Ghi lại những mẩu chuyện, cảm nghĩ về âm nhạc và ngành điện toán/tin học, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI) bằng Claude AI. Posting in both English and Vietnamese my thoughts about popular music and Artificial Intelligence using Anthropic's Claude AI and Claude Code CLI.
3.22.2026
Tìm Hiểu Nhạc Thính Phòng Việt Nam: Đờn Ca Tài Tử
Nhạc thính phòng là một thể loại nhạc gồm các bài hát hoặc bản đàn được biểu diễn trong phòng khách tại tư gia hay trong một phòng nhỏ. Nhạc thính phòng Tây phương bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ thứ 16 ở châu Âu, đặc biệt là ở Ý và Anh, do những nhóm nhỏ các nhạc sĩ, ca sĩ chuyên trình bày các bài hát 1 rồi sau đó được phổ biến và phát triển tới việc trình tấu các bản đàn. Tại Việt Nam, từ thế kỷ thứ 10, dưới triều vua Lê và Đinh đã xuất hiện các buổi ca và múa trong cung đình, đền miếu, hoặc hội họp tại tư thất các quan tướng. Chính hình thức ca múa này đã làm nền tảng cho âm nhạc “thính phòng” Việt Nam ngày nay2.
Tựu trung, âm nhạc thính phòng Việt Nam bao gồm ca trù, ca Huế và đờn ca tài tử, phát triển mạnh từ đầu thế kỷ thứ 20. Điểm khác biệt chính yếu giữa nhạc thính phòng Việt Nam và dân ca Việt Nam là: nhạc thính phòng gồm những tác phẩm (có khi được ký âm) và người trình diễn cũng như người thưởng thức phải được huấn luyện để có thể sử dụng các nhạc cụ, trình bày tác phẩm, cũng như hiểu biết về thi ca; trong khi dân ca mang tính cách tự phát, tự diễn trong lúc lao động hoặc giải trí. Đờn ca tài tử (còn gọi là nhạc tài tử) được phát triển chủ yếu tại miền Nam Việt Nam. Thuật ngữ tài tử có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, tài tử là những người tài năng (talent), những bậc thầy tham gia trình diễn; thứ hai, tài tử là những người nghiệp dư (amateur), gồm cả những bậc thầy nhưng không lấy đó làm kế sinh nhai tham gia biểu diễn (music of the amateurs).
Nền tảng của đờn ca tài tử chính là nhạc lễ (còn gọi là nhạc ngũ âm), một loại nhạc được phát triển vào thế kỷ thứ 17 dựa trên nhạc tế tự cung đình Huế và âm nhạc của các tỉnh Nam Trung Bộ. Nhạc lễ trở nên thịnh hành ở miền Nam vào cuối thế kỷ 19, phục vụ chính yếu cho các lễ hội tại địa phương. Các ban nhạc lễ lúc bấy giờ thường gồm có các nhạc cụ gõ và dây kéo vĩ. Do nhu cầu phục vụ cho các tang lễ về khuya, nhạc lễ cần phải chơi với âm lượng nhỏ theo yêu cầu của gia chủ. Từ đó các ban nhạc lễ được tổ chức một cách gọn nhẹ hơn vàbắt đầu dùng song lang thay cho trống nhạc để giữ tiết tấu, cũng như bỏ bớt các nhạc cụ dây kéo vĩ để chỉ còn có đàn cò. Những ban nhạc lễ nhỏ gọn như vậy còn có tên gọi lànhóm đờn cây. Kể từ năm 1885 trở về sau, các nhóm đờn cây này được gọi là ban đờn ca tài tử để phân biệt với các ban nhạc lễ và nhạc hát bội đang thịnh hành song song. Một điểm khác biệt khác giữa nhạc tài tử và nhạc lễ là sự có mặt của ca sĩ. Do vậy ngoài việc hòa đàn với nhau, ban nhạc tài tử còn tham gia việc đệm đàn cho ca hát. Mặt khác, các ban nhạc tài tử dần dần không đàn cho đám tang nữa, trừ những trường hợp rất đặc biệt. Đối tượng phục vụ mới là những đám vui như đám ăn tân gia, đám cưới nhà giàu, đám thăng quan tiến chức, hoặc đám giỗ lớn.
Đầu thế kỷ thứ 20, đờn ca tài tử trở thành một phong trào ca nhạc phổ thông tại miền Nam, nhất là tại các địa phương như Bạc Liêu, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Đước (Long An), Cái Thia (Mỹ Tho), và Sài Gòn, v.v.. Các nhóm tài tử khối miền Đông (ở vùng Sài Gòn Chợ Lớn và phụ cận) , và nhóm tài tử khối miền Tây (ở Vĩnh Long và Sa Đéc) cũng được hình thành. Đứng đầu nhóm tài tử khối miền Đông là ông Nguyễn Quang Đợi tức Ba Đợi, một nhạc sư từ triều đình Huế vào sống ở Cần Đước cầm đầu cùng với các nghệ sĩ khác như Cao Huỳnh Cư và Cao Huỳnh Điểu. Riêng nhóm tài tử khối miền Tây có ông Trần Quang Quờn tức Ký Quờn người Huế vào sống ở Vĩnh Long làm thủ lĩnh cùng với các nghệ nhân Trần Quang Diệm, Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Tư Ba người gốc Quảng Nam. Các nghệ nhân này là những nhà tiên phong trong những cố gắng biên soạn, sáng tác và giảng dạy nhạc tài tử theo phong cách riêng của mình. Các ấn bản nhạc tài tử bắt đầu xuất hiện vào năm 1909. Riêng trong những thập niên 60 và 70, nhạc tài tử được các hãng đĩa phát hành rộng rãi trong và ngoài nước như hãng Béka, Ocora, Pathé, Việt Hải, Hồng Hoa, Marconi, và Odéon.v.v.. Từ đó nhiều danh ca, danh cầm được nhiều người biết đến. Tuy nhiên ít thấy có những trường hợp đưa nhạc tài tử lên sân khấu trình diễn như thể loại âm nhạc thính phòng phương Tây.
