Ghi lại những mẩu chuyện, cảm nghĩ về âm nhạc và ngành điện toán/tin học, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI) bằng Claude AI. Posting in both English and Vietnamese my thoughts about popular music and Artificial Intelligence using Anthropic's Claude AI and Claude Code CLI.
3.22.2026
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (PĐC) xuất thân từ một gia đình có thể nói là “royal family” của tân nhạc VN.
Thân phụ của ông là cụ Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cụ sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm.
Phạm Đình Sỹ là một công chức, thỉnh thoảng lên sân khấu để đóng kịch tài tử cho vui nhưng vợ của ông là một nữ kịch sĩ tài hoa chuyên nghiệp: bà Kiều Hạnh. Bà còn nổi tiếng qua một tác phẩm khác của bà: nhóm Tuổi Xanh, từng đào tạo nhiều ca sĩ thiếu nhi thành những ca sĩ chuyên nghiệp cho miền Nam. Con của ông bà là ca sĩ Mai Hương hiện sống tại Mỹ.
Phạm Đình Viêm chính là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long, một ban nhạc khởi sự hoạt động từ thời kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu IV ngoài Bắc. Tháng 6 năm 1951, ban hợp ca Thăng Long đến với “nắng đẹp miền Nam” và kể từ đó họ làm mưa làm gió trên sân khấu văn nghệ miền Nam qua lối trình diễn có một không hai của họ.
Hoài Trung có tài bắt chước tiếng cầm thú. Khi nghe ban hợp ca Thăng Long trình bày những bài hát như “Ngựa Phi Đường Xa”, (Lê Yên), “Sáng Rừng” (Phạm Đình Chương), nếu thỉnh thoảng bạn nghe tiếng ngựa hí, chim kêu thì đó là “tiếng kêu” của Hoài Trung dấy.
Dòng vợ sau của cụ Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, người con gái út là Phạm thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh một thời là vợ của đệ nhất nam minh tinh điện ảnh Lê Quỳnh (cha của ca sĩ Ý Lan, Quỳnh Hương). Còn người con trai giữa chính là nhạc sĩ Phạm Đình Chương.
PĐC còn là ca sĩ Hoài Bắc, linh hồn của ban hợp ca Thăng Long. Những thành viên khác của ban hợp ca như: NS Phạm Duy, Thái Hằng, Thái Thanh, Hoài Trung, Khánh Ngọc (vợ PĐC) có thể vắng mặt hẳn hoặc thay thế nhưng ca sĩ Hoài Bắc thì không thể thay thế được.
PĐC sinh năm 1929 (có tài liệu ghi năm 1930). Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Ngoài tài ca hát, PĐC còn được xem là một nhạc sĩ tài ba đồng thế hệ với Phạm Duy, Hoàng Trọng, Hoàng Thi Thơ, Văn Phụng, Ngọc Bích, Nguyễn Hiền v.v…
Như bao nhiêu chàng trai yêu nước khác, ông theo kháng chiến chống Pháp ngay từ lúc ban đầu. Bốn anh em Phạm Đình Viêm, Phạm thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm thị Băng Thanh đều gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.
PĐC bắt đầu sáng tác trong thời gian theo kháng chiến. Lúc ấy ông chỉ mới 18 tuổi. Những bài ca ra đời trong giai đoạn này là loại nhạc hùng tráng như “Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng”, “Hò Leo Núi”, v.v….
Khi thấy Việt Minh bắt đầu lộ bộ mặt CS, ông “dinh tê” về thành rồi theo anh em vào Nam giữa 1951. Những sáng tác của ông trong giai đoạn này là những bài mang âm hưởng dân ca miền Bắc ca tụng cái đẹp của thôn quê như “Khúc Giao Duyên”, “Thằng Cuội”, “Được Mùa”, “Tiếng Dân Chài” như muốn nói lên tâm trạng hoài cố quận của mình.
Cuối thập niên 50, qua ban hợp ca Thăng Long, giới yêu nhạc miền Nam được biết và yêu thích những sáng tác của ông như ”Xóm Đêm”, “Đợi Chờ”, “Ly Rượu Mừng”, “Đón Xuân”, v.v…
Sau khi cuộc hôn nhân với ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá tâm can như “Đêm Cuối Cùng”, “Thuở Ban Đầu”.
Nhạc tình của ông là những tình khúc tuyệt vời dù không là những bài ca hạnh phúc. Nhiều nhạc sĩ sáng tác để nói về “tình” nhưng PĐC để “tình” nói hộ trong những tình khúc đau thương của mình.
“Đêm nay đêm cuối cùng gần nhau.
Lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.
Nhịp bước bâng khuâng ngoài phố lạnh.
Giọt sầu rơi rớt hồn phiêu linh.
Nắm tay không rời
Cố hé run run môi cười.
Lúc chia tay bên trời tiếc thương.
Em ơi đêm cuối cùng gần nhau.
Hẹn rằng một ngày mai nối mộng ban đầu.
Em ơi đừng khóc sầu chia ly.
Vì lệ tuôn rơi làm héo xuân thì.
Dù đêm sâu như hồn chúng mình
Dù quan san cách trở mong manh.
Hãy tin một niềm
Nỗi nhớ nhung xưa ven tuyền.
Sẽ cho ngày về thắm duyên.
Em ơi đêm cuối cùng gần nhau.
Sợ rằng một ngày mai giấc mộng không thành"
(Đêm Cuối Cùng)
Phải nói là ông có biệt tài phổ thơ thành nhạc. Ngoài bài “Mộng Dưới Hoa” nói trên, ông đã đưa nét nhạc bi thiết vào những bài thơ như “Màu Kỷ Niệm” (thơ Nguyên Sa), “Nửa Hồn Thương Đau” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ), “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (thơ Quang Dũng), “Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội” (thơ Hoàng Anh Tuấn), “Đêm Màu Hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), để trở thành những tình khúc bất tử.
Đây là những bài hát có nhiều chuyển cung rất hay lạ và Thái Thanh đã làm cho khách phòng trà phải nín thở mỗi khi nghe cô hát. Thuở ấy, Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long thường trình diễn tại phòng trà “Đêm Màu Hồng” (tên bài thơ của TTT) ở đường Nguyễn Huệ, Saigon. Ca sĩ Hoài Bắc thỉnh thoảng vẫn đơn ca tại đây.
