8.22.2019

Phạm Duy Của Ngày 27 tháng 1 năm 2013


Tác giả: Ngu Yên

 
Trưa nay
một con chim lớn lặng lẽ bay về phương xa
để lại tiếng kêu cảm động mặt trời
rơi vàng nắng âm u Sài Gòn chiều Chủ Nhật.

Từ bắc về nam ra ngàn trùng biển khơi
cây đàn ghi-ta  dáng cong hai chữ S
ráp ngược đầu thành thùng đàn.
Một chữ trong lòng
một chữ nước non
vang tiếng hát bảy mươi năm tình quê khách lạ
bao nhiêu người có tai?

Quê hương không dành riêng cho bất cứ ai
mấy kẻ ngửi được hương
dù không có quê?
bao nhiêu người có mũi?

Lòng người hẹp như lỗ kim
chim lớn làm sao bay qua?
bao nhiêu kẻ có tim?

Miệng người thở đầy khí độc lưỡi như rắn dữ
làm sao nghe tử tế chân tình?
bao nhiêu kẻ có lòng?

Từ 1942 đến 1945
từ 1949 đến 1953
từ 1975 đến 2005
từ 2006 đến 2013
có năm nào thiếu Phạm Duy?

Từ một nốt đến ngàn nốt
từ tiếng bình dân đến câu thơ
từ thanh bình đến chiến tranh đến di tản
từ tôn giáo đến ngục ca, tục ca, du ca đến ngàn lời ca
có khi nào thiếu Phạm Duy?

Từ em bé đến người già
từ chiến sĩ đến linh mục đến tỳ kheo
từ thiếu nữ  khóc đến thanh niên  cười đến tình nhân ôm hồn kỹ niệm
có người nào thiếu Phạm Duy?

Từ nỗi buồn nhỏ đến thất vọng lớn
từ yêu người yêu nước yêu ca dao
từ bàn tiệc, phòng trà, sân khấu cho đến một mình đâu đó
có bài hát nào thiếu Phạm Duy?

Trước 2 giờ 45 trưa
Sài Gòn, Luân Đôn, Melbourne, Hà Nội, Paris, Houston, Nha Trang, Toronto, Dallas,
Huế, Quận Cam, New Orlean, Quảng Nam, Sidney, Montreal, Qui Nhơn, Lục Tỉnh….
đang nói tiếng Việt
chưa thiếu Phạm Duy.

Sau 2 giờ 45
một con chim lớn lặng lẽ bay về phương xa
để lại tiếng kêu cảm động mặt trời
rơi vàng nắng âm u Sài Gòn chiều Chủ Nhật.
từ nay
thiếu Phạm Duy.
 

7.31.2019

Vài cảm nghĩ về nhạc phẩm "Đường Em Đi" của nhạc sĩ Phạm Duy

 
 
Tình cờ tôi tìm thấy trên liên mạng một tập nhạc được scan lại, có tựa đề "Ngày Đó Chúng Mình Yêu Nhau". Tập nhạc được phát hành năm 1968, là một tập hợp "14 bài dành cho đôi lứa" do chính nhạc sĩ Phạm Duy tuyển chọn. Có một số bài tôi đã thử phân tích từ những ngày đầu mon men tìm hiểu cách soạn nhạc, như bài “Hoa Rụng Ven Sông”, “Mưa Rơi”, và “Ngày Đó Chúng Mình”. Rồi có một số bài tưởng như đơn giản, nhưng nay nhìn kỹ lại thì thấy chúng rất đặc sắc, kinh điển, dẫu chỉ là những phát triển đơn giản từ một nhạc đề chỉ có ba hoặc bốn chữ. Tôi muốn nhắc đến các nhạc phẩm như “ Đừng Xa Nhau”, “Còn Gì Nữa Đâu”, và nhất là bài "Đường Em Đi", soạn năm 1960, vài năm sau khi nhạc sĩ tự đi học nhạc ở Pháp. "Đường Em Đi" có những chuyển cung độc đáo, cách phát triển biến thể của nhạc đề thật thú vị. Nào, mời bạn cùng tìm hiểu một nhạc phẩm khác trong “Một trăm tình khúc của một đời người” – một tuyển tập các bài hát mà tôi tự lựa ra trên mười năm trước để dễ tập trung thưởng thức và nghiên cứu.
 
 

6.16.2019

Vai trò của Nhạc Đề trong nhạc phẩm Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà

 
 
Khi thưởng thức những nhạc phẩm dài hơi, với nhiều đoạn nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy như Khi Tôi Về (thơ Kim Tuấn), Mùa Xuân Yêu Em (thơ Đỗ Quý Toàn), và nhất là Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (thơ Hữu Loan), tôi hay thắc mắc và có ý tìm xem nhạc sĩ đã làm những gì để bản nhạc vừa đặc sắc, không nhàm chán, mà vẫn giữ được tính chặt chẽ, mạch lạc từ đầu tới cuối bài. Sau một thời gian tìm hiểu các khái niệm như form, phrase, motive, motive-form, development variations, period, sentence, v.v. qua quyển sách Fundamentals of Musical Composition (FMC) của nhạc sư Arnold Schoenberg, tôi thấy rõ ràng các bản nhạc Phạm Duy theo sát các quy tắc Schoenberg chỉ ra (mặc dù sách FMC xuất bản năm 1967, khi nhạc sĩ Phạm Duy đã là một tên tuổi lớn, tất nhiên không sử dụng quyển sách ấy để học nhạc.)
 