So với các loại nhạc thính phòng khác của Việt Nam và phương Tây, trong nhạc tài tử, vai trò của những người đàn và hát là ngang nhau. Ca sĩ trong ca trù và ca Huế thường là phụ nữ, nhưng trong nhạc tài tử, ca sĩ nam và nữ đều có vai trò ca hát bình đẳng. Dàn nhạc của đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của ca trù và ca Huế . Các nhạc cụ sử dụng trong nhạc tài tử thường có đàn tranh, cò, kìm, gáo, độc huyền, song lang, và ống tiêu v.v.. Khoảng từ năm 1920, đàn ghi-ta phím lõm (hay “lục huyền cầm” hoặc chì gọi đơn giản là “ghi-ta”), hạ uy cầm, và viô-lông (violon hay vĩ cầm) cũng được thêm vào trong ban nhạc. Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau; ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng âm sắc. Thường thấy nhất là song tấu đàn kìm và đàn tranh - là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắc - mà giới chuyên môn gọi là sắc cầm hảo hiệp; hoặc tam tấu đàn kìm-tranh-cò, kìm-tranh-độc huyền, tranh-cò-độc huyền với từ chuyên môn là tam chi liên hoàn pháp. Nếu một ban nhạc có 3 nhạc công và 1 ca sĩ thì được gọi là ban tứ tuyệt, nếu có 4 nhạc công và 1 ca sĩ thì gọi là ban ngũ tuyệt. Một điểm đặc biệt của nhạc Tài Tử là lối đàn ngẫu hứng - tương tự lối chơi ngẫu hứng trong nhạc Jazz của Mỹ. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu của những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hòa hợp với những nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng bản đàn, khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hòa. Có lẽ phần ngẫu hứng nhiều nhất trong nhạc tài tử là ở phần rao của người đàn hoặc nói lối của người ca. Người đàn dùng rao - hoặc người ca dùng nói lối - để lên dây đàn và nhất là với mục đích gợi cảm hứng cho người bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức. Ngoài ra, khi trình tấu, các nghệ sĩ cũng có thể dùng tiếng đàn của mình để "đối đáp" hoặc "thách thức" với người đồng diễn. Chính vì vậy mà nhạc tài tử luôn luôn sinh động và hấp dẫn người nghe.
Đờn ca tài tử có một số lượng bài bản rất phong phú và đa dạng. Ngoài việc sử dụng một số bài bản trong nhạc lễ, còn có các bài bản từ ca Huế, dân ca miền Trung, miền Nam, và cả một số lượng lớn do các nghệ nhân bậc thầy sáng tác và cải biên. Do đặc tính ngôn ngữ vàsinh hoạt riêng của người miền Nam mà nhạc miền Trung đã được phát triển đặc biệt trong nhạc tài tử. Ví dụ bài Bình Bán của ca Huế được phát triển thành Bình Bán Vắn trong nhạc tài tử, Lưu Thủy Huế thành Lưu Thủy Đoản, Kim Tiền Huế thành Kim Tiền Bản, Phú Lục Huế thành Phú Lục Chấn, hoặc Bình Bán Huế thành Bình Bán Chấn v.v. Các bài bản phổ biến nhất trong nhạc tài tử là 20 bài bản tổ (còn gọi là nhị thập huyền tổ bản) thuộc hai điệu Bắc và điệu Nam. 20 bài bản tổ gồm có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán. Tương truyền rằng các bài bản này do ông Ba Đợi đúc kết và được xem như là những bài căn bản cho những người bắt đầu bước vào lĩnh vực nhạc tài tử. Một trong những bài bản nổi tiếng trong đờn ca tài tử là bản Dạ Cổ Hoài Lang - nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng - do nhạc sĩ Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác vào năm 1917 . Dạ Cổ Hoài Lang là bài hát được phát triển dựa trên bài Hành Vân của ca Huế. Lời ca của bài hát này được sửa nhiều lần bởi các nghệ sĩ như cô Ba Vàm Lẻo, ông Nguyễn Tử Quang, ông Trịnh Thiên Tư và được nhiều người yêu thích. Về sau, Dạ Cổ Hoài Lang được đổi tên là Vọng Cổ Hoài Lang, rồi được đơn giản hóa thành Vọng Cổ . Từ năm 1945, ông Giáo Thinh tức Nguyễn Văn Thinh, một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn, đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc miền Nam (còn gọi là thất thập nhị huyền công). Theo đó, một nghệ nhân được công nhận là bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tổ; và để đạt mức cao siêu hơn, nghệ nhân đó cần biết hết 72 bài bản này. Nhạc tài tử được phát triển mạnh ở miền Nam một phần là nhờ có khá nhiều lò dạy được mở ra ở khắp lục tỉnh và Sài Gòn. Đầu tiên, chỉ có những gia đình khá giả mới đủ tiền mời thầy ở các tỉnh khác về nhàđể dạy. Vào những năm của thập kỷ 40 và 50, các lò dạy mới bắt đầu phổ biến, nhất là tại Sài Gòn, do các nghệ sĩ từ tỉnh lên phụ trách. Những lò nổi tiếng thời bấy giờ như các lò của nghệ sĩ Chín Phàng (từ Long An), Hai Đậu (từ Tiểu Cần, Trà Vinh), Năm Lòng và Năm Được (từ Cần Giuộc). Các lò lớn nhất, nhiều uy tín, và đào tạo nhiều danh ca danh cầm nhất có thể kể đến là lò Văn Giỏi và Tấn Đạt. Các nghệ nhân nổi tiếng như Sáu Thới, Năm Xem, Ba Đồng, Út Lăng, Tư Huyện, Tư Tụi, Sáu Thoàn, Văn Vĩ, Mười Đờn, Năm Vinh, Ba Trung, Sáu Xiếu, và Nguyễn Văn Thinh cũng có nhiều đóng góp cho việc phát triển nàỵ Trong những năm gần đây, chính quyền địa phương các tỉnh và huyện ở miền Nam Việt Nam đã cố gắng khôi phục lại các lớp dạy đờn ca tài tử cũng như tổ chức các liên hoan đờn ca tài tử cấp tỉnh hoặc liên tỉnh. Ở hải ngoại cũng đã và đang có nhiều cố gắng khôi phục lại thể loại nhạc thính phòng này của Việt Nam; nhưng hầu hết vẫn còn rời rạc và thiếu sự bảo trợ về mặt tổ chức cũng như tài chánh v.v..