Ông có giọng trầm và dội, nhừa nhựa như phảng phất men rượu và khói thuốc nên càng thêm gợi cảm. Nếu bạn có dịp nghe ông hát trong một quán rượu về khuya, tay cầm ly rượu và điếu thuốc nghi ngút khói, hát một mình bằng một giọng hát ngỡ như khét lẹt vì khói thuốc nhưng lại được dập tắt bởi rượu và ngoài kia tiếng súng xa vọng về, lúc đó bạn mới cảm được cái hay độc đáo của giọng hát Hoài Bắc.
Tuy thế, khán giả vẫn thích nghe ông hát chung với ban hợp ca Thăng Long hay song ca với Hoài Trung hơn, nhất là bài ”Hàm Xôi Phá Xa” dí dỏm:
“Ối lạc rang
Mới mua nóng giòn
...
...
...
Lạc rang... lạc rang
Ai mua lạc rang
Nóng ngon thêm giòn"
Có lẽ đóng góp lớn nhất của ông cho nền tân nhạc Việt Nam là trường ca “Hội Trùng Dương” sáng tác trong thập niên 60 gồm ba ca khúc “Tiếng Sông Hồng”, “Tiếng Sông Hương” và “Tiếng Sông Cửu Long”.
Ta có thể kể hàng trăm bài hát ngợi ca tình yêu quê hương, thương mến đất nước trong gia tài nhạc Việt nhưng không gì hùng vĩ, hoành tráng và ý nghĩa bằng trường ca “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương, “Con Đường Cái Quan” của Phạm Duy và “Hội Trùng Dương” của Phạm Đình Chương.
Ông mất năm 1993 tại California, Mỹ. Sự ra đi của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một mất mát lớn cho nền âm nhạc Việt Nam.
...
Con tằm đã nhả tơ cho đến sợi tơ cuối cùng. Và... những sợi tơ ấy giờ vẫn còn sáng ngời lắm, rực rỡ lắm, lấp lánh lắm.
Thắp nén hương lòng này kính dâng hương hồn nhạc sĩ
Nguồn: Dactrung
Phạm Ðình Chương - Quê Hương Một Niềm
Nếu còn ở với chúng ta, Tháng Mười Một này, Phạm Ðình Chương đã 76 tuổi.
Ông mất vào một ngày Tháng Tám, năm 1991. Gia đình và bè bạn ghi nhớ rằng ông thọ có 62 tuổi, nhưng văn học nghệ thuật có lẽ phải nhìn ra một tuổi thọ khác của Phạm Ðình Chương, qua mấy trăm ca khúc về tuổi thanh xuân, tình yêu và quê hương.
Hãy nói về tiếng hát, vì ngày nay nhiều người đã có thể quên hoặc không biết.
Hoài Bắc là một trong những giọng nam điêu luyện và xuất sắc của nhạc Việt trong hạ bán thế kỷ XX, từ những năm 1950 đến 1975 và sau đó nữa. Tiếng hát Hoài Bắc đậm đặc chất giang hồ, của men rượu hòa trong khói thuốc. Nhưng có lẽ Phạm Ðình Chương đã hy sinh tiếng hát ấy cho sự lẫy lừng của ban Thăng Long, mà ông là linh hồn, là con chim đầu đàn và tay hòa âm tuyệt vời.
Phòng trà Sài Gòn trước 1975 đã chẳng có nét văn nghệ rất phong lưu nếu không có tiếng hát và cây đàn Hoài Bắc cùng ly rượu và tiếng nhạc Phạm Ðình Chương. Sài Gòn ngày nay thì chưa biết đã vội quên, thật đáng tiếc cho thính giả.
Phạm Ðình Chương lên đường hội ngộ với tân nhạc và kháng chiến từ rất trẻ, giữa thập niên 1940, với các ca khúc đã hòa vào dòng nhạc hào hùng thời đó, như “Ra Ði Khi Trời Vừa Sáng”, “Bài Ca Tuổi Trẻ”, “Hò Leo Núi”, “Tiếng Dân Chài” hay “Trăng Rừng”. Nếu có một đặc điểm thì từ thời đó, khi chưa đến tuổi đôi mươi, Phạm Ðình Chương đã viết về tuổi trẻ cho tuổi trẻ mà không bước qua khung cửa uy nghiêm của lịch sử. Nhờ đấy, nhạc tuổi xanh của ông cứ mơn mởn hạnh phúc và lấp lánh niềm tin trước mặt.
Vào Nam rất sớm, từ 1951, ông mở ra một trang mới cho dòng nhạc hoài hương với “Xuân Tha Hương”, bài ca dùng trong một cuốn phim Hoa Kỳ thực hiện ở Sài Gòn giữa thập niên 1950. Tuyệt vời nhất trong dòng nhạc quê hương, Phạm Ðình Chương có trường ca “Hội Trùng Dương”, dạt dào niềm hội ngộ của ba dòng sông từ ba miền đất nước. Mà nói về Mùa Xuân và dân tộc, còn gì đẹp hơn khúc hoan ca “Ly Rượu Mừng”, ca khúc không thể thiếu trong dịp Tết?
Quê ngoại Phạm Ðình Chương là Sơn Tây, và hai bài thơ bi hùng của Quang Dũng là “Ðôi Bờ” và “Ðôi Mắt Người Sơn Tây” được ông đưa lên đỉnh cao của thi ca, khi phổ vào nhạc thành ca khúc “Ðôi Mắt Người Sơn Tây”, có lẽ là ca khúc quen thuộc nhất của ông ở miền Nam trước đây. Người trình bày tác phẩm này với nét trượng phu bi hùng nhất lại chính là Hoài Bắc, những khi ấy, đôi mắt ông còn long lanh hơn ly rượu trong tay!
Nhớ lại Phạm Ðình Chương và những chuyến lưu diễn cùng ông ở nhiều nơi sau 1975, Quỳnh Giao nghĩ rằng từ đầu và mãi mãi về sau, Phạm Ðình Chương không đi theo đám đông mà tự tạo một thế giới âm thanh riêng, ông không viết cho thị hiếu quần chúng hay trào lưu của xã hội. Ông mở ra trào lưu riêng. Phạm Ðình Chương chỉ biết buồn và viết nhạc buồn khi viết về tình yêu.