Nếu bạn đọc có cùng một thắc mắc như tôi, xin mời bạn hãy bỏ chút thì giờ để cùng tôi tìm hiểu nhạc đề cùng các lề lối nhạc sĩ Phạm Duy đã dùng nhạc đề để phổ từ thơ thành bản nhạc Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (AASCDT). Xin xem thêm Phụ Lục 1 để tôi trình bày và dịch thoát các khái niệm như form, phrase, motive, v.v. từ sách FMC, rồi Phụ Lục 2 để xem lời cùng cách phân chia các đoạn nhạc, và Phụ Lục 3 để xem lời thơ của thi sĩ Hữu Loan. Thành thật xin lỗi bạn trước, nếu tôi có dùng một số từ chuyên môn tiếng Anh lẫn lộn với những từ tương đương tiếng Việt.

Nhạc đề và cách phát triển nhạc đề thành một đoạn nhạc
 
Bài Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà có tới bảy đoạn nhạc, trong đó sáu đoạn hoàn toàn khác nhau, chỉ có đoạn Sáu là lặp lại đoạn Một mà thôi. Không biết bài này đã giữ kỷ lục dài nhất của một bài nhạc phổ thông (không phải trường ca) Việt Nam chưa?

6.15.2019

Nhạc Sĩ Phạm Quang Tuấn: Màu Tím Hoa Sim và Màu Xanh Của Tóc

Mời bạn đọc xem bài viết của NS Phạm Quang Tuấn ở đây:

http://www.tuanpham.org/mautimhoasimvatocxanh.html


****

Xin phép đăng lại hai phụ lục ở trang này:

***

PHỤ LỤC 1

Lời tự thuật của nhà thơ Hữu Loan

(Trích “Lời tự thuật của tác giả 1 bài thơ nổi tiếng”, trên báo Đàn Chim Việt)

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và ...tôi – Nguyễn Hữu Loan.

5.29.2019

Giới thiệu sách quý: Les Arrangeurs de la Chanson Française

Bạn,

Tôi mới tậu được quyển sách này, quá xá đã, vì nó bàn về các arrangeurs tài ba của Pháp quốc. Là những người đứng sau hậu trường, họ làm cho những bài nhạc Pháp từ thời 60' tới nay trở nên rất quyến rũ với giới mê nghe nhạc Pháp. Tác giả sách. Serge Elhaik,  là người từng viết quyển "Paul Mauriat: Une vie en Bleu" (không còn bán trên thị trường)

Sách dày trên 2000 trang (!), đọc mệt nghỉ!''


Sau đây là hình chụp các bài phỏng vấn các thần tượng nhạc "easy listening" của tôi: Franck Pourcel, Raymond Lefevre, Vladimir Cosma, Caravelli, Gerard Gambus, Michel Legrand, v.v.







Nếu muốn mua sách thì mời vô chỗ này (nếu bạn sống ở Hoa Kỳ):

https://www.amazon.com/arrangeurs-chanson-fran%C3%A7aise-200-rencontres/dp/2845976550

Hoctro
 

5.02.2019

Thụy Khuê: Phạm Duy là người Nghệ Sĩ

Sau đây là trích đoạn bài viết của nhà phê bình Thụy Khuê, đăng trên T Vấn & Bạn Hữu ngày 2 tháng 5, 2019. (Hoctro)
 
...
 
Chúng tôi đi thăm mộ Phạm Duy.
 
Duy Cường dẫn chúng tôi đi thăm mộ cha. Ông ở Bình Dương, trên một vùng đất đẹp. Trong Vườn Phạm Duy, thực hiện theo ý tưởng của Duy Cường, bên cạnh ông là mộ Thái Hằng và bia Duy Quang. Trên tượng bán thân bằng đồng đen, khắc theo ảnh chụp của Phong Quang, do điêu khắc gia Nguyễn Văn An thiết kế và Đoàn Tấn Huệ đúc đồng, ông sừng sững như còn tại thế. Trên mộ ghi Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi! bằng chính chữ của Phạm Duy. Ông đã vĩnh viễn trở về với đất nước với tiếng nóicon người.
 