mời nghe
Dạ Cổ Hoài Lang
(Út Trà Ôn)
mp3
Real Player
Do chịu ảnh hưởng của sự du nhập nhạc Tây phương, các phương tiện thông tin hiện đại, và một số nhận thức sai lạc của người dân về đờn ca tài tử nên thể loại nhạc thính phòng đặc sắc của Việt Nam này đang mất dần tính chính thống. Nhiều nơi đã thay đổi không gian thính phòng của đờn ca tài tử ûđể diễn viên hòa nhạc và hòa ca trong không gian sân khấu - nơi mà người nghe và người diễn bị tách biệt. Nhiều chương trình nặng phần trình diễn, chú trọng nhiều đến phần ca hơn là hòa đàn. Thậm chí người ca hoặc người đàn còn học thuộc lòng các bài bản ký âm theo phương Tây một cách chi tiết; và do đó làm mất đi tính ứng tác, tính ngẫu hứng đặc trưng của nghệ thuật đờn ca tài tử truyền thống. Mặt dù về mặt thang âm điệu thức giữa âm nhạc cải lương và âm nhạc của đờn ca tài tử không có ranh giới rõ rệt, nhưng với cùng một làn điệu, cùng một bản đàn, lối ca và hòa tấu nhạc tài tử có một số khác biệt với lối ca và hòa tấu nhạc trên sân khấu cải lương. Do không bị hạn chế vào việc diễn xuất và kịch bản sân khấu, người nghệ sĩ của nhạc tài tử có nhiều thuận lợi hơn trong việc ứng tác và chơi ngẫu hứng.
Xuất phát từ việc nhận thức được tầm quan trọng của nhạc đờn ca tài tử trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, ngày nay đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học ở trong và ngoài nước đang tìm cách sưu tầm vàhệ thống hóa các bài bản của nhạc tài tử, nghiên cứu thang âm điệu thức, phương pháp ký âm v.v.. Một số nhạc sĩ cũng đang tìm cách sáng tác thêm các bài bản mới để góp phần vào số lượng bài bản đang thịnh hành hiện nay.
Hoàng Việt Khanh
--------------------------------------------------------------------------------
1 Lloyd, Norman. 1968. The Golden Encyclopedia of Music. New York: Golden Press.
2 Nguyễn Thuyết Phong. 1998, Vietnam. Garland Encyclopedia, Volume 4.
3 Ibid.
4 Ibid.
5 Kiều Tấn. 2002. "Hệ Thống Bài Bản nhạc Tài Tử Nam Bộ". Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể trên Địa Bàn TP. HCM. Tp. HCM: Nhà Xuất Bản Trẻ.
6 Ibid
7 Thế Bảo. 2002. "Lòng Bản - Yếu Tố Mô Hình trong Âm Nhạc Truyền Thống Việt Nam". Thông Báo Khoa Học số 6. Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc.
8 Lê Thị Dung. 2002. "Vài Nét về Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tư ûở thành phố HCM". Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể trên Địa Bàn TP. HCM.Tp. HCM: Nhà Xuất Bản Trẻ.
9 Nguyễn Thị Mỹ Liêm. 2001. "Đôi Điều Suy Nghĩ về Cuộc Liên Hoan Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ Năm 2001". Thông Báo Khoa Học số 5. Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc.
10 Nguyễn Thuyết Phong. 1998. Vietnam. Garland Encyclopedia, Volume 4. 11 Ibid.
12 Nguyễn Thị Mỹ Liêm. 2001. "Đôi Điều Suy Nghĩ về Cuộc Liên Hoan Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ Năm 2001". Thông Báo Khoa Học số 5. Hà Nội: Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc.
13 Đắc Nhẫn. 1987. Tìm Hiểu Âm Nhạc Cải Lương. Tp. HCM: Nhà Xuất Bản Tp. HCM.
14 Kiều Tấn cho rằng hệ thống bài bản nhạc tài tử có thể chia thành hai hệ thống Bắc và Nam. Hệ thống bản Bắc gồm các điệu thức Bắc, Xuân; hệ thống bản Nam gồm các điệu thức Ai và Oán (Kiều Tấn: xem chú thích 5).
15 Trần Văn Khê và Nguyễn Thuyết Phong. 2001. "Việt Nam". The New Grove Dictionary of Music and Musicians, ed. S. Sadie and J. Tyrrell. London: Macmillan. Theo tài liệu Tìm Hiểu Nghệ Thuật Cầm Ca Việt Nam (Đồng Tháp:Nhà Xuất Bản Đồng Tháp - 1996) tác giả Toan Ánh có trích dẫn bài viết của ông Nguyễn Tử Quang ("Thử Tìm Xuất Xứ bài Vọng Cổ") đăng trong Bách Khoa số 63 xuất bản ngày 15-8-1959 thì bài Dạ Cổ Hoài Lang được viết vào năm 1920 và tác giả là nhà sư Nguyệt Chiếu ở Bạc Liêu. Theo tài liệu "Bản Gốc Dạ Cổ Hoài Lang và các Dị Bản" in trong sách Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể trên Địa Bàn TP. HCM. (Tp. HCM: Nhà Xuất Bản Trẻ- 2002) tác giả Trần Phước Thuận có ghi rõ rằng bài Dạ Cổ Hoài Lang được công bố vào đêm rằm tháng Tám âm lịch năm Mậu Ngọ (1918) tại Bạc Liêu.
16 Trần Phước Thuận. 2002. "Bản Gốc Dạ Cổ Hoài Lang và các Dị Bản". Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể trên Địa Bàn TP. HCM. Tp. HCM: Nhà Xuất Bản Trẻ.
17 Toan Ánh. 1996. Tìm Hiểu Nghệ Thuật Cầm Ca Việt Nam. Đồng Tháp: Nhà Xuất Bản Đồng Tháp.
18 Kiều Tấn. 2002. "Hệ Thống Bài Bản nhạc Tài Tử Nam Bộ". Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể trên Địa Bàn TP. HCM. Tp. HCM: Nhà Xuất Bản Trẻ.
19 Lê Thị Dung. 2002. "Vài Nét về Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tư ûở thành phố HCM". Bảo Tồn và Phát Huy Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể trên Địa Bàn TP. HCM.Tp. HCM: Nhà Xuất Bản Trẻ.
