm “Lẩy Kiều” với câu “thịt da ai cũng là người” để gợi lại chuyện nàng Kiều bị đánh. Rồi tủm tỉm luận tiếp về sự khác biệt.

“Thế thì ta có khác tây về da thịt đi nữa, cũng là lẽ tự nhiên.

“Song khác nhau như thế nào?

“Có người sành sỏi bảo rằng: thịt tây to thớ, da tây trắng và nhiều lông; còn thịt ta nhỏ thớ, da ta vàng và ít lông.”

Ðó mới chỉ là so sánh về ngoại hình thôi. Lãng Nhân tinh quái thọc dao vào dưới mô bì:

“Cứ kể nhận như thế cũng là rành lắm rồi. Nhưng tôi tưởng da tây, thứ nhất là da tây ở dưới trời thuộc địa, còn có cái đặc tính là gây hơn da ta, nhưng quý giá vô cùng: hễ ai chạm đến là tù tội.”

“Còn da ta thì dầy dặn, có thể quất bằng gân bò, tát bằng ngón tay chuối mắn, đá bằng giầy đinh, hay đem đốt bằng nến như ở Hà-Tiên vừa rồi, cũng cứ gọi là trắng án như thường.”

Lãng Nhân là người tinh thông Hán học, lại là tự học vì bị đuổi khỏi trường Bưởi sau khi biểu tình chống Pháp. Mà ông lại học chữ Hán từ... sách Pháp nên lầu thông cả hai. Ðọc bài ông viết về khoa tu từ của văn chương Pháp so với cách viết của ta thì mình phải khâm phục sự uyên bác. Ông thấm nhuần văn hóa Pháp và dịch thơ Tây rất đẹp. Ông lại thuộc điển Tầu, tích gì cũng tìm hiểu, nghiên cứu và hỏi han đến nơi đến chốn. Cuốn “Giai Thoại Làng Nho” của ông có cho thấy một phần của sự uyên bác ấy.

Nhưng, thủy chung thì ông làm giàu cho tiếng Việt, cho chữ quốc ngữ. Ông luận bàn chuyện gì thì cũng trở lại cái hồn Việt Nam, đề cao cái tinh túy Việt Nam qua chuyện xưa tích cũ. Trong các trận bút chiến thời trước, ông có tham dự, nhưng với tinh thần hòa giải Ðông Tây Cũ Mới, chứ không quá cực đoan gay gắt.

Và lời châm biếm của ông cũng nhẹ nhàng, nhuốm mùi hài hước trong tinh thần “cười cợt để sửa lại phong hóa,” như tên một bài phiếm của ông trong cuốn “Trước Ðèn”à

Trong cõi đời có quá nhiều chuyện vô lý này, nếu có đem “Chuyện Vô Lý” của Lãng Nhân ra đọc lại thì cũng là điều có lý. Xin hãy đọc lại để nhớ ơn người xưa.

Giấc mơ hồi hương

Quỳnh Giao

Ðôi khi với các nhạc sĩ sáng tác ca khúc, sự thành công có thể đến với họ khá bất ngờ.

Ðiều này thường xảy ra chứ không phải là hiếm, và làm chính tác giả ngạc nhiên. Thí dụ như Văn Phụng đã sáng tác từ trước 1954, và ca khúc đầu tiên của ông là “Ðóa Hồng Nhung” cho đến bây giờ không ai hát và biết đến. Ông kể rằng tự mình gửi vào đài phát thanh Pháp Á nhờ danh ca Minh Trang hát ca khúc đầu tay này, và khi ấy còn tưởng Minh Trang trẻ hơn mình nên đề tặng “mến tặng Minh Trang.” Ðến khi di cư vào Nam, lên đài phát thanh Quốc Gia để đàn cho ban nhạc thì mới gặp bà chị lớn hơn mình nhiều, bèn từ đó chị chị em em! Vậy mà ông vẫn chưa nổi tiếng lắm, cho đến khi “Ô Mê Ly” và “Trăng Sáng Vườn Chè” ra đời thì danh tiếng ông mới bốc như cồn...