Ngoài Quang Dũng với các thính giả miền Nam, nhiều thi sĩ thực ra có món nợ với Phạm Ðình Chương khi ông phả thơ của họ vào cõi nhạc để đọng mãi trong hồn người. Nhiều người yêu nhạc đã tìm đến thơ cũng nhờ thanh âm Phạm Ðình Chương. Ông nắm lấy cái hồn của bài thơ và vẽ ra một không gian khác, một tâm tư khác, bằng nhạc. Phải chăng vì những bằng hữu chí thiết nhất của ông là những nhà thơ, nhà văn, những người cầm bút?
Nhưng, bản tình ca tuyệt diệu nhất của Phạm Ðình Chương “Nửa Hồn Thương Ðau” ông đã viết lấy, cả từ và nhạc, trong một phút xuất thần Ông nhận lời Hoàng Vĩnh Lộc (cũng là người viết lời ca rất hay dưới tên Dạ Chung nhất là cho nhạc Lâm Tuyền) sẽ soạn một ca khúc riêng cho phim “Chân Trời Tím”. Nhưng bạn bè làm ông quên bẵng, cho tới khi men rượu lay ông tỉnh vào đêm cuối cùng trước kỳ hạn với bạn!
Ðấy là phút giây kỳ diệu của sáng tác.
Sau khi ra khỏi Việt Nam, Phạm Ðình Chương tiếp tục ôm đàn và viết nhạc. U uẩn hơn, ray rứt hơn. Nếu bài “Xuân Tha Hương” được viết tại Sài Gòn mà làm ta nhớ Hà Nội thì gần 40 năm sau, tại hải ngoại, Phạm Ðình Chương lại viết một khúc bi ca nữa về quê hương. Lần này, bài ca làm ta nhớ Sài Gòn. Phổ thơ Du Tử Lê, bài “Ðêm, Nhớ Trăng Sài Gòn” có thể là một nhắc nhở nồng nàn nhất về Phạm Ðình Chương, trong những năm cuối đời.
Nhân ngày giỗ của ông trong Tháng Tám này, hãy bùi ngùi tìm lại ca khúc Phạm Ðình Chương. Ðể nhớ ông, và quê hương.
Nguồn: Dactrung
Phạm Đình Chương, Một Nỗi Nhớ Khôn Nguôi
Khoác một danh hiệu khi làm văn nghệ cũng như kết thân với một định mệnh. Định mệnh này có thể xoáy người nghệ sĩ trong một cơn lốc dữ cũng như đẩy trôi hắn bềnh bồng trên triền sóng yên bình tùy theo cường độ từ tiếp xúc phản kháng, phủ phục biến cố ngoại cảnh và nội tâm. Trong trường hợp Phạm đình Chương hình như một nỗi nhớ khôn nguôi đã đeo đuổi ông triền miên từ khi ông chọn Hoài Bắc như một danh hiệu văn nghệ.
Vào quãng năm 1951 gia đình Phạm Đình Chương di cư vào Nam và cũng tại đây ban hợp ca Thăng Long được thành lập để nhớ lại Hà Nội, chốn ngàn năm văn vật (1). Ngoài ra theo Tạ Tỵ, Thăng Long cũng là tên quán phở của gia đình Phạm Đình Chương lập nên ở chợ Đại cách Hà Nội khoảng 3,4 chục cây số trong thời gian toàn dân kháng chiến.
Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Hà Nội. Bắt đầu học nhạc từ năm 13 tuổi, sáng tác đầu tay viết năm 18 tuổi (năm 1947)(2). Cho đến năm 1971 ông đã viết được trên một trăm ca khúc gồm đủ mọi thể loại trường ca, dân ca, ca khúc đồng vọng (3) tình yêu đôi lứa, tình đầu tiên mang kỹ thuật soạn bè linh động của nhạc Tây phương áp dụng cho nhạc Việt trong thời gian điều khiển về trình diễn với ban hợp ca Thăng Long, sau hai mươi năm lưu diễn khắp ba miền đất nước vào quãng năm 1969(?) Hoài Bắc và ban hợp ca Thăng Long đã dừng chân tại phòng trà Đêm Mầu Hồng (Sài Gòn) để kiểm điểm lại những ca khúc của gia đình họ Phạm viết trong thời gian qua. Ngoài Phạm Duy, trong lịch sử tân nhạc Việt rất ít nhạc sĩ có nguồn cảm xúc đa dạng và phong phú như Phạm Đình Chương.
Thường ra nhạc sĩ nào chuyên làm nhạc buồn rất khó viết nhạc vui và ngược lại những nhạc sĩ chuyên viết hành khúc tươi vui rất khó viết nhạc buồn. Điểm qua những bản nhạc của Phạm Đình Chương, thính giả có thể tìm thấy những nguồn cảm xúc khác nhau từ những bản nhạc rất vui, khỏe như Hò Leo Núi, Sáng Rừng đến những bản thật buồn ảo não như Người Đi Qua Đời Tôi, Nửa Hồn Thương Đau... Để có một cái nhìn khái quát về nhạc Phạm Đình Chương; những nét đặc trưng từng thể loại cần được nêu ra, tuy nhiên không tựa trên niên biểu nhưng tựa trên trường hợp cảm tác.