 
 
Mộ Phạm Duy
 

 
Vườn Phạm Duy: Mộ Phạm Duy, Thái Hằng, bia Duy Quang
 
Khi tôi ra đời cách đây 75 năm đã có Phạm Duy. Năm tôi lên bốn, Phạm Duy về làng với những tiếng quân hành bộ đội tràn vào sân nhà những đêm trăng sáng một mùa thu năm qua cách mạng tiến ra đất Việt, bừng ngàn tiếng thanh niên tung gông phá xiềng. Đoàn người trai ra đi miệng hô lớn quyết chiến! Quyết chiến! Chân oai nghiêm đều tiến! Tôi “theo” kháng chiến từ giây phút ấy, trong vô thức chưa định hình của đứa bé lên bốn, với Khởi hành, với Đường Lạng Sơn, với Việt Bắc, với Ngọn trào quay súng, với Tiếng hát trên sông Lô… Bao thanh niên đã lên đường như thế theo tiếng nhạc tuổi xanh. Nếu không có Phạm Duy, Văn Cao… chắc gì cuộc kháng chiến chống Pháp đã thành công.
 
Nhưng Phạm Duy cũng đã sớm thấy sự tàn phá của chiến tranh, người nghệ sĩ ấy đã nghiêng mình xuống Những người thương binh, Mùa đông chiến sĩ… ông ngậm ngùi Nhớ người ra đi, thương tiếc những đồng lúa ngập vàng trong ánh hoàng hôn trên Nương chiều. Rồi Phạm Duy xuôi Trung trong những tháng ngày 1948, xót thương quê hương tan nát với những bà mẹ rách vai, với tiếng o nghèo thở dài với những chiều khô nước mắt… trong Quê nghèo, Về miền Trung, Bà mẹ Gio Linh… Tháng 5 năm 1951, Phạm Duy cùng gia đình vào thành, sự nghiệp văn nghệ của Phạm Duy sang một bước ngoặt lịch sử: từ nay chúng ta sẽ có ban hợp ca Thăng Long với Thái Thanh Thái Hằng Hoài Trung Hoài Bắc, và Thái Thanh sẽ trở thành tiếng hát vượt thời gian đem nhạc Phạm Duy trải dài trên nền đất nước, thấm vào lòng người.
 
Vào miền Nam, 1952 Phạm Duy bắt đầu một thiên tình sử mới với quê hương qua những bản tình ca bất hủ Tình hoài hương, Tình ca, Con đường cái quan, Mẹ Việt Nam… Ở Phạm Duy tình ca, tình người và tình yêu quy thành một mối, một khối, một trái tim. Chúng ta gặp lại công chúa Huyền Trân qua nhạc Phạm Duy, chúng ta đi xuyên Việt qua nhạc Phạm Duy, chúng ta biết yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, qua nhạc Phạm Duy. Chúng ta yêu nhau cũng với Phạm Duy: ngày đó có em đi nhẹ vào đời, chúng ta cưới nhau cũng có Phạm Duy: nhìn trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới… Chúng ta giã biệt nhau cũng với Phạm Duy: ngày ấy có em ra khỏi đời rồi... Chúng ta van xin nhau cũng có Phạm Duy: Đừng xa nhau, đừng quên nhau, đừng rẽ khúc tình nghèoĐừng cho không gian đụng thời gian... Mỗi giây phút thiêng liêng, hạnh phúc, xót xa… trong đời ta đều có Phạm Duy. Ngoài Nguyễn Du, chưa một nhà thơ, một nghệ sĩ nào đi sâu vào tâm hồn người Việt đến thế.
 
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, ta di tản, vẫn cùng Phạm Duy: Một ngày năm bốn, cha rời quê xa… Một ngày bẩy lăm đứng ở cuối đường… Ở hải ngoại, Phạm Duy hát cho Bầy chim bỏ xứ, Phạm Duy dựng lại thi ca Hàn Mặc Tử, làm sống lại Kiều trong âm nhạc.
 
Người ta trách Phạm Duy, khi ông bỏ kháng chiến về thành là phản bội cách mạng. Người ta trách Phạm Duy khi ông bỏ hải ngoại về nước là phản bội miền Nam. Nhưng người ta quên Phạm Duy là Người. Người Tự Do. Phạm Duy không có bổn phận với ai, trừ với chính mình. Phạm Duy không phải là chiến sĩ: Chiến sĩ đấu tranh dưới một ngọn cờ. Phạm Duy không phải là kẻ sĩ: Kẻ sĩ trung quân ái quốc. Phạm Duy không phải là chí sĩ: Chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, muốn dìu dắt dân tộc ra khỏi ách nô lệ, đoạ đầy.
 
Phạm Duy là người Nghệ Sĩ: Nghệ sĩ cần tự do như khí trời để thở, để sáng tác. Nghệ sĩ cần khán thính giả, nếu không có khán thính giả, sẽ không còn nghệ sĩ. Không nên buộc Phạm Duy phải làm giống ta, bởi ta chưa sáng tạo được một tác phẩm nào, một lời ca nào, cho quê hương, đất nước, con người.
 