Nhạc sĩ Hoàng Trọng viết nhạc từ cuối 1940, có riêng một ban nhạc trên đài phát thanh Hà Nội (Ban Bảo An) vậy mà đến 1951 mới nổi danh nhờ bài “Nhạc Sầu Tương Tư.” Nhạc sĩ Lam Phương khi còn là học trò của Hoàng Lang đã bắt đầu sáng tác, nhưng bài hát đem lại tên tuổi của ông chính là “Duyên Kiếp” mà trẻ con trong ngõ đứa nào cũng biết nghêu ngao “em ơi nếu mộng không thành thi sao???”

Và đây là trường hợp của Vũ Thành, do chính ông nói ra. Sáng tác ca khúc và là trưởng ban Việt Nhạc của đài phát thanh Hà Nội là một vị trí sáng chói thời đó khi nền tân nhạc đang chuyển từ thời phôi thai sang đến thời vàng son. Ca khúc đầu tay là “Tình Xuân” mở đầu cho những ca khúc nghệ thuật có âm hưởng bán cổ điển là nét độc đáo riêng của Vũ Thành. Sau đó là một loạt những tuyệt phẩm như “Nhớ Bạn,” “Hương Nhớ Nhung,” sau được đổi tựa lại là “Gửi Áng Mây Hàng,” rồi “Gió Thoảng Hương Duyên,” “Say Nhạc Canh Tàn,” “Ngày Tái Ngộ,” v.v...

Nhưng phải đợi đến khi “Giấc Mơ Hồi Hương” xuất hiện sau 1954, tên tuổi của ông mới bắt đầu quen thuộc với mọi thành phần thính giả. Trước đó Vũ Thành chỉ được một số thính giả nghe nhạc cổ điển hâm mộ mà thôi.

Ông bảo rằng điều đó không làm ông thấy hân hạnh gì mấy. Vì nếu ông nổi tiếng nhờ “Giấc Mơ Hồi Hương” qua lối trình bày thiếu trung thực, không đúng với những điều ông viết thì thành công đó là do lời ca hơn là vì nhạc! Tại sao Vũ Thành nói như vậy thì có lẽ giới thưởng ngoạn không hiểu. Riêng người viết có được ông thổ lộ mới dám ghi nhận lại điều này.

Kể ra thì nhạc sĩ Vũ Thành quá khó tính, chứ bài “Giấc Mơ Hồi Hương” của ông thuộc vào loại sáng tác nghệ thuật như tất cả các tác phẩm khác của ông. Bài hát được viết trên nhịp 3/4 Boston dìu dặt tha thiết, cung Do Trưởng. Mười sáu ô nhạc mở đầu với nhiều intervals rộng, từ nốt thấp là Sol dưới hai dòng kẻ lên tới nốt Mi cao ở khuông thứ tư càng làm rõ sóng lòng dâng ngập. Chuyển đoạn (modulation) của bài mới là tuyệt chiêu khi ông sử dụng những nốt liên ba (triolet) diễn tả nối nhớ nhung lên đến cực điểm.

Nét diễm kiều của Hà Nội trong trí nhớ và sự liên tưởng bàng hoàng nhờ từng câu nhạc. Khi thì lên cao, rồi chuyển từ Trưởng qua thứ, và xuống thật trầm để tả bóng đêm dần tàn mơ hồ... Bài hát hay quá, nên ca sĩ nào cũng thích hát. Dù bài hát soạn cho giọng soprano hay ténor mà thôi, nhưng ai mà dám can? Lối trình bày của đa số khi hát “Giấc Mơ Hồi Hương” thường là “ad lib,” tức là hát tự do, muốn ngừng lấy hơi lúc nào thì ngưng, muốn ngân chữ nào dài hơn hay ngắn hơn cũng được. Ngoài ra còn được đổi luôn nhịp, khi thì hát thành Slow, khi thì hát thành Boléro, và xuống hai ba cung là chuyện thường.