Mặc dù có liên hệ gia đình và sinh hoạt âm nhạc chung với Phạm Duy trong một quãng thời gian khá lâu (4), Phạm Đình Chương vẫn không bị thu hút bởi "từ lực Phạm Duy". Nhạc của Phạm Đình Chương vẫn mang một cá tính rất mạnh. Đó là một điều khá đặc biệt. Ít ai phủ nhận, Phạm Duy được coi như "cây cổ thụ" về ca khúc của tân nhạc Việt. Tuy viết sau Văn Cao và các nhạc sĩ tiền chiến khác nhưng Phạm Duy viết rất khỏe và viết rất nhiều, đủ mọi khuynh hướng, thể loại, từ những ca khúc mang âm hưởng dân ca sang đến những ca khúc phổ thông Tây phương, từ nhạc cộng đồng đến nhạc đôi lứa, từ nhạc cách mạng đến nhạc tình ủy mị. Chính vì thế trong bao nhiêu năm Phạm Duy đã "khống chế" tân nhạc Việt trên số lượng nhạc phẩm và nguồn cảm tác phong phú. Tuy với số lượng nhạc phẩm phổ biến ít hơn Phạm Duy, nhưng nguồn cảm tác Phạm Đình Chương không kém. Phân loại hơn một trăm ca khúc của Phạm Đình Chương đòi hỏi một chương trình nghiên cứu rất công phu, việc làm này tất nhiên không thích hợp với khuôn khổ bài báo định kỳ. Vì vậy ở đây chúng tôi chỉ nêu lên những nét đặc trưng đã tạo nên sự nghiệp âm nhạc của Phạm Đình Chương. Đại loại những ca khúc, trường ca của Phạm Đình Chương mang những đặc tính sau: Âm hưởng dân ca Việt Nam, xử dụng tài tình ngữ thuật, thổ ngơi, vận dụng khéo léo sức truyền cảm phong phú, điều hợp tài tình sự rung động giữa thơ và nhạc, du nhập những nét đẹp tân kỳ của nhạc Tây phương vào những khúc tình ca thành thị. Hầu hết những đặc tính nêu trên trong ca khúc Phạm Đình Chương, ít nhiều dù tạo thành cảm xúc vui hay buồn đều vẽ lại những nét đẹp... quê hương ngày thanh bình thuở trước, sự nuối tiếc những kỷ niệm, mối tình lở dở, tất cả đều mang một nỗi nhớ khôn nguôi.
Những nét đặc trưng dân ca trong ca khúc Phạm Đình Chương
Phạm Đình Chương đã dùng hai câu đầu của điệu cò lả, dân ca Bắc Ninh để mở đầu cho ca khúc Được Mùa:
"Con cò cò bay lả lả bay la
Bay qua (qua) cửa phủ bay về (về) Đồng Đăng
Tình tính tang (tang) tính tình
Cô mình rằng cô mình ơi
Rằng có nhớ (nhớ) ta chăng".
Chữ "chăng" của điệu Cò Lả vừa dứt ở chữ âm(tonique)
Phạm Đình Chương đã khéo léo kéo sang chữ "cánh đồng" của bản Được Mùa khiến cho người hát dù yếu kém nhạc pháp vẫn có thể bắt ngay vào bản nhạc không khó khăn.
Tuy nhiên bản Được Mùa hoàn toàn không khai triển giai điệu cò lả trong suốt bản nhạc, nhưng kiến trúc âm thanh được xây cao dần trong ba câu đầu để tạo thành hình ảnh những bó lúa được dơ cao, hạ thấp khi đập lúa.
Giai điệu của bài Được Mùa không hẳn ảnh hưởng hoàn toàn dân ca, vì chủ âm được nhận ra rõ rệt. Tuy nhiên những dấu láy dùng trong bản nhạc mang ảnh hưởng rất Việt Nam (cánh à a ánh đồng...vui vui lên lua á a à ơi..)
Cũng như Phạm Duy và các nhạc sĩ khác như Hoàng Thi Thơ, Anh Việt Thu, Phạm Thế Mỹ, Lam Phương, Y Vân, Phạm Đình Chương thường phát triển một giai điệu dân ca có sẵn để làm phong phú thêm ca khúc của mình, Hay tự tạo cho ca khúc của mình một âm hưởng dân cạ Cả hai tiến trình sáng tác đều có giá trị ngang nhau là làm giàu thêm cho nền tân nhạc Việt về phương diện xây dựng âm điệu. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ khi sáng tác ca khúc Gạo Trắng Trăng Thanh cảm đề từ Hò Giã Gạo miền Trung (5), tuy không lấy hẳn giai điệu của bài hò đó. Cũng như Anh Việt Thu khi viết Tám Điệp Khúc có cho thêm phần Hò ru con miền Nam vào ca khúc của mình. Trở lại trương hợp Phạm Đình Chương khi ông viết Hò Leo Núi, về kết cấu âm điệu và tiến trình chuyển cung ảnh hưởng Tây phương hoàn toàn. Đặc biệt trong ca khúc này ông dùng rất ít dấu láy và những nét trang điểm cần thiết cho dân ca. Nhưng trái lại về hình thức ông dùng rất đúng lề lối của điệu hò. Về lối hò để phụ giúp tinh thần cho những động tác như leo núi, kéo gỗ...thường chia ra làm hai lớp: Lớp Trống là đoạn hò của người Hò Cái. Lớp Mái là đoạn hò của người Hò Con (6). Trong Hò Leo Núi của Phạm Đình Chương cũng chia ra hai đoạn như sau:
Hò Cái ------------------- Hò Con
...Vượt đồi vượt nương ---------- Dô !
Đi qua rừng hoang -------- ---- Dô !
Băng suối băng ngàn ------------ Dô !
Chim muông trong hang --------- Dô !
......
Nếu có một cái nhìn nghiêm khắc bảo thủ chúng ta có thể ví bài Hò Leo Núi của Phạm Đình Chương như một "ông Tây mặc áo the". Tuy nhiên, nếu chấp nhận sự giao lưu văn hóa một cách cởi mở hơn, Ca khúc nói trên có thể được xem như một pha trộn, hài hòa giữa hình thức và nội dung Đông Tây.
Hội Trùng Dương hầu như là trường ca duy nhất Phạm Đình Chương giới thiệu với quần chúng trong suốt hơn ba mươi năm âm nhạc của ông. Trái hẳn với Hò Leo Núi nói trên, trường ca Hội Trùng Dương xử dụng hình thức khuôn khổ Tây Phương để chuyên chở một nội dung dân ca Việt Nam.
Về bố cục trường ca Hội trùng Dương gồm một đoạn mở đầu và ba phiên khúc. Mỗi phiên khúc là tiếng nói của một dòng sông tiêu biểu cho mỗi miền. Miền Bắc có sông Hồng Hà đại diện, vào đến miền Trung có Sông Hương lên tiếng, xuôi miền Nam có Sông Cửu Long góp mặt. Tiếng nói của ba dòng sông đều được biểu tượng hóa bằng nỗi lòng của ba thiếu nữ. Tâm sự của mỗi dòng sông cũng là tâm sự của người dân địa phương về dân sinh, về nỗi khó khăn trong sự khuất phục với thiên nhiên, về sự can trường tranh đấu với nạn ngoại xâm.