20 Cải lương là một thể loại sân khấu truyền thống Việt Nam được phát triển từ sân khấu hát bội và nhạc tài tử.
21 Kiều Tấn. 1993. "Tìm Hiểu Điệu Thức trong Âm Nhạc Tài Tử Nam Bộ". Thang Âm Điệu Thức trong Âm Nhạc Truyền Thống một số Dân Tộc Miền Nam Việt Nam. Tp. HCM: Viện Văn Hóa Nghệ Thuật tại Tp. HCM.
Nguồn: Dactrung
Chiều Về Trên Sông - Vài nhận xét (Phạm Quang Tuấn)
***
Chiều Về Trên Sông - Vài nhận xét
Phạm Quang Tuấn
Bài Chiều Về Trên Sông của Phạm Duy cho người nghe cảm giác đứng trước giòng sông lớn, cảnh thiên nhiên bao la hùng vĩ tương phản với hình ảnh và tâm tư của con người nhỏ bé. Những điều này ai cũng cảm thấy được, xin miễn bàn thêm. Tôi chỉ xin có vài nhận xét nhỏ về nhạc điệu.
Điểm thứ nhất: Sự giản dị và tiết kiệm trong giai điệu
Giai điệu Chiều Về Trên Sông chỉ có vài ý chính nhắc đi nhắc lại (repetition) hay chuyển lên hay xuống (transposition). Giai điệu câu 3 và câu 1 đoạn A hoàn toàn giống nhau.
Chiều buông trên dòng sông Cửu Long như một cơn ước mong ơi chiều.
Buồn tôi không vì sao bỗng dưng theo đò ngang quá giang thương chiều.
Giai điệu câu 1 và câu 2 đoạn B cũng vậy:
Bởi vì đời còn nhiều khi là mơ
Bởi vì đời còn nhiều khi thành thơ…
Giai điệu câu 5 và câu 6 đoạn B giống nhau, trừ nốt La: La giảm lần đầu, La đúng lần sau. Sự thay đổi này rất quan trọng, vừa là để giai điệu biến chuyển nhẹ nhàng chậm rãi, vừa để diễn tả một tình cảm từ từ biến chuyển trong lòng người.
Bởi vì chiều buồn chiều về (La giảm) dòng sông
Bởi vì tình đời nào chỉ (La) thù oán
Giai điệu câu 7 và 8 đoạn B hoàn toàn giống nhau, trừ nốt Do cuối chuyển từ thấp lên cao:
Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn
Hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo.
Nếu không nhắc lại như trên thì cũng là những transposition (chuyển cả câu nhạc lên hay xuống) rất sát. Câu 2 đoạn A chính là giai điệu câu 1 chuyển lên một quãng 4, ngoại trừ nốt đầu và, quan trọng hơn, nốt cuối:
Chiều buông trên dòng sông Cửu Long như một cơn ước mong ơi chiều
Về đâu ơi hàng cây gỗ dâu nghiêng mình trên sóng sông yêu kiều.
Và ở đoạn B là một transposition khác, lần này thì xuống đúng một quãng 4:
Có khi vui lửng lơ
Có khi tuôn sầu u.
Hoặc từ câu 1 sang câu 5 đoạn B lại là một transposition xuống một quãng 4, nhưng có chút biến đổi:
(B1) Bởi vì đời còn nhiều khi là mơ…
(B5) Bởi vì chiều buồn chiều về giòng sông…
Nếu transpose chính xác, thì “về” phải là nốt Si b. Thay vì vậy, nhạc sĩ dùng nốt La b cho cảm giác trùng hẳn xuống.
Xét kỹ cấu trúc của câu đầu:
Chiều buông… trên dòng sông Cửu Long… như một cơn ước mong… ơi chiều.
Ý nhạc dài, thong thả, hùng vĩ, thích hợp với chủ đề. Giai điệu hợp thành từ bốn thành tố. “Chiều buông” là một quãng năm (Do-Sol) đơn giản, rất căn bản trong âm nhạc. “Trên dòng sông Cửu Long” chỉ là một sự nhắc lại của nốt Sol (“buông”), dệt thêm vài nét hoa mỹ (ornamentation) như những đợt sóng bồng bềnh. “Như một cơn ước mong” nhắc lại lần nữa, nhưng hai chữ cuối xuống một bậc. “Ơi chiều” về chủ âm để kết thúc.
Phải chăng những sự nhắc đi nhắc lại như những làn sóng theo nhau, những tiếng vang vọng trên sông cũng là một yếu tố gợi cảm giác một phong cảnh rất “tĩnh”, một dòng nước mênh mông chậm rãi, một bầu trời chiều bao la?
Điểm thứ hai: những biến đổi trong điệu thức.
Điệu thức là chuỗi cung bậc mà nhạc sĩ dựa vào để tạo ra giai điệu. Bài Chiều Về Trên Sông cơ bản là viết trên một điệu thức ngũ cung Việt Nam (Do Mib Fa Sol La), phảng phất màu sắc điệu thức Dorian (Do Re Mib Fa Sol La Sib) của Âu châu. Có vài nốt Re “ghé” vào như
Có khi-i (Re) vui lửng lơ
nhưng Re đó là do điệu thức được nâng lên một quãng 4 (thành Fa Lab Sib Do Re), Re phải hiểu là tương đương của La (và La giảm là tương đương của Mi giảm). Nhìn kỹ thêm, chữ “khi” được kéo dài thành nhịp chỏi (syncope – bắt đầu chữ “khi” ở nhịp nhẹ và nối sang chữ “i” ở nhịp mạnh) và hát bằng hai nốt Mi giảm-Re, rồi Si giảm-La trong hai câu
Có khi-i (Mib-Re) vui lửng lơ
Có khi-i (Sib-La) tuôn sầu u
tạo cảm tưởng những nốt lửng lơ trong âm nhạc dân tộc Việt Nam. Nhịp lửng lơ, điệu cũng lơ lửng, và lời thì… không hiểu nhạc sĩ có cố ý đặt hai chữ “lửng lơ” vào lời cuối câu trên không! Nếu có thì “đáng nể”, nếu không thì tiếng Anh có chữ “serendipity” rất thích hợp.
Có hai biến cung (accidental) đáng để ý. Một là nốt La đổi thành La giảm trong câu:
Bởi vì chiều buồn chiều về (La giảm) dòng sông
Điểm này đã bàn ở trên. Nhưng đặc sắc nhất là nốt Mi giảm đổi thành Mi ở hai câu cuối đoạn B:
Hãy cất tiếng ca cho đời (Mi) thêm (ý) buồn
Hãy cất tiếng ca cho lòng (Mi) thôi khô héo.