Vì thế mà Vũ Thành mới hối hận. Ông nói nếu lời từ là sự thành công của bài hát thì lời bài “Giấc Mơ Hồi Hương” được gợi ý từ một bài thơ đọc được trên một tạp chí văn nghệ, mà ông chỉ nhớ bài thơ và quên tên tác giả. Quỳnh Giao xin ghi lại bài thơ như sau:

Ðau đớn nhìn Hà Nội

Khuất dần sau sương rơi

Sông Nhị Hà sôi nổi

Cầu Long Biên xa rồi

Mắt nhìn hình ảnh cuối

Lòng thương nhớ khôn nguôi

Nghẹn ngào tâm sự cũ

Thôi rồi Hà Nội ơi...

Vũ Thành quả là người khiêm tốn, vì với Quỳnh Giao lời ca của “Giấc Mơ Hồi Hương” sâu xa và mới hơn ý của bài thơ nguyên thủy. Thời đó, gọi thành phố Hà Nội là “Em” mà không là mới sao? Và lãng mạn quá đi chứ!

Lấy cảm hứng từ bài thơ ấy, đây là lời ca của Vũ Thành, và Quỳnh Giao ghi thêm cả lời hai, được ông viết lại quãng năm 1970:

Lìa xa thành đô yêu dấu

Một sớm khi heo may về

Lòng khách tha hương vương sầu thương

Nhìn em mờ trong mây khói

Bước đi những chưa nỡ rời

Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly

Rồi đây dù lạc ngàn nơi

Ta hướng về phía xa vời

Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai

Nghẹn ngào thương nhớ em, Hà Nội ơi!

Ta nhớ tới em một chiều chớm thu

Dáng yêu kiều của ngày đã qua

Thướt tha bên hồ liễu thưa

Lắng tiếng tiêu hồn của ngàn phím tơ

Thiết tha thề ước mối duyên hờ đã phai mờ

Trong bóng đêm mơ hồ...

Mơ ước thấy em một ngày sáng tươi

Tắm nắng hồng của một sớm mai

Say hương thanh bình khắp nơi

Lắng tiếng uy hùng của từng lớp trai

Cất cao lời hứa xây cuộc đời

Sầu tàn trong bóng đêm dài...

Ðoạn trở về điệp khúc, thay vì hát lại lời một, Vũ Thành soạn lời hai như sau:

Chiều nay nhìn về quê xưa

Hình bóng thân yêu chưa mờ

Gửi tới cố hương chút niềm thương

Tìm em qua bao năm tháng

Vó câu chinh nhân chưa mòn

Ngoài chân mây xa bừng lên muôn ánh hào quang

Rồi đây trên đường hồi hương

Vang tiếng cười chốn xa trường

Cùng dìu nhau sát vai sống trong tình thương

Ðể cùng xây giấc mơ hồi hương...

Lời ca của Vũ Thành đầy cảm xúc, với tâm tư và cảnh sắc lung linh choáng ngợp. Ca khúc đã được rất nhiều người hát, từ Ánh Tuyết, Thái Thanh, Kim Tước, Khánh Ngọc, Mai Hương của giọng nữ cho đến giọng nam của Anh Ngọc, Thanh Vũ, Hùng Cường, Ðoàn Chính, Bùi Thiện... Riêng lời hai của bài này chỉ có hai người hát do chính Vũ Thành đưa ra và yêu cầu là Anh Ngọc và... người viết bài.

Năm xưa, Anh Ngọc hát “Giấc Mơ Hồi Hương” cho chương trình đài Tự Do. Sau đó, khi lên máy bay đi tỵ nạn, Vũ Thành không mang hành lý nào ngoài cuốn tape thu một số bài hát với hòa âm của mình mà ông quý như bảo vật. Còn Quỳnh Giao thì ghi âm vào tape “Hát Cho Kỷ Niệm số 1” ở ngoài này mà chỉ để tặng chứ không bán, với lời giới thiệu của chính Vũ Thành. Giờ này nghe lại vẫn rớt nước mắt...