Để tạo sự chú ý của người nghe, Phạm Đình Chương mở đầu với dòng nhạc chậm rãi, vững chãi rất hợp với sự dẫn đạo của tiếng kèn trumpet, tực như tiếng báo hiệu sự xuất hiện của bậc quân vương thời trung cổ:
Trùng dương
Chốn đây ngàn phương
Có ba dòng sông
Cuốn xuôi biển đông
Nhắc câu chờ mong....
.....
Về nhạc thuật, trong cả ba phiên khúc Phạm Đình Chương đã dung hợp ý nhạc có âm hưởng dân ca, với nhịp điệu Tây phương.
Những điệu hò dùng ở đây đều do sự sáng tạo tinh anh của Phạm Đình Chương, vì ông không dùng âm điệu dân ca nghuyên thủy. Trái lại ở phần đầu của Tiếng Sông Hồng (Chiều nay nước xuôi...người áo nâu giãi dầu) ông đã dùng điệu Hò Dô Ta sáng tạo. Sở dĩ chúng tôi dùng chữ "sáng tạo" ở đây là vì đã có sự tranh luận về từ ngữ này. Đứng về phía Trần Văn Khê và Nguyễn Hữu Ba, theo quan niệm định nghĩa dân ca một cách cổ điển, Willi Apel và Ralph Daniel đều cho rằng: "Dân ca là bài hát cổ, không biết tác giả là ai, được truyền miệng trong giới bình dân qua nhiều thế hệ và trở thành phổ thông khắp nước hay trong một cộng đồng nhỏ hơn". Đứng về phía Phạm Duy, ông mệnh danh những bài hát của ông có âm hưởng dân ca là "dân ca mới" (7) Ngoài ra Lê Thương cũng tạo một tên mới cho tập "Dao Ca Tạp Khúc" của ông là "dân ca cải biến". Như vậy rõ ràng điệu Hò Dô Ta của Phạm Đình Chương thoát ly dân ca nguyên thủy từ nhạc điệu đến nhạc thức. Vì lớp trống ( Hò Cái) nét nhạc hoàn toàn Tây phương và lớp mái ( Hò Con) biến đổi thành một phần đối âm (counterpart) của lớp Trống và cả hai bị chi phối bởi luật hòa âm (harmony) Tây phương.
Phần hai của đoạn Tiếng Sông Hồng dồn nhanh (acceleration), (chậm hơn Foxtrot và nhanh hơn March) và cứ như thế hai lớp Trống Mái không còn ở tư thế đối đáp nữa, cuối cùng lớp mái đã nhập vào lớp Trống để biến thành một hành khúc.
Sang đến phiên khúc hai Tiếng Sông Hương, trừ đoạn cuối (Bao giờ máu xương....Tiếng cười đoàn viên), có lẽ vì muốn duy trì nét cổ kính của miền cố đô nên Phạm Đình Chương đã khéo léo trở về với nét nhạc ảnh hưởng rất nặng dân ca nguyên thủy. Ở đây, ông đã phỏng theo điệu hò Mái Đẩy (8) miền Trung, nhịp điệu chậm rãi, rất hợp với sự than van kể lể (Hò ơi phiên Đông Ba.... để lan biển khơi). Đoạn hai của phiên khúc hai nhái lại đoạn hai của phiên khúc một. Tuy nhiên khó phủ nhận được nghệ thuật dụng âm ngữ tài tình của Phạm Đình Chương ở phiên khúc hai. Những chữ Ánh (Đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than), Bến (Bến Vân Lâu thuyền có đơm sâu), Lắm (Quê hương em nghèo lắm ai ơi !), Mỗi (Trời rằng trời hành cơn lụt mỗi năm), Vắng (Ai là qua là thôn vắng), Nắng (nghe sầu như mà mưa nắng), tuy là những thanh trắc nhưng đã bị kéo oằn xuống ở một vị trí thấp hơn thành bằng của chữ đi kế trước hoặc tiếp sau (khua, trăng, vân, ai, năm, thôn).
Chính vì vậy điệu hò mới nỗi bật địa phương tính qua lối phát âm thổ ngơi miền Trung. Nét đặc trưng này khiến người hát không cần phải là người miền Trung, nếu xướng âm (déchiffrer) đúng cao độ của câu hát cũng có thể tạo thành âm hưởng của tiếng nói miền này.
Hiện tượng nói trên xãy ra là vì tiếng Việt với năm dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng khi mỗi tiếng phát âm ra tự nó đã được xếp ở năm cao độ khác nhau. Chẳng thế, một nhà văn ngoại quốc đã nhận định: "Ngôn ngữ Việt Nam là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc.... Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, hay Trung, hay Nam hát những dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần túy của họ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà chừng nào..."(8). Nếu phân tích cấu trúc âm thanh của các dấu trong tiếng Việt, thanh nặng được xắp ở vị trí như sau:
(Huyền ) (Nặng) (Không dấu)
Thanh ngã không có cao độ nhất định, khi thì tựa từ Thanh Huyền để uốn lên Thanh ngang ( không dấu) (giọng miền Bắc) có khi nhập hẳn vào Thanh sắc (giọng miền Nam) Thanh Hỏi uốn khúc từ trầm lên bổng (Huyền-Sắc), cho nên vị trí nó phải cao hơn Thanh Ngang (không dấu) và thấp hơn Thanh Sắc (9).
(Huyền) Âm vực chính của Thanh Hỏi (Sắc)
Đoạn hai của phiên khúc Tiếng Sông Hương dồn nhanh hơn đoạn đâu và về ý nhạc nhắc lại đoạn hai của phiên khúc một Tiếng Sông Hồng. (Ai là qua là thôn vắng....Tiếng cười đoàn viên )
Vào đến miền Nam, miền đất phù sa màu mỡ, sức đối kháng với thiên nhiên không còn mãnh liệt như miền Trung.
Vì thế, Phạm Đình Chương đã dùng những nét nhạc thật khỏe khoắn, cởi mở, sung túc để nói lên đặc tính địa lý nhân văn của miền nàỵ Trong cả phiên khúc ba Sông Cửu Long, ông chỉ xen lẩn hai câu hò theo điệu ru con miền Nam:
Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ai sông Mỹ có ngày gặp em
Điệu ru này thuộc ngũ cung hơi Nam giọng oán tựa như điệu ru con ở Quảng Nam miền Trung (10).