Đứng trước mộ Phạm Duy, ai đã đo được tầm vóc vĩ đại của người nhạc sĩ số một của đất nước, năm lần ba-lô xuyên Việt, để lại bao nhiêu kiệt tác cho dân tộc cùng với sự vô ơn vĩ đại của lớp quần chúng bạc như dân đã chôn sống ông vì vài ba tiểu tiết, khi ông còn tại thế?
 
Paris tháng 4/2019

4.30.2019

Lê Hữu: Nhạc vàng: Bên thắng cuộc

 
 
Quán nửa khuya đèn mờ theo hơi khói…

Câu hát đầu trong bài “Quán nửa khuya” của Tuấn Khanh & Hoài Linh, sáng tác năm 1961.

Đuốc lồ ô bập bùng bên ánh lửa

Câu hát đầu trong bài “Tiếng chày trên sóc Bom-Bo” của Xuân Hồng, ra đời năm 1966.

Người nghe nhạc tinh ý dễ nhận ra hai câu nhạc giống nhau trong hai bài nhạc cùng hợp âm Mi thứ. Nếu có khác, bài “Quán nửa khuya” ghi thể điệu boléro, bài “Tiếng chày trên sóc Bom-Bo” ghi “Nhịp nhàng, rộn rã”.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh, khi nhắc đến sự giống nhau của hai câu nhạc này, chỉ mỉm cười, lắc lắc đầu. Cái lắc lắc đầu, mỉm cười đầy ý nghĩa của ông cũng cho thấy, “nhạc đỏ” có khuynh hướng theo chân “nhạc vàng boléro” từ nhiều năm trước chứ không phải đợi tới bây giờ.

Nhạc đỏ, buồn ơi chào mi!

Cũng không phải đợi tới bây giờ mà nhiều người yêu nhạc ở miền Bắc đã biết yêu, biết tìm đến “nhạc vàng” miền Nam từ lâu lắm. Lộc “vàng”, chàng trai Hà Nội thời chiến vì trót yêu nhạc vàng, thích hát nhạc vàng mà phải trả giá đến gần 10 năm tù tội. Điều khá chua xót là, ngày ra tù, trong lúc lang thang trên đường phố, tiếng nhạc vọng ra từ những quán xá bên đường mà anh nghe được lại chính là những bản nhạc vàng “đồi trụy”, “phản động” đã đọa đầy anh trong chốn ngục tù, chôn vùi cả một thời tuổi trẻ. Câu chuyện Lộc “vàng” là câu chuyện của người dám sống và chết cho nhạc vàng, nhất định chỉ yêu nhạc vàng chứ không yêu nhạc đỏ.

“Nhạc vàng”, cái “từ” này ở đâu ra và có nghĩa gì? Trước năm 1975, nhạc Việt ở miền Nam không có màu mè xanh, đỏ, tím, vàng chi cả. Danh từ “nhạc vàng” cũng ít được sử dụng. Nhiều lắm chỉ có ban Nhạc Vàng của Đài truyền hình Sài Gòn (nhạc sĩ Phó Quốc Lân phụ trách) hoặc ít băng, dĩa nhạc ghi “băng vàng”, “nhạc vàng”, “nhạc tuyển” mang ý nghĩa những bài nhạc hay, chọn lọc về tình yêu quê hương, lứa đôi…, thường là nhạc điệu êm dịu. Trong khi đó, miền Bắc gọi chung nhạc Việt miền Nam là “nhạc vàng”, được dán nhãn chính trị là nhạc “ru ngủ”, “đồi trụy” và “phản động”.

“Nhạc đỏ” của miền Bắc chính thức xâm nhập miền Nam Việt Nam kể từ 30 tháng Tư năm 1975. Đâu đâu cũng trông thấy cờ xí ngờm ngợp và những biểu ngữ đỏ chói giăng đầy đường phố, đâu đâu cũng nghe thấy vang vang những bài hát “cách mạng” nhịp quân hành rầm rập, trong lúc loa phóng thanh liên tục mở hết cỡ phát đi những khẩu hiệu ròn rã về “chiến công vĩ đại”, “cuộc kháng chiến thần thánh”, “đỉnh cao chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc”…

Ít năm sau đó, nhạc đỏ vẫn liên tục tra tấn đôi tai người dân tội tình từ những chiếc loa phường treo máng trên những cột điện dây nhợ lằng nhằng. Vẫn là điệu nhạc rất “đặc trưng”, nếu không rầm rập như bị ma đuổi thì cũng ồm ồm hay riu ríu, lơ lớ tiếng Việt, thoạt mới nghe tưởng nhạc cách mạng… Tàu, đại để “Cô gái vót chông”, “Cô gái mở đường”, “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn”, “Chào em cô gái Lam Hồng”, “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó”, “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”, “Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn”…