Ngày nay, người ta đã có thể trở về Hà Nội. Nhưng giấc mơ kia của Vũ Thành vẫn còn nguyên vẹn vì Hà Nội đã đổi khác.

Tái Ông Thất Mã

Quỳnh Giao


Người viết này có cái thú đọc truyện trinh thám.

Truyện trinh thám của chúng ta không có nhiều. Sau thời kỳ Thế Lữ với Lê Phong tới thời kỳ Phạm Cao Củng với Kỳ Phát thì thể loại văn chương đó bị đẩy lui dần. Trinh thám phóng tác của Lương Quân rồi Hoàng Hải Thủy và nhiều dịch giả khác cứ dần dần lấn đất giành dân.

Có muốn tìm ra nguyên bản thì cũng... khó, vì không có nhiều ở Sài Gòn, mà chính mình thì cũng... chẳng nhiều chữ.

Sau cuộc đổi đời 1-9-7-5, chúng ta có thêm một lần đánh vật. Không chỉ với chữ và nghĩa và tay chân để kiếm việc làm nuôi gia đình, mà còn đánh vật với cuốn sách. Vào thời kỳ đổ bộ ấy, sách báo tiếng Việt chưa có nhiều, nhà Xuân Thu hay Lê Bá Kông mới chỉ tái bản một số, trong đó gần như không có truyện trinh thám, loại sách chưa đáng mặt văn chương.

Như chuyện Tái Ông Thất Mã, trong cái rủi lại có cái may!

Người viết để ý đến trinh thám ngoại quốc từ đấy. Sống trên xứ người ta mà không đọc sách của người ta thì làm sao hiểu xã hội của người ta? Mà trinh thám thật ra là truyện xã hội đặt trong hoàn cảnh kỳ bí, và kích thích sự tò mò của chúng ta. Mở cuốn truyện là có chuyện đấu trí, xem tác giả đánh lừa sự suy luận của mình như thế nào.

Một lý do khác là tâm tư buồn bã của người tỵ nạn khiến mình ít đọc các tác phẩm văn chương nữa. Ðọc lại “Chiến Tranh và Hòa Bình” của Tolstoy thì mình lại nhớ đến... Sài Gòn và phim ảnh xuất phát từ tác phẩm này.

Trong các cuốn trinh thám, Quỳnh Giao thích nhất loại hình sự liên quan đến luật pháp. Sách của Grisham hay Patterson vẫn có... trí tuệ hơn truyện của Ludlum hay Forsyth. Cũng may là trong nhà, có ba người đều cùng thích đọc, mỗi người một loại... Nhờ đấy thì mới để ý tới truyện trinh thám của học giả Hòa Lan là Robert Van Gulik. Ông này tinh thông cỡ trăm truyện và chục ngôn ngữ, rồi buồn buồn viết truyện trinh thám... đời Ðường, hơn ngàn năm trước ở bên Tầu.

Cũng nhờ có liếc qua nhiều loại truyện như vậy mình mới khám phá ngược. Tìm ra một tác giả Tầu ở bên Mỹ, viết truyện trinh thám hiện đại ở... Thượng Hải. Tên ông ta là Qiu Xiaolong mà nhờ có mấy người thông thái trong nhà, Quỳnh Giao mới biết là tên chữ Hán là Cừu Tiểu Long. Xin quý độc giả để ý đến tác giả này.

Tác giả sinh năm 1953 ở Thượng Hải, thân phụ là giáo viên tức là người có học trong xã hội đó và vì vậy bị vướng trong vụ Cách Mạng Văn Hóa, năm cậu bé Tiểu Long còn là học sinh. Khi ông bố bị lôi ra đấu tố mà mắt đã gần mù vì bị đánh thì cậu phải nắn nót viết bản tự thú do người cha đọc cho mình. Con đường dẫn Tiểu Long vào văn chương là như vậy đấy!