Điệu thức biến thành Do Mi Fa Sol La Do. Đây là một điệu thức rất đặc sắc, gây ra một âm điệu lạ tai, nhẹ nhàng êm ái, đầy bản sắc Việt Nam mà vẫn có gì mới mẻ.
Vì dùng điệu thức ngũ cung đã nói trên, Chiều Về Trên Sông kết thúc bằng một plagal cadence mà các nhạc sĩ thường dùng để tạo một cảm giác trang trọng, uy nghi, kính cẩn, như khi đối diện với Thượng Đế.
Phạm Quang Tuấn
Úc Châu
It's a small (music) world!
Trong Disneyland California, a.k.a. "The Happiest Place On Earth", có một cái ride tên là "It's a Small World". Bạn sắp hàng, rồi được ngồi trên một cái thuyền con, và được máy kéo ngầm tự động chở đi vòng vòng một tour xem búp bê con nít khắp thế giới hát bài "It's a Small World", mỗi nước hát tiếng của mình, đệm đàn cách của mình.
Trong ý tưởng đó, những ngày cuối tuần vừa qua tôi dồn sức làm một cái blog mới, chứa nhiều links của tên các nhạc sĩ, bài hát, ca sĩ, hòa tấu, v.v. của ba ngôn ngữ chính mà tôi đam mê nghe nhạc, đó là Việt Nam, Pháp, và Anh ngữ. Hy vọng trang này sẽ làm bạn thấy thế giới âm nhạc của chúng ta rộng lớn, mà cũng gắn bó với nhau ra sao. Đây là link dẫn đến trang:
http://hoctroyoutube2010.blogspot.com/
- 1000 bài nhạc Việt Nam,
- 40 năm Top #1 Hits của nhạc Mỹ,
- Tất cả các dĩa LP và CD chính của maestro Paul Mauriat, (Raymond Lefevre - đang thực hiện)
- Tên các ca sĩ Pháp từ xưa đến nay,
- Một số các anthology của các nhóm nhạc nổi tiếng khác như ABBA, Carpenters, và The Beatles (đang làm), ..
Tôi thấy nhiều lần tôi đi búa xua đờ la mua, ấn vô bài Viens Viens thì nó ra Paul Mauriat, Raymond Lefevre, rồi thì tôi mới biết là ca sĩ thân thương Marie Laforêt hát bài đó từ thời tôi còn cuổng trời tắm mưa. Cô ta thật có vẻ đẹp "liêu trai", hát viens viens mà cứ như là rên hừ hừ, lúc gần cuối bài:
Đại khái lả vậy, mình search cái này, nghe xong, lại lòi ra cái khác để nghe. Xem bằng Firefox thì tốt hơn là Internet Explorer, vì Firefox làm một tab mới chứa video, chứ không tạo ra một window mới
Nhân đây, tôi cũng mạn phép cám ơn l'ami D'OR Leaqua đã rất nhiệt tình góp nhiều ý kiến hay để làm blog ấy search tốt hơn.
Hy vọng blog mới này sẽ làm bạn cảm thấy yêu đời, yêu YouTube và BlogSpot world hơn. Có lẽ Blogger world cũng chẳng thua gì Wordpress world nhỉ? (câu hỏi tu từ-xin miễn giả nhời ;-)
Cũng như tôi vậy, nếu không "tôi còn yêu lắm đời này" thì bỏ công ra viết và làm blog for free làm chi?!
Còn nữa, ba cái blog "Tam Quốc Chí" của tôi từ nay cover ba loại khác nhau: hoctro.blogspot.com thì viết về cách làm widget bằng anh ngữ, cái này thì thiên về nhạc, cái thứ ba đang giới thiệu thì để các bạn và tôi giải trí. It's a small hoctro world!!!
Thân,
Hoctro
8/24
10.04.2022
Dòng nhạc & Dòng đời (Taberd Vũ Văn Chính)
Dòng nhạc & Dòng đời
1. Ngôi trường ươm mầm
Xin cám ơn âm nhạc đã giúp cho cuộc sống này thêm tươi đẹp cả lúc vui, khi buồn, những lúc hạnh phúc và đau khổ, những lúc lãng đãng như mây trời hay những lúc quỵ té trên đường đời của một kiếp người.
Trung học Lasan Taberd Sài Gòn
Tôi tiếp xúc với âm nhạc sớm là nhờ học ở trường Taberd, nơi văn - thể - mỹ luôn được coi trọng.
Ngay cả các frère (cha) cũng có ban nhạc riêng để thỉnh thoảng có dịp biểu diễu cho các học sinh Taberd nghe chơi. Cái thứ âm nhạc của nước ngoài, nhất là của Mỹ nó len lén đi vào người tôi từ lúc nào không biết, chỉ biết những năm 1968-1969 tôi đã được nghe trên radio, mục phát thanh âm nhạc dành cho quân đội Mỹ ở Việt Nam những cái bài như Listen in the music của ban nhạc Doobie Brother, Play me với cái giọng khàn khàn của Neil Diamond, Alone Again, Getdown với giọng nhẹ nhàng của Gibert O’ Sullivan. Tôi nghe loáng thoáng vậy thôi chứ có hiểu các bài hát đó nó nói gì đâu, nhưng đã say mê âm nhạc thì nhiều khi chỉ nghe giai điệu của nó cũng thấy hay rồi.Vả lại tôi may mắn có điều kiện của gia đình, trong nhà có giàn máy hát băng và tâm hồn văn nghệ của ông bố đã truyền cho tôi máu yêu âm nhạc.
Thời đó mỗi lần nghe băng hòa tấu guitar thật sôi động của ban nhạc The Ventures, tay chân tôi lại táy máy đánh trống đàn tưởng tượng, có lúc cầm cây chổi mà tưởng là cây guitar điện, thế là cứ gảy lên tưng bừng, nhất là cái bài The House Of Rising Sun với phần solo guitar thật độc đáo của ban nhạc The Animals, bài này thường là bài đầu tiên cho người học guitar. Chưa kể những bản nhạc cao bồi Django oai hùng thời viễn Tây, với tiếng vó ngựa và tiếng súng bắn ì xèo, mỗi lần nghe đoạn bắn súng là tôi đứng dang chân cho có vẻ ngạo nghễ, mắt lườm lườm về phía trước. Cũng may là không ngậm điếu thuốc lá trên môi, nếu không là tôi cũng bị mấy cây chổi lông gà vô đít.