Hát mãi, nghe mãi kiểu nhạc này thì cũng…chán, những tay chơi nhạc trong “phong trào văn nghệ quần chúng” bèn ngồi lại, bàn bạc và lập ra những nhóm đàn hát ở phường, xã, các xí nghiệp… gọi tên là “Nhóm ca khúc chính trị” theo mô hình phổ biến của các nhóm nhạc nhẹ ở Liên Xô và Đông Âu. Các tiết mục, bài bản thường là tự sáng tác, tự trình diễn, gọi là “tự biên, tự diễn”. Có thể kể ra ít “nhóm ca khúc chính trị” quen tên như Mây Trắng, Rạng Đông, Đại Dương, Hải Âu, Phù Sa, Bách Việt, Dây Leo Xanh… và một số ca khúc được quần chúng đón nhận, yêu thích thời ấy như “Những lời em hát” (Từ Huy), “Ơi cuộc sống mến thương”, “Đi qua vùng cỏ non” (Trần Long Ẩn), “Này người yêu nhỏ xinh” (Nguyễn Ngọc Thiện), “Em như tia nắng mặt trời” (Nguyễn Đức Trung)…
Các “nhóm ca khúc chính trị” của thập niên 1980’s ấy là gạch nối dẫn đến sự nở rộ của các “tụ điểm ca nhạc” thu hút lượng người xem ngày càng đông. Có thể kể tên những tụ điểm quen thuộc ở Sài Gòn như sân khấu 126, Lan Anh, Trống Đồng, Đầm Sen, nhà hát Thành Phố, nhà hát Hòa Bình…
Từ các tụ điểm, phòng trà này, nhiều ca khúc dễ nghe và có giai điệu rất gần với “nhạc vàng” của miền Nam lần lượt ra đời, như “Ngõ vắng xôn xao” (Trần Quang Huy), “Nha Trang mùa thu lại về” (Văn Ký), “Hoa sữa” (Hồng Đăng), “Một đời người, một rừng cây” (Trần Long Ẩn), “Em ơi, Hà Nội phố” (Phú Quang), “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” (Trương Quý Hải & Bùi Thanh Tuấn)… Ngay đến cách đặt tựa bài hát cũng mang phong cách “nhạc vàng”, như “Đêm thành phố đầy sao” (Trần Long Ẩn), “Con đường có lá me bay” (Hoàng Hiệp & Diệp Minh Tuyền), “Lời tỏ tình của mùa xuân”, “Này người yêu nhỏ xinh” (Nguyễn Ngọc Thiện), “Thơ tình cuối mùa thu” (Phan Huỳnh Điểu & Xuân Quỳnh), “Ở hai đầu nỗi nhớ” (Phan Huỳnh Điểu & Trần Đình Chính) , “Thành phố, tình yêu và nỗi nhớ (Phạm Minh Tuấn & Nguyễn Nhật Ánh), “Giọt nắng bên thềm” (Thanh Tùng)…, với điệu nhạc lời ca tình tứ, lãng mạn về tình yêu lứa đôi, được kể là “hàng hiếm” thời bấy giờ.

Con đường có lá me bay
Chiều chiều ta lại cầm tay nhau về…

(“Con đường có lá me bay”, Hoàng Hiệp & Diệp Minh Tuyền)

Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau rạn vỡ

Nếu từ giã thuyền rồi
biển chỉ còn sóng vỗ

Nếu phải cách xa em

anh chỉ còn bão tố…

(“Thuyền và biển”, Phan Huỳnh Điểu & Xuân Quỳnh)

Khi thấy buồn em cứ đến chơi
Chim vẫn hót sau vườn đấy thôi
Chỉ có trong tôi, ngày đã sang đêm lâu rồi…

(“Giọt nắng bên thềm”, Thanh Tùng)

Nhiều nhạc sĩ của dòng “nhạc cách mạng” bắt đầu chuyển hướng sáng tác để dọn ra những món ăn tinh thần đáp ứng khẩu vị người yêu nhạc trong thời kỳ “đổi mới”. Một dòng nhạc mới, nếu không hẳn là nhạc vàng thì cũng… vàng vàng, róc rách chảy vào sinh hoạt ca nhạc ở trong nước từ lúc nào.

Nhạc vàng, thời hoàng kim của Boléro

Trên sân khấu các tụ điểm văn nghệ thời ấy cũng có sự góp mặt của các ca sĩ miền Nam, luôn là những giọng hát ăn khách, thu hút lượng khán giả đông đảo, như Duy Khánh hát “Tự nguyện” (Trương Quốc Khánh), Nhật Trường hát “Hương thầm” (Vũ Hoàng & Phan Thị Thanh Nhàn), Anh Khoa hát “Trị An âm vang mùa xuân” (Tôn Thất Lập)… Người ta cũng nghe được qua băng, dĩa nhạc, đài phát thanh, phát hình các giọng hát được yêu chuộng của những ca sĩ còn ở lại trong nước, như Lệ Thu hát “Hà Nội niềm tin và hy vọng” (Phan Nhân), Thanh Lan hát “Đi qua vùng cỏ non” (Trần Long Ẩn), Lan Ngọc hát “Con đường có lá me bay” (Hoàng Hiệp & Diệp Minh Tuyền), Họa Mi hát “Quảng Bình quê ta ơi!” (Hoàng Vân)… Thường thì các ca sĩ này chọn hát những bài có nội dung “vô thưởng vô phạt” và nhạc điệu gần gần với nhạc miền Nam.