Do Mi Fa Sol La
Tương tự như Phạm Đình Chương trong trường ca "Con Đường Cái Quan" Phạm Duy cũng biến cải điệu Hò Ru Con miền Nam thành bốn câu đầu của đoản khúc số 18 để đưa người lữ khách thăm viếng miền Nam nước Việt.
Như thế, điệu Hò Ru Con miền Nam đã đóng vai trò rất quan trọng trong dân ca miền Nam. Phạm Đình Chương đã nhận chân được điều ấy, khiến ông thành công trong tiến trình nêu lên địa phương tính đặc trưng cho miền Nam. Chỉ với hai câu Hò Ru đó thôi cũng đã làm nổi bật ý nhạc dân tộc giữa những cung điện Tây phương khỏe khoắn tươi sáng (Nước sông dâng cao....nắng khô đồng lầy). Đoạn cuối của phiên khúc ba Sông Cửu Long một lần nữa lại nhắc lại tứ nhạc của đoạn cuối của phiên khúc một Tiếng Sông Hồng và phiên khúc hai Tiếng Sông Hương.
Nét đặc trưng dân ca mới chỉ là một trong những cá tính âm nhạc Phạm Đình Chương. Với cảm nhận bén nhậy ông là một trong những nhạc sĩ hàng đầu của miền Nam Việt Nam đã mang những nét tân kỳ của nhạc phổ thông Tây phương vào hồn thơ Quang Dũng, Đinh Hùng, Thanh Tân Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Ngọc Ẩn... Thi ca tự nó đã có nhạc tính khi ngâm hay đọc lên. Tuy nhiên sự kỳ diệu của âm nhạc như đôi cánh vạm vỡ nâng hồn thơ lên cao hơn và bay xa hơn. Đó là nét đặc trưng thứ hai trong nhạc Phạm Đình Chương, nói đúng hơn trong " Nỗi Nhớ Khôn Nguôi" của Phạm Đình Chương, chúng tôi sẽ nêu lên trong dịp khác với tiêu đề: " Phạm Đình Chương bàn tay dịu vợi kết nối Thi Ca với Âm Nhạc".
(1) Tạ Tỵ : Phạm Duy còn đó nỗi buồn, Văn Sử học...Sài Gòn 1971 tr. 105
(2) Phạm Đình Chương: Mười bài ca ngợi tình yêu, Đêm Mầu Hồng xuất bản. Sài Gòn 1970
(3) Lê Thương - Thời tiền chiến trong tân nhạc (1938-1946)
NHạc Tiền Chiến. Kẻ Sĩ xuất bản. Sài Gòn 1970 trang 66.
Đồng Vọng cũng là tên gọi của nhóm sáng tác nhạc hướng đạo do Hoàng Quý đề xướng. Nhóm này để đáp ứng sự đòi hỏi của thanh thiếu nien ưa cuộc sống ngoài trời đã gom góp sáu bảy chục bài hát tươi sáng, nhẹ nhõm thích hợp cho sự sinh hoạt cộng đồng. Tiêu biểu cho loại nhạc này là ca khúc "Tiếng chim gọi đàn" (Hoàng Quý), Gọi bạn lên đường (Hoàng Quý)
(4) Phạm Đình Chươnglà em ca sĩ Thái Hằng ( hiền thê của nhạc sĩ Phạm Duy )
(5) Văn Giảng "The Vietnamese Traditional Music in Brief".
Ministry of State in Charge of Cultural Affairs, Saigon 1970
(6) Miền Trung gọi Hò Cái là Vế Kể và Hò Con là Vế Xô
(7) Xin đọc Nhân Văn số 3, tháng 10 năm 1982 " Bàn về dân
ca Việt Nam" Phạm Văn Kỳ Thanh
(8) Sở dĩ gọi là điệu hò Mái Đẩy là vì cứ đến lượt điệu mái hò là thuyền được đẩy đi.
(8) Doãn Quốc Sĩ - Người Việt Đáng Yêu. Sáng Tạo Sài Gòn 1965 trang 143
(9) Minh Lương - Tìm hiểu Âm Giai Ngũ Cung. Tư liệu thuyết giảng cho Ban Quốc Nhạc (Âm nhạc viện Sài Gòn) chưa xuất bản Sài Gòn 1968.
(10) Phạm Duy - Đặc khảo về Dân Nhạc ở Việt Nam. Hiện Đại Sài Gòn 1972 trang 55.
Phạm Văn Kỳ Thanh
Tạp chí Nhân Văn số 29 tháng 9 năm 1984
Nguồn: Dactrung
2.20.2026
Finding the Common Denominator Through Four Songs by Composer Phạm Đình Chương
Author: Học Trò
Translator: Claude Code (Anthropic AI)
In an article collected from the internet, this writer came across observations by composer Cung Tiến about the musical techniques of composer Phạm Đình Chương (PDC), with a passage as follows:
"As for the material and technique of Chương's melodic composition, one can say that his world has escaped the obsession with the 'pentatonic scale,' and is instead the brilliant world of the Western seven-note scale without hesitation, of Western major/minor modes without awkwardness, with tertian chords as the building blocks, with tonality playing the director's role, and with secondary scale degrees playing the role of changing scenery ('modulation'). His manner of modulation, therefore, is also quite gentle and 'classical': the basic formula of tonal music, simple and pure..." (Excerpt from 'The Dream Butterfly' – written by composer Cung Tiến.) Source: website http://cothommagazine.com
Indeed, when examining songs like "Người đi qua đời tôi" (The One Who Passed Through My Life), "Nửa hồn thương đau" (Half a Soul in Pain), etc., we see that composer PDC uses many thirds, fourths, and larger intervals in his music. For example, "người đi qua đời tôi" is C G G E G (1 5 5 3 5), a spread variation of the C minor chord, or "nhắm mắt, cho tôi tìm một thoáng hương xưa" (B B, G E B E B A A) is a spread of the E minor chord (Em) before transitioning to the A note of A minor (Am). The difference is that composer PDC—as composer Cung Tiến explained—spreads them in a "brilliant," "unhesitating" manner, going straight from B down to B an octave lower then back to B, within the same phrase. Truly, his music has escaped the constraints of the five-note pentatonic scale, of the rule against exceeding a fifth within a single phrase.