Âm nhạc đến với tôi từ độ mới 9, 10 tuổi. Nhớ mỗi chiều đi tắm piscine (hồ bơi) ở Lido. Hồ có chỗ rất sâu, nước lại trong xanh y như biển do được lát gạch màu xanh biển. Tôi hay được nghe bài Diamond Head của The Ventures lúc đứng trên tấm ván của cầu nhảy, nghe nhạc cảm thấy hứng nhưng không dám nhảy cầu vì... không biết bơi. Hầu hết các hồ tắm ở Sài Gòn đều có nhạc dành cho những người bơi lội, vừa bơi thỏa thích hay nằm phơi nắng trên ghế bố thưởng thức những bản nhạc thời thượng lúc ấy. Những hồ tắm hạng sang đều tuyển những bản nhạc hay của Anh, Mỹ, Pháp...
Lớn lên một chút thì lại thích nghe ban nhạc CCR, với giọng nhừa nhựa quyến rũ của Tom Fogerty, qua các bài một thời được yêu thích như Have You Ever Seen The Rain?, Proud Mary, Who’ll Stop The Rain… Đồng thời tôi cũng bắt đầu làm quen với nhạc Pháp qua bài Mal của Christophe, nghe lần đầu thấy mê mẩn bởi giọng the thé liêu trai của Christophe. Rồi còn La Plus Bells Pour Aller Danser với Sylvie Vartan, Bang Bang của Sheila, Tous Les Garcons et Les Filles dễ thương của Francois Hardy thời thập niên 1960. Dạo ấy văn hóa Pháp rất gần gũi với người dân Sài Gòn. Âm nhạc Pháp cũng thế, với những âm điệu rất giống và gần gũi dòng nhạc Việt Nam, mặc dù không phải ai cũng hiểu lời.
Ban đầu, tôi học chương trình Pháp nhưng lại khoái nghe nhạc Mỹ. Tôi có cảm tưởng là nhạc Mỹ nghe hay hơn nhạc Pháp, nhất là khi nghe giọng đầm ấm của LoBo, rồi giọng trong trẻo và sang của Karen Carpenters với bài Goodbye To Love có phần solo guitar hay kinh khủng, một giọng khàn khàn của Neil Diamond nhịp nhàng với Song Sung Blue, Play me, Simon&Garfunkel êm đềm với El Condo Pasa, Sound Of Silence, Santana, Andy William với Love Story...
Nếu phải kể phong trào nhạc trẻ ở VN, thì ngoài các ban nhạc chơi trong các club của quân đội Mỹ, lại phải nhắc tới trường Taberd. Vào những năm 1961, trường có làm một buổi đại hội nhạc trẻ thu nhỏ để khánh thành hội trường vừa mới xây xong. Hội trường chứa được hơn 1.700 ghế, tương đương rạp Rex ngày ấy. Thành phần các ban nhạc thuộc các trường bạn như Saint Paul, Regina Pacis, Thiên Phước, trường Lê Quý Đôn và ban nhạc của Taberd. Buổi đại hội rất thành công và được tái hiện vào năm 1965.
Nhưng từ khi đại hội nhạc trẻ Woodstock được tổ chức vào năm 1968 ở Mỹ, thì không khí nhạc trẻ ở Sài Gòn bắt đầu khởi sắc hơn. Vào năm 1972 một đại hội nhạc trẻ rầm rộ với sự tham dự nồng nhiệt của giới trẻ, được tổ chức tại sân trường Taberd và sau đó vào năm 1973 một đại hội nhạc trẻ được tổ chức ở Thảo Cầm Viên, trong ngày lễ Hai Bà Trưng có hàng ngàn người xem. Mặc dù năm này chiến tranh khốc liệt và tràn lan trên khắp đất nước, âm nhạc vẫn không thể thiếu trong lòng người dân Sài Gòn, nhất là giới trẻ.
2. Các ban nhạc rộ nở
Trường Taberd tổ chức một buổi đại hội nhạc trẻ lần thứ hai vào ngày Chúa nhật 25.11.1972, lần này tôi cũng mua vé tham dự.
Mới sáng sớm đoạn đường Nguyễn Du trước cổng trường đông nghẹt giới trẻ chờ giờ vào cổng, từng cặp uyên ương lớn có choai choai cũng có, ăn mặc rất đúng mốt đứng túm tụm nói chuyện, các anh trai tóc dài thòng râu ria um tùm đứng hút thuốc, bên cạnh là các em gái mặc áo có những tua áo phất phơ dưới hai cánh tay, hay mặc mini jupe ngắn ngủn rất hấp dẫn... Áo trắng của học sinh Taberd cũng đông không kém, vì vé được bán ưu tiên trong trường để ai muốn tham dự thì mua đỡ phải chen lấn.
Mở đầu buổi Đại hội là ban nhạc của các frère Taberd chứ còn ai vô đây nữa. Các frère mở đầu với bài Lòng mẹ của nhạc sĩ Y Vân, rồi mấy bài tình ca bằng tiếng Pháp như Mal, Bésame Mucho... Nhìn ban nhạc với toàn nhạc công mặc áo dòng đen đeo cổ cồn rabat trắng chơi nhạc nghề quá, bà con vỗ tay ào ào tán thưởng. Nồng nhiệt nhất là các ông học sinh Taberd, hò hét to nhất và hăng nhất để ủng hộ gà nhà “Bis! Bis!” và huýt sáo lia lịa, làm mấy frère hứng khởi chơi hăng thấy rõ. Nếu không nhường cho các ban nhạc tiếp theo biểu diễn thì dám các frère chơi luôn tới chiều lắm!
Sau đó là các ban CBC, một ban nhạc rock hàng đầu của Việt Nam lúc ấy với thành phần: Lân, Bích Ly,Tùng Vân,Tùng Linh, Bích Liên và ca sĩ Bích Loan với bài Mây lang thang (A Cowboys Work Is Never Done - Sonny And Cher; lời Việt: Trường Kỳ) - một bản nhạc rất thịnh hành, bài sau là Cô hippy bụi đời (Ticket To Ride – Carpenter).