Cứ thế, cùng với những lần xét duyệt nhỏ giọt cho phép phổ biến những bài nhạc của miền Nam trước năm 1975, nhạc vàng lần lần đi vào sinh hoạt ca nhạc trong cả nước, lần lần đẩy lùi nhạc đỏ ra khỏi các sân khấu trình diễn. Nhạc đỏ, nếu không biến mất thì cũng mờ nhạt, họa hoằn lắm được các “nghệ sĩ nhân dân ưu tú” biểu diễn để chào mừng các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử của nhà nước cộng sản Việt Nam.

Nhạc vàng, đến một lúc nào đó, không đợi nhà nước cho phép, trình diễn “vô tư” và tràn lan trên các sân khấu ca nhạc ở cả hai miền Nam Bắc.

Những cố gắng để cấm đoán, ngăn chận sự xâm nhập của nhạc vàng miền Nam chỉ là những cố gắng vô ích và tuyệt vọng. Lạ một điều, bài nhạc nào càng bị cấm đoán thì càng được người yêu nhạc tìm đến.

Không ngạc nhiên chút nào khi mới đây, tháng 1/2019, lần đầu tiên kể từ ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, nhà nước cộng sản ra nghị định chính thức “bỏ quy định cấp phép ca khúc trước 1975”. Nghị định này được Cục Nghệ thuật Biểu diễn giải thích như sau:

“Bỏ cấp phép cho ca khúc nghĩa là ca khúc sáng tác ở thời gian, không gian nào cũng bình đẳng như nhau, không có khoanh vùng đặc biệt để cấp phép. Trước hay sau 1975 đều như nhau.”

Lời giải thích có vẻ tử tế và “hợp tình hợp lý” này (tiếc rằng chỉ đến sau 44 năm) chỉ như hợp thức hóa một sự đã rồi.

Những lời “tử tế” ấy không khỏi làm người ta nhớ, Cục Nghệ thuật Biểu diễn này từng loay hoay để đưa ra lời giải thích “hợp tình hợp lý” rằng “người binh sĩ lên đàng” trong bài nhạc xuân “Ly rượu mừng” của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là… người lính chống Pháp, nhằm biện minh việc cấp phép cho ca khúc này sau hơn 40 năm bị “cấm cửa”.

Sự cấp phép cho “Ly rượu mừng”, cho nhiều bài của Phạm Duy và của các nhạc sĩ tên tuổi miền Nam càng cho người trong nước có thêm cơ hội làm quen và thêm yêu mến dòng “nhạc vàng” từng bị nhà nước lên án, cấm đoán trong suốt bao nhiêu năm.

Nghị định mở rộng cửa chào đón âm nhạc miền Nam trước năm 1975, cùng với sự tán thưởng nồng nhiệt của giới yêu nhạc trong nước dành cho các ca sĩ tên tuổi miền Nam từ hải ngoại về nước trình diễn, đánh dấu sự ra đi không hẹn ngày về của dòng “nhạc cách mạng” hay “nhạc đỏ”, cho dù có là… “nhạc đỏ trữ tình”.


 
 
 “Thánh nữ Boléro” Jang Mi
 
Đến đây không thể không nói tới sự lên ngôi của “dòng nhạc trữ tình Boléro”, nổi lên như một hiện tượng lạ, tạo cơn lốc cuồng nhiệt, thống lĩnh mọi sinh hoạt văn hóa văn nghệ trong nước. Những bài hát thể điệu boléro xập xình, tiết tấu chậm rãi, giai điệu luyến láy mùi mẫn, nhịp điệu kể lể, nỉ non tự tình, đi cùng lời ca dễ hiểu, vừa dễ hát dễ nghe lại vừa dễ đệm đàn với nhạc cụ thông dụng là chiếc guitar thùng.

Nhạc boléro, vốn được xem là thể loại nhạc bình dân, đại chúng ở miền Nam, như thế có đến hai đời sống, cách nhau đến gần nửa thế kỷ.

Nhiều bài boléro mà người miền Nam xếp vào dòng nhạc hoài niệm thì nay được người miền Bắc và cả nước “phấn khởi hồ hởi” vực dậy, nâng niu, đắm đuối, gọi là “tuyệt phẩm boléro”, “nhạc vàng boléro”. Nhiều ca sĩ “chuyên trị” boléro được phong tặng những danh hiệu nổi đình nổi đám như “Nữ hoàng boléro” (những Lệ Quyên, Bảo Yến, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan…), “Ông hoàng boléro” (những Chế Linh, Tuấn Vũ, Ngọc Sơn…), “Thánh nữ boléro” (Jang Mi), “Ngọc nữ boléro” (Phương Anh), “Thần tượng boléro” và cả những “Thần đồng boléro”. Nhạc vàng boléro đã hoàn toàn chinh phục giới yêu nhạc trong nước. Những thần tượng boléro đã mê hoặc, hớp hồn bao nhiêu là tín đồ… boléro.