But composer Trịnh Công Sơn also wrote in the Western seven-note tonal style, so why do we hear two distinctly different musical styles? "B C B B G E G B" of "Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ" (Rain still falls upon the ancient tower) from Diễm Xưa also leaps across the heptatonic scale, doesn't it? So why do I no longer enjoy playing or humming along to Trịnh Công Sơn's love songs, while the compositions of PDC like "Người đi qua đời tôi" (NDQĐT), "Nửa hồn thương đau" (NHTĐ), "Đêm, nhớ trăng Sài Gòn" (Night, Remembering Saigon's Moon) (ĐNTSG), "Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội" (Saigon Rain, Hanoi Rain) (MSGMHN), keep playing in my head like an old cassette tape, spinning again and again without stopping??? (Please listen to the music at the links at the end of this essay.)
After much searching, I finally found a few explanations, which I would like to share with readers.
The Motive
Composer Phạm Đình Chương has a very simple way of writing music, but it is a crystallization, a refinement—nothing superfluous, nothing lacking. His music has motives with the necessary variations to make the song rich and diverse, thus not boring the listener too quickly.
In the four songs I just mentioned, each one clearly has a motive, with subsequent phrases repeating or developing that motive; and if the notes of the second phrase differ slightly from the first, at least the rhythm remains the same. This repetition is truly important in music, especially in vocal music like Vietnamese music. Because music is an art experienced over time, if there is no repetition, our minds would have no way to 'make sense' of what the composer is trying to say. In contrast, in painting we have time to appreciate the artwork, so perhaps repetition is not as crucial?
The clearest example of motives in PDC's music is the composition "Người đi qua đời tôi" (The One Who Passed Through My Life) (poem by Trần Dạ Từ):
The one who passed through my life,
in those melancholy winter afternoons,
Rain rises to so many shoulders,
Wind rises to so many skies
We see the motive "Người đi qua đời tôi" (The one who passed through my life) has a sine wave / tilde shape, and the following three phrases also have sine or cosine (inverted) shapes, with rhythm following the original motive.
When discussing the importance of motives in these four famous songs, especially since they are songs set to poetry or poetic ideas, we clearly see that no matter how beautiful each individual phrase might be (when examined separately), I humbly believe that if they did not all develop from a single motive, they could not be remarkable when standing together.
Song Structure
In these four songs, each has at least three distinctly different musical sections. This shows us that the composer intentionally made the song rich, not monotonous like the ABAB form (verse, chorus, verse, chorus). All lyrics are by PDC, except for the final section which is based on the poetry of Thanh Tâm Tuyền:
(a) Close my eyes, let me find a fleeting fragrance of the pastLet me return to the poetic old roadLet me meet the one I dreamed of long ago
(b) Or is it just a dreamI hear love dying within meLeaving my heart with regret and sorrow for a lifetime
(a') Close my eyes, oh why does half my soul suddenly acheOh why must we be forever apartOr shall we promise to meet in another life
(c) Where are you? Where are you?Perhaps only the sorrowful rain darkens deep eyes
(d) Close my eyes, I see only a purple horizonI see only a heart overflowing with longingAnd singing and tears
(e) Sometimes I want to believeSometimes I want to believeOh those people, oh those peopleWeeping alone by themselves
We see the song has five sections a b c d e that are distinctly different from each other (only a and a' are similar, differing only in the last two notes), yet why do they remain so connected to each other???
Motive Development (1)
The composer has a very interesting way of developing the motive. In the four songs I selected for analysis, each has its own method of development. For example, in "Nửa hồn thương đau" (Half a Soul in Pain), we see "nhắm mắt" (close my eyes) as the opening, followed by "cho tôi tìm một thoáng hương xưa" (let me find a fleeting fragrance of the past). We notice the last two syllables are a repetition of "nhắm mắt" but with two lower notes (B B => A A), then comes another downward translation: "cho tôi về đường cũ nên thơ" (let me return to the poetic old road), going even lower (A A => G G), and finally "cho tôi gặp người xưa ước mơ" (let me meet the one I dreamed of) (G G => G F). We clearly see the musical section has a very logical, tight development with a sense of inevitability.
In another composition, 'Đêm, nhớ trăng Sài Gòn' (Night, Remembering Saigon's Moon), set to poetry by Du Tử Lê, because the composer wanted to imitate the sound of wheels rolling slowly, wheels turning round, he made the opening six-eight verse into 2/4/4/4 (Đêm về/theo bánh xe lăn/tôi trăng viễn xứ/hồn thanh niên vàng - Night falls/following the rolling wheels/I, the moon in exile/golden youthful soul) as one large musical arc, followed by three smaller arcs with notes separated by seconds (F B / F G F F / E E F F / B C C B)
With "Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội" (Saigon Rain, Hanoi Rain), a song with a Latin American rhythm, PDC gave us a V-shaped motive with two thirds on "Mưa hoàng hôn" (Twilight rain), then he cleverly repeated that V motive (on "trên thành phố buồn gió" - over the wind-sad city) then concluded the phrase.
After that, he brilliantly recalls the motive (... heo may vào hồn, thoảng hương tóc em ngày qua, - the autumn chill enters my soul, a whiff of your hair from days past) then steers the melody through common tones to strange chords not in the F major scale, like Eb, Ab, then Db, and finally arrives at C7, which is the dominant seventh (V7) of F major.
Truly a master of modulation, he created feelings of an ancient capital city, seemingly distant yet strangely also very close in one's thoughts, because Eb major is only a second away from F major, yet why does it sound so infinitely far!
Motive Repetition
If we follow closely the two songs NDQĐT and NHTĐ, we will see the motive "Người đi qua đời tôi" as well as "Nhắm mắt" are repeated after they have been developed to the end of the section. This method of development (period) is very standard in classical music as well as other songs from the 60s. The difference is that the song structure (form) in PDC's music is diverse as mentioned above, making the song dynamic rather than rigidly framed in forms like AB, ABA, or ABAB. This further shows that setting poetry to music is not easy at all—it must be based on the rules of melodic development, not simply adding ornamental notes up and down following the poetry!