The Crazy Dogs với chị em Ngọc Quí, Ngọc Bích và cậu bé Việt Châu (ba thành viên ca sĩ ban này là con nghệ sĩ Việt Hùng – Ngọc Nuôi), The Dreamers của anh em Duy Quang với bản Biết đến thuở nào - nhạc Tùng Giang. Ban tam ca The Apple Three/Ba Trái Táo do nhạc sĩ Lê Vũ Chấn của phòng trà Baccara thành lập vào đầu thập niên 70, nguyên thủy gồm có Tuyết Loan, Tuyết Hương và Tuyết Dung. Chỉ một thời gian thì Tuyết Loan rời khỏi ban và được thay thế bằng Vy Vân. Sau khi Ba Trái Táo chia tay mỗi người một ngả thì Vy Vân vẫn tiếp tục hoạt động độc lập cho đến khi rời khỏi Việt Nam vào năm 1975 cùng với con gái sau này là nữ ca sĩ Phi Phi. Chị Vy Vân hát bài Không cần nói yêu em (You Don’t Have To Say You Love Me), và bài I’ll Be There, Chuyện phim buồn (Sad Movie – lời Việt: Nguyễn Duy Biên), Cuộc tình thoáng bay (More – lời Việt: Kỳ Phát), tất cả đều thật tuyệt.
Là một băng nhạc mang sắc thái mới mẻ cho nhạc trẻ Việt Nam đầu thập niên 1970, bộ ba Vy Vân, Tuyết Hương và cô cháu Tuyết Dung đã được báo chí nhắc đến nhiều nhờ hình thức trình diễn sống động và nhịp nhàng cộng thêm lối trang phục đẹp mắt.
The Cat’s Trio (Ba Con Mèo) do ca sĩ Mỹ Hòa kết hợp với hai cô em ca sĩ Minh Tuyết là Uyên Ly và Kim Anh lập ra. Sau này Minh Xuân thay chỗ Mỹ Hòa. Cùng với Ba Trái Táo (The Aples Three) và Sao Xanh (The Blue Stars), Ba Con Mèo là một trong những ban hợp ca toàn nữ lừng lẫy một thời. Giọng hát của Minh Xuân và Minh Phúc là một trong những cặp song ca nổi tiếng trong làng nhạc trẻ Sài Gòn trước năm 1975.
Bluestar là ban nhạc nữ đầu tiên của Việt Nam dưới sự dẫn dắt của hai ông bà nhạc sĩ Nguyễn Ngọc và Huyền Nga. Thành viên của ban gồm có Minh Trang (tức Bích Câu, lead guitar, con ông bà nhạc sĩ Nguyễn Ngọc – Huyền Nga), Ngọc Lan (organ, cũng là con ông bà Nguyễn Ngọc – Huyền Nga), Ngọc Phượng (Bích Phượng, bass), hai chị em Tường Vân (trống) và Tường Nga (rhythm guitar), các ca sĩ Xuân Thu, Hồng Loan (em của Jo Marcel), Christiane Marbec (Christian Bê)... Sau này tăng cường thêm Bạch La (con nhạc sĩ Hoàng Trọng), Pauline Ngọc... Ban nhạc nổi tiếng khi hát ca khúc Tình xanh (Love Story – lời Việt: Phạm Duy) với tiếng hát Phương Mai. Trong ban nhạc có ca sĩ Pauline Ngọc sau này hát solo bài Cô bé dễ thương (La Petite Gamine) thật hay.
The Hammers gồm có: Vũ, Hòa, Thành, Nguyễn Trung Chánh, và ca sĩ Cathy Huệ -- sau đó là: Hòa, Thành, CH, thêm mấy người như Long bass, Long Richard. Ca sĩ Cathy Huệ với bài Yêu em bằng cả trái tim, Người yêu nếu ra đi... bằng chất giọng khỏe, hơi khàn và giọng rung mạnh mẽ, không thể lẫn. Như khi chị trình bày tuyệt vời bài Spanish Harlem (Mộng tình xưa – lời Việt: Nam Lộc). Chị hát nhạc trẻ cũng hay mà hát nhạc Việt cũng tuyệt vời không kém, như bài Nắng chiều (của Lê Trọng Nguyễn ) với điu rumba sôi động.
Thanh Lan thì nổi danh với Vắng bóng người yêu (Apres Toi – lời Việt: Phạm Duy), Ngày tân hôn (Oui! Devant Dieu – lời Việt: Phạm Duy), Khi xưa ta bé (Bang bang – lời Việt: Phạm Duy).
The Uptight và Khánh Hà, Anh Tú, Thúy Nga con bác Lữ Liên nổi lên với bài Tình ca cho em (Goodbye To Love), Em đã quên mùa thu. Ban Phượng Hoàng thì có hai tay guitar kiêm nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang và ca sĩ Elvis Phương với liên khúc: Tôi muốn - Yêu người yêu đời - Thương nhau ngày mưa. Tiền thân của Enterprise là Jetsets gồm: Vũ, Dũng, Trung Nghĩa, Kasim, Paul trống. Sau Trung Nghĩa tách ra lập lại với Kasim, Mạnh Tuấn, Lý Được, ca sĩ có Kim Oanh, rồi Thanh Tuyền về sau. Giọng ca Kasim chuyện trị dòng nhạc Santana, và còn nhiều ban nhạc khác nữa…
Phải nói học sinh Taberd ông nào ông nấy mê mẩn mấy bản tình ca ngoại quốc và lời Việt. Tụi tôi bắt đầu sưu tầm các hình ca sĩ hay ban nhạc nước ngoài từ các tạp chí như Salut Les Copains, Hit Parade… Khi Taberd tổ chức Đại hội Nhạc trẻ tại trường thì chiều chiều tôi hay đến trường chơi, để thấy mặt các ban nhạc và ca sĩ thần tượng đang ráo riết tập luyện.