“Đó là một loại âm nhạc có đẳng cấp,” ca sĩ Ánh Tuyết ở trong nước khẳng định khi nói về những “tình khúc boléro”. Cô nói thêm, “Âm nhạc không có chuyện sang, sến mà chỉ có hay hoặc dở.”

“Ông hoàng boléro” Chế Linh tiếp lời, “Nếu âm nhạc là lời nói cất lên từ trái tim thì Boléro chính là tiếng nói tình cảm nhất. Nó chan chứa, không bóng bẩy, đi thẳng vào lòng người nghe.”

Chung cuộc, nhạc vàng của người miền Nam với đỉnh cao là thời hoàng kim của Boléro, đã giải phóng người dân miền Bắc thoát khỏi sự thống trị của nhạc đỏ trong mọi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ để giành quyền tự do suy nghĩ, tự do bày tỏ cảm xúc, bộc lộ tâm tư tình cảm. Điều này thực sự có ý nghĩa, vì đấy chính là quyền tự do tư tưởng, là một trong những quyền tự do căn bản nhất của con người.

Nếu quả “Âm nhạc có thể làm thay đổi thế giới vì nó thay đổi được con người” (Music can change the world because it can change people. – Bono) thì chúng ta có lý do để tin rằng, sự thay đổi về khuynh hướng và quan niệm thẩm mỹ trong âm nhạc, nghệ thuật của người Việt trong nước sẽ tác động không ít đến những đổi thay toàn diện về văn hóa, xã hội, chính trị cho đất nước mình. Sự thắng thế của nhạc vàng miền Nam là “hoàn toàn không thể đảo ngược” và là “xu thế tất yếu của thời đại”, như cách nói quen thuộc của nhà nước cộng sản.

Không còn nghi ngờ gì nữa, trong cuộc đọ sức với nhạc đỏ, nhạc vàng đã là “Bên thắng cuộc”.

Lê Hữu

* Ảnh internet




Nguồn: ©T.Vấn 2019


4.19.2019

Lang Lang Piano Book: Một quyển sách nhạc thật trang nhã!

Bạn,

Tôi tình cờ mua được quyển sách nhạc này, với tựa là "Lang Lang Piano Book". Sách bìa cứng, hiện có bán tại Barnes and Nobles.



 

"Featuring all 29 pieces from the album Lang Lang Piano Book, this is a collection of the most significant pieces from Lang Lang's personal musical journey. It also includes exclusive photographs, comments from Lang Lang on every piece, and an edition of "Für Elise" annotated with Lang Lang's own performance notes. This is a book for all pianists to treasure and revisit again and again.
Cased with sewn binding, marbled endpapers, page-finder ribbon, head and tail bands, removable belly-band."


Sách trình bày thật trang nhã, dòm là thấy muốn đánh, tiếc thay lực bất tòng tâm, võ nghệ chưa đủ!

Thôi thì nghe chính ảnh đánh vậy:

https://www.youtube.com/watch?v=ncALmxMK_Vc&list=OLAK5uy_lzwt6gyc_5a2LJiWHLUobbnM4UOV0DGqI

Hay các videos ảnh chia xẻ cách chơi:

https://www.youtube.com/watch?v=TS7z8JbxCQA&list=PLxL-i_atz9iBDvPy8kEi8TJwA8R-nn5ij&index=1

Video lancer CD, thấy cảnh Notre-Dame trước khi bị cháy :-(, thật buồn.

https://www.youtube.com/watch?v=y5YW9HljgdM

Deluxe CD:



Vài bài nhạc (hình lấy từ amazon):



 
Nếu muốn mua trên amazon thì tuần sau sách mới tới:
 
 
Chúc bạn một ngày vui!

Hoctro

4/19/2019

3.31.2019

National Cherry Blossom Festival - Washington D.C. 2019

Gửi bạn vài hình ảnh chuyến đi thăm DC và "đầu mùa xuân có hoa anh đào" cuối tuần qua 27-30 tháng 3/1019




















 

3.24.2019

Vài tấm hình đầu Xuân

Bạn,

Gửi bạn xem vài tấm hình "Xuân đã tới rồi, reo rắc ngàn hồn hoa xuống đời"! (Đón Xuân - Phạm Đình Chương)



 



, rồi một ảnh 30 năm cũ, bài nhạc "làm quen" với dòng nhạc Đức Huy, cắt từ một tờ báo tuần, năm 1990:

 
 và sau cùng là một quyển sách quý, mới mua được:

 

1.01.2019

Phân tích bài "Không nhìn nhau lần cuối" của nhạc sĩ Lê Uyên Phương

Bạn,

Không nhìn nhau lần cuối có lẽ là một trong những bài nhạc sáng tạo nhất của nhạc sĩ Lê Uyên Phương. Nhạc phẩm này vừa có nhiều đoạn nhạc với cung nhạc đặc sắc, mà câu chữ cũng gập ghềnh. Ngoài ra LUP còn đổi mạch nhạc từ La thứ sang La trưởng một cách thật tân kỳ, ngay giữa một cụm từ (phrase) trong đoạn nhạc thứ hai.