Sau mười năm được cải tạo, Tiểu Long mới được đi học lại và cái mầm văn chương dẫn cậu về văn học cổ của Trung Hoa, rồi mở ra thi ca thế giới khi học ngoại ngữ. Cậu miệt mài đọc Shakespeare, Jack London hay Mark Twain và mê nhất là thơ T.S. Eliot cùng truyện trinh thám của Conan Doyle...

Trong đời người, ai ai cũng có thể trải qua những hoạn nạn và đi tìm giải thoát trong văn chương, nhưng cũng cần phải có năng khiếu, và nhất là may mắn. Tái Ông Thất Mã mà!

Là người dịch thơ T.S. Eliot ra tiếng Tầu, cậu được cấp học bổng một năm qua sống tại sinh quán của nhà thơ, tại St. Louis. Chuyện Tái Ông Thất Mã lại tái diễn. Ở Hoa Kỳ, đang chuẩn bị luận án tiến sĩ thì Cừu Tiểu Long làm bếp lấy tiền cứu giúp nạn nhân vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989. Nhờ báo chí Mỹ mau mắn phóng tên mình lên đài, gia đình ở nhà lập tức được công an thăm hỏi. Còn cuốn thơ mà Cừu Tiểu Long dự tính xuất bản lập tức chết yểu.

Nhưng trong cái rủi lại có cái may. Cừu Tiểu Long và người vợ ở lại luôn bên Mỹ, trở thành công dân Mỹ! Cái rủi của tác giả là cái may của Hoa Kỳ vì có thêm một giáo sư dạy đại học, một tác giả làm thơ và viết truyện bằng tiếng Anh. Nỗi đam mê truyện trinh thám từ thời còn trẻ đã trào dâng và đưa Cừu Tiểu Long về đất Thượng Hải của thời thanh xuân đầy sóng gió...

Cửu Tiểu Long viết truyện trinh thám về Thượng Hải trong những năm đổi đời và viết rất hay! Xuất bản năm 2000, tác phầm đầu tay là cuốn “Cái Chết Của Một Anh Thư Ðỏ” - Death of a Red Heroin - được giới phê bình Hoa Kỳ và Âu Châu nhiệt liệt ngợi khen. Nối tiếp là sáu cuốn khác, cũng ly kỳ không kém!

Gần như truyện Simenon mà tươi tắn hơn nhiều, truyện trinh thám của Cừu Tiểu Long dựng lại không khí muôn màu của xã hội cộng sản Thượng Hải khi tiếp xúc với kinh tế thị trường và gặp cơn sốt vỡ da. Ðộc giả nơi nơi đều tán tụng nên truyện của Cừu Tiểu Long đã được phiên dịch qua 23 thứ tiếng, bán cả triệu cuốn. Rất bén nhạy, từ mấy năm trước nhật báo Le Monde của Pháp mời tác giả trinh thám viết về chuyện hiện thực xã hội. Từ đó mới có cuốn “Phong Trần Ðỏ” - Cité de la Poussière Rouge, mà bên Mỹ đã xuất bản thành “Years of Red Dust”...

Nhà cầm quyền Bắc Kinh bèn... bắt quàng làm họ!

Tác giả được hồi hương để diễn thuyết về thi ca. Tập thơ bị bóp chết năm xưa nay được hồi sinh, sẽ xuất bản trong năm nay tại Thượng Hải.

Tái Ông Thất Mã! Nhờ thích đọc trinh thám, người viết cột “tạp ghi” này lại biết thêm về một tác giả, một nhà thơ và giáo sư có tài, được thế giới Âu-Mỹ mến mộ và sẽ có ngày dạy về thơ T.S. Eliot cho trẻ em Trung Quốc!

Thế rồi trông người lại nghĩ đến ta.