Mỗi buổi biễu diễn phải có đến mấy chục ban nhạc thay phiên nhau chơi từ sáng cho tới 4g chiều mới chấm dứt. Sân trường được mấy cái dù vải to tướng che mát cho khán giả mà phần đông ngồi bệt trên mặt sân. Trên các dãy lầu hai bên sân cũng đặc kín học sinh Taberd mua vé vào xem, đến 7.000 người chứ ít đâu. Có hãng kem và nước ngọt Top tung mấy cô bán hàng xinh đẹp ra với trang phục thời trang, quần short trắng, giầy cao cổ và nón cao bồi cũng trắng, đeo bên hông cái bình đựng kem có in hình logo của hãng: chú vịt Donald và chữ Top to tổ bố.
Đến 4g chiều khi ban nhạc Mây Trắng với 5 ca sĩ chơi toàn đàn guitar thùng của ca sĩ Trung Hành, Tuấn Dũng, Cao Giảng, Trường bass và tay trống Thuận ra biểu diễn bài Đồng xanh, Lá xanh mùa hè để kết thúc chương trình Đại hội Nhạc trẻ Taberd là khán giả lục tục kéo nhau về.
Hồi đó trong trường rộ lên phong trào đi học nhạc. Tôi cũng thế, nhưng không học trường lớp nào cả. Nhà có cây guitar của Mỹ. Hồi đó mắc nhất là đàn Yamaha của Nhật, nhưng có cây đàn của Mỹ cũng tuyệt rồi. Ban đầu tôi đi mua cuốn Tự học Tây Ban Cầm của ông Hoàng Bửu về học, học mãi không hiểu vì lối viết của tác giả. Về sau có một cuốn khác có tựa Phương pháp tự học guitar của tác giả Nam Phong. Cuốn này soạn rất dễ hiểu và thế là tôi miệt mài mỗi buổi trưa đi học về, ăn cơm xong không thèm ngủ trưa xách đàn ra gẩy.
Ông anh tôi thì kỹ hơn, đi học ở trường lớp đàng hoàng, nên tôi hay mượn cuốn nhạc của ổng để học nốt trước. Được vài tháng thì không thấy ông chịu đi học đàn nữa, nhà còn mình tôi loay hoay học một mình. Khi đã học kha khá, tôi chuyển sang học hợp âm và có thể chơi được bản The House Of Rising Sun. Sau này khi đã đủ trình độ ôm đàn và ca hát, tôi hứng chí chuyển sang chơi classic, mày mò chơi được mỗi một bản Roman là tôi từ giã classic vì nó không dùng để đi cua đào được , vả lại phải tập cực quá. Nhờ biết đàn hát mà sau này tôi mới nhiều bồ. Nhớ một lần cùng với mấy thằng bạn Hướng đạo rủ nhau ra Vũng Tàu cắm trại. Đêm ấy trời sáng trăng, gió đêm thổi lồng lộn khiến tụi tôi thấy hứng bèn lôi đàn ra hát. Ngồi hướng ra biển tụi tôi say sưa hát, không để ý đến một nhóm con gái đang ngồi gần để nghe, tới chừng quay lại mới thấy bầy ... tiên nữ. Thì ra các cô đi cắm trại do nhà trường tổ chức gần đấy, đang buồn thì nghe tiếng nhạc văng vẳng mới làm gan mon men tới làm quen với mấy... ông tiên.
Đó là mùa hè cuối cùng thời hoa mộng.
3. Ban nhạc Phượng Hoàng và tôi
Cái tên ban nhạc Phượng Hoàng lần đầu tiên tôi được biết qua liên khúc Tôi muốn – Yêu người & Yêu đời năm 1972 ở sân trường Taberd trong buổi đại hội nhạc trẻ lần thứ hai.
Ban nhạc Phượng Hoàng
Trong ban nhạc Phượng Hoàng anh Elvis Phương là thần tượng của tôi. Vào cuối niên khóa năm 1972-1973 trong buổi lễ bế giảng năm học, trường có tổ chức buổi văn nghệ cho học sinh tham dự trước khi nghỉ hè, tình cờ tôi được nghe một bản nhạc rất hay với giai điệu slowly, nói về một cuộc tình trong những ngày mưa và được giới thiệu là của ban nhạc Phượng Hoàng, đó là bài Thương nhau ngày mưa. Bài này được hát bởi một bậc đàn anh lớp lớn trong trường, tuy giọng ca không chuyên nghiệp như Elvis Phương, nhưng các đàn anh Taberd hát cũng không thua kém gì.
Trong những năm sau, chiến tranh lan rộng khắp đất nước, tuổi trẻ chúng tôi sống trong âu lo cho tương lai. Những bản nhạc của ban Phượng Hoàng gợi lên đúng cái suy nghĩ và lối sống của tuổi trẻ thời bấy giờ. Giữa những ban nhạc rock của Sài Gòn và những bản nhạc hay của nước ngoài đã được Việt hóa, ban nhạc Phượng Hoàng cũng chơi pop/rock, nhưng những bản nhạc của họ hoàn toàn thuần túy VN. Lời nhạc của họ nhân bản hơn với những triết lý dành cho tuổi trẻ. Lời nhạc cũng không đẹp và lãng mạn như các bản nhạc tình khác. Có thể nói ban nhạc Phượng Hoàng là ban nhạc rock đầu tiên của VN, chỉ chơi với những bản nhạc do họ sáng tác. Đa số những ca khúc của họ rất dễ chơi với những đoạn dạo đầu hơi đơn giản, nên đa số thanh niên thời bấy giờ rất thích.
Khi cuốn Tuyển tập các ca khúc Phượng Hoàng 1 ra đời với những bản nhạc Một giấc mơ, Sống cho qua hôm nay, Lời người điên, Huyền thoại người con gái, Mặt trời đen… của hai nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà, cùng với tiếng hát và chất giọng tenor cao vút của ca sĩ Elvis Phương, giới trẻ hoan nghênh và nồng nhiệt đón nhận. Cả hai đã là người tiên phong cho nhạc trẻ liên khúc lúc ấy, sau này thì âm nhạc ở hải ngoại cũng theo lối hát liên khúc này.
Khác với Lê Hựu Hà, những sáng tác của Nguyễn Trung Cang có phần bi quan hơn, nếu không muốn nói là đôi khi hơi phiêu bồng và ma quái với những Phiên khúc mùa đông, Đêm dài, Mặt trời đen… như chính cuộc đời anh. Lê Hựu Hà thì tươi sáng hơn với Yêu em, Huyền thoại người con gái...
Ban nhạc Phượng