Motive Development (2)
- *
The above was about developing the motive within a section, but what about between sections? Composer PDC has a very distinctive and interesting way of developing the motives in subsequent sections. He takes the same motive but bends the ending to turn in a different direction. The clearest example is "Người đi qua đời tôi" (The One Who Passed Through My Life). After developing section 1, the melody descends:
The one who passed through my life,
in those melancholy winter afternoons,
Rain rises to so many shoulders,
Wind rises to so many skies
In section 2, the melody soars up in phrase 2, then continues developing with the same rhythm, so the listener does not feel a drastic change that would disrupt the coherence of the song.
The one who passed through my life,
soul drifting through freezing cold regions,
The gold of the past full of footprints,
darkness in the realm of oblivion.
In "Nửa hồn thương đau" (Half a Soul in Pain) it is the same—while the melody descends in section "a":
Close my eyes, let me find a fleeting fragrance of the pastLet me return to the poetic old roadLet me meet the one I dreamed of long ago
In section "c," we see a different development with the melody rising:
Close my eyes, I see only a purple horizonI see only a heart overflowing with longingAnd singing and tears
"Economizing" the Motive
Not only using the motive in the opening section, he also finds ways to incorporate it into the chorus as well. Perhaps this is a small part of why his music is so tight and cohesive? We see the motive "Người đi qua đời tôi" that opened the song has been cleverly embedded in the middle of the chorus with two variations of that melody:
And who passed through my life
Afternoon echoing with a thousand waves
The ending of the chorus is the same—nothing other than taking a motive-form development from "trong những chiều đông sầu" (in those melancholy winter afternoons):
then using the same intervals and rhythm (F G D F C) to write a sequence of three descending phrases, then using augmentation to conclude the section.
On the road to the cemetery,
hearing the words of souls,
hearing the words of souls,
in the grave ... dark ... dark ...
Repeating Lyrics, Changing Melody
Unlike classical music, popular music—in addition to repeating rhythm and motive while creating variations to prevent monotony—also repeats lyrics either exactly or with slight modifications to give the song a tighter structure. These words serve as connections between phrases. In "Nửa Hồn Thương Đau" (Half a Soul in Pain), we see the repeated phrase "cho tôi" (let me) functioning as a common denominator, a kind of "motive" that allows the composer to develop the latter half of each line:
Cho tôi tìm một thoáng hương xưa(Let me find a fleeting fragrance of the past)
Cho tôi về đường cũ nên thơ(Let me return to the poetic old road)Cho tôi gặp người xưa ước mơ(Let me meet the one I dreamed of long ago)In another composition, "Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn" (Night, Remembering Saigon's Moon), the phrase "Nhớ mưa ôi nhớ mưa" (Missing the rain, oh missing the rain) in the middle of the section, besides being repeated twice to affirm the poetic meaning of "missing the highway," "missing Hàng Xanh district," "missing you," serves two other purposes. First, it breaks the conventional six-eight meter structure of songs adapted from lục bát poetry; second, it functions as a temporary rest, creating a transition and introducing another longing—the longing for rain: "sadness throughout Thị Nghè" all the way to Trương Minh Giảng Street, then circling back to Tự Do Street!
This longing resonates deeply with me, for throughout my youth and adulthood, my close friend and I would often wander from Lê Thánh Tôn Street to Tự Do, then to Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Pasteur—all of them. Oh, those tall trees with green leaves, the tamarind trees lining Lê Thánh Tôn, Đồn Đất, Gia Long streets—where are they now for us to cherish and miss?
Conclusion
The subsections above with their illustrative examples are, in my humble opinion, the essential elements that anyone wishing to be recognized as a composer must master—to create a song that remains in the hearts of music lovers. These are crafts that anyone can learn, refine, and practice through many exercises before presenting their works to the world. What is encouraging for those learning to compose (like myself) is that three of the four songs above were set to music from poetry by composer Phạm Đình Chương. Though he was close friends with the poets and could easily absorb the spirit of their poems, beyond the musical ideas and motives inspired after reading the poems—gifts bestowed upon him by nature—he still had to toil, losing sleep to take that initial heaven-sent musical idea and shape it, sculpt it, add and subtract words, to transform the poem into a song. So if you work diligently, you too can compose music—if not brilliantly, at least following the basic rules of songwriting.
♫
12.10.2019
Thử tìm mẫu số chung qua bốn bản nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương
“Riêng về chất liệu và kỹ thuật tạo nhạc thanh của Chương, thì có thể nói rằng thế giới của anh đã hết rồi cái ám ảnh “ngũ cung”, mà là thế giới chói chang của thang âm bảy nốt Tây phương không ngỡ ngàng, của điệu thức trưởng/thứ (major/minor modes) Tây phương không ngượng ngập, với những hợp âm quãng ba (tertian chords) là những viên gạch xây cất, với chủ âm tính (tonality) đóng vai đạo diễn, và với bậc thứ âm trên thang âm đóng vai đổi phông, thay cảnh (“chuyển giọng” hay“chuyển khóa”-modulation). Cung cách chuyển giọng của anh, vì thế, cũng rất là hiền lành và “cổ điển”: công thức cơ bản của nhạc chủ âm (tonal music), đơn và thuần vậỵ…” (Trích “Cánh bướm mộng”- nhạc sĩ Cung Tiến viết.)
Nguồn: trang nhà http://cothommagazine.com
Quả là vậy, khi xem xét các bài nhạc như “Người đi qua đời tôi”, “Nửa hồn thương đau”, v.v chúng ta thấy nhạc sĩ PDC sử dụng rất nhiều quãng ba, quãng bốn trở lên trong nhạc của ông. Thí dụ như “người đi qua đời tôi” là Do Sol Sol Mi Sol (1 5 5 3 5) là một biến thể rải của hợp âm Do thứ, hay là “nhắm mắt, cho tôi tìm một thoáng hương xưa” ( Sí Sí, Sol Mi Sì Mi Sí La La) là một thể rải của hợp âm Mi thứ (Em) trước khi chuyển qua nốt La của hợp âm La thứ (Am). Có khác chăng là ns PDC đã – như lời ns Cung Tiến giải thích – rải một cách “chói chang”, “không ngượng ngập”, đi liền từ Sí xuống Si một quãng tám rồi lại trở lại Sí, trong cùng một câu nhạc (phrase). Quả là nhạc ông đã ra khỏi sự bó buộc của ngũ cung năm nốt, của quy tắc viết nhạc không quá quãng năm trong cùng câu nhạc.




