Xem nhạc tờ: https://nguyenthoai.files.wordpress.com/2017/10/khong-nhin-nhau-lan-cuoi-le-uyen-phuong.pdf
Nghe trên Youtube: https://youtu.be/AdHqVIKaHqE?t=19m53s


Bài nhạc mở đầu bằng một cụm từ tám chữ, sau đó giảm liền xuống còn 6 chữ làm thính giả cảm thấy hụt hẫng. Câu nhạc sau đó phát triển thêm một chút nữa với một cụm từ gồm 2 + 6 = 8 chữ. Đây chính là một kinh điển của lối đặt phiên khúc như là một đoạn (period), trong đó nhạc sĩ nêu nhạc đề, rồi thay vì lặp lại nhạc để ấy, ông khai triển thêm lên tới hết nửa đầu phiên khúc.

Thôi đành / giã từ / niềm vui / mong manh
Chung đường / tình đi / loanh quanh
Đến nay / bước chân đã bơ vơ rồi


Vì tới đây nhạc đề đã bị loãng, nó được lặp lại ở nửa sau và làm gọn lại cho tròn đoạn thứ nhất.

Thôi đành / cúi đầu / phận người / long đong
Xa nhau / như nước xa nguồn
Một lần / niềm vui tìm đến / rồi mãi mãi xa

Ở đoạn nhạc thứ hai, sau nhạc đề phụ (motive-form) lấy từ tiết tấu 4 chữ liên tiếp của đoạn một, ta thấy hòa âm chợt biến đổi sang E7 rồi chuyển sang âm giai La trưởng, tạo cho thính giả một cảm giác khác lạ. Riêng câu nhạc “đừng nhìn nhau, mắt hoen lệ nhòa” được khéo léo chẻ ra thành 3 + 4 = 7 chữ và trở thành một nhạc đề phụ, sẵn sàng để được lặp lại và khai triển tiếp. Câu “đừng nhìn nhau”cũng đã tạo thêm khả năng viết câu ba chữ sau này.

Em ơi / em ơi quay đi
Để cho chia lìa / lần này / dài phút xót xa
Đừng nhìn nhau / mắt hoen lệ nhòa  (nhạc đề phụ)
Đừng bùi ngùi khóc / tim se môi chùng
Đừng ôm đớn đau / khi tình đã xa

Thế rồi, nhạc sĩ chủ ý thay đổi vài chi tiết nhỏ, làm câu nhạc mất cân bằng. Ta thấy câu đầu ba chữ “cuộc tình ấy” có dấu tích của nhạc đề phụ, nên được hát lên thật tự nhiên, không gượng ép gì cả.

Cuộc tình ấy / như mây qua trời
Kỷ niệm ngày ấy / chung vui bên đồi
Đừng ôm đớn đau / khi tình đã rồi

Đoạn thứ ba, ý nhạc thật lạ vì không giống như hai đoạn đầu, vậy mà nghe vẫn rất xuôi tai. Đoạn nhạc xây lên những câu nhạc đầy kịch tính, rồi hóa giải bằng hai câu sáu chữ và câu cuối tám chữ.

Đâu có ai biết / mai sau?
Đâu có ai mãi / thương đau?
Đâu có ai phải / muôn kiếp thương nhau?

Bài nhạc được kết bằng cách lập lại đoạn một và hai. Nhìn qua cả bài nhạc, ta thấy các câu hai, ba, bốn, sáu chữ được dùng thật mạch lạc. Cả nhạc phẩm do đó đã hội đủ ba điều kiện cần thiết của một bản nhạc: lô gíc, mạch lạc, và tính lĩnh hội, mà tôi đã kể ra trong tiểu luận “Giải mã lề lối soạn nhạc qua dòng nhạc Trịnh Công Sơn”.

...

***

Bài viết Phân tích bài "Không nhìn nhau lần cuối" trên được trích trong tái bản mới nhất 1/2019 của ebook "ABBA, Paul Mauriat và những mẩu chuyện khác về âm nhạc." Còn nhiều chi tiết khác đặc sắc về lề lối sáng tác nhạc cùng những say mê tìm tòi nghe nhạc thủa ấu thơ của nhạc sĩ Lê Uyên Phương trong bài viết thứ #51 ấy. Mời bạn đến link sau để tải về quyển sách trên.

https://hoctroviet.blogspot.com/p/ban-oc-quy-men-quyen-ebook-ban-sap-xem.html

Thân ái chào bạn đọc và chúc bạn một Năm Mới 2019 an khang, thịnh vượng và nhiều sức khỏe.

Học Trò