Tại California và cả miền Tây nước Mỹ, các gia đình Trung Hoa đều gửi con tràn ngập các đại học danh tiếng nhất, và chăm chút mầm non âm nhạc từ khi còn bé. Trong một thế hệ nữa thôi, nhân tài người Mỹ gốc Hoa sẽ rất đông. Các dàn nhạc giao hưởng Hoa Kỳ sẽ có rất nhiều nhạc sĩ vĩ cầm, dương cầm hay trung hồ cầm gốc Hoa... Làn sóng đó đang trào dâng.

Chúng ta vừa mất Thảo Trường. Với người viết là cây bút vững chãi và điêu luyện nhất không chỉ của miền Nam mà của cả nước Việt trong và ngoài từ mấy chục năm qua. Nhưng ngoài một số độc giả và bằng hữu, ít ai nhắc tới ông. Văn chương thế giới thì có lẽ cũng chẳng biết tới. Nếu Thảo Trường mà viết bằng Anh ngữ, hoặc có người chuyển ngữ tác phẩm của ông thì có lẽ sự thể đã khác.

Dù sao thì cũng đừng buồn. Nếu được biết về chuyện của chúng ta, đôi khi Cừu Tiểu Long có lời an ủi. Ngày đặt chân tới St. Louis vào năm 1988, ông tò mò hỏi dân chúng đường đến ngôi nhà xưa của nhà thơ T.S. Eliot và đều được mọi người hỏi lại: “T.S. Eliot là ai vậy?”

Chúng ta là ai vậy?

Dear readers,

The following is a pinned post. Hoctro's Place (Góc Học Trò) is a place for me to deliver my past, present, and future thoughts about music and about my "vibe-coding" experiences with Claude Code, tips and tricks, so to speak. It's also a place to post my collaboration with Claude Code, ranging from supervising it to write analysis essays about prominent Vietnamese musicians such as Phạm Duy and Trịnh Công Sơn, to everything else that I find interesting.

For me, Claude AI's analysis essays are so in-depth and showing many new perspectives, it would be wasteful not to share with the world. It is a collaboration, because just like "vibe-coding", I might have not written the words, but I was the one whom conceived the original ideas, supplied the documents for Claude to research from, read and corrected hallucinations, and gave final approval for it to be published.

I sometimes print transcripts of interesting videos from other places, in order to share with others whom are more comfortable in reading and thinking things through. I don't have adsense as a side source income, so again if anything it's just helping the original video owners to gain more potential viewers, and readers to have readable material to learn.


Bạn đọc thân ái,

Sau đây là vài dòng tự sự. Hoctro's Place (Góc Học Trò) là chỗ để tôi chia sẻ những suy nghĩ của mình về âm nhạc và về những trải nghiệm "vibe-coding" với Claude Code, mấy mẹo hay ho mà tôi học được. Đây cũng là chỗ để tôi đăng những bài làm chung với Claude Code, từ việc tôi hướng dẫn nó viết bài phân tích về những nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng như Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, cho tới đủ thứ khác mà tôi thấy hay.

Với tôi, những bài phân tích của Claude AI rất sâu sắc, chỉ ra nhiều góc nhìn mới, không chia sẻ với bạn đọc thì rất uổng phí. Nói là làm chung, bởi vì giống như "vibe-coding" vậy đó, tôi có thể không phải là người viết ra từng chữ, nhưng tôi là người nghĩ ra ý tưởng ban đầu, cung cấp tài liệu cho Claude nghiên cứu, đọc lại rồi sửa mấy chỗ nó viết sai, và quyết định cuối cùng có đăng hay không.

Thỉnh thoảng tôi cũng in lại nội dung mấy video hay từ chỗ khác, để chia sẻ cho những bạn nào thích đọc và suy ngẫm hơn là coi video. Tôi không có chạy quảng cáo kiếm tiền gì hết, nên nếu có gì thì cũng chỉ là giúp mấy chủ video gốc có thêm người xem, và giúp bạn đọc có thêm tài liệu để học thôi. Chào bạn và mong bạn tìm thấy những khoảnh khắc vui khi đọc trang này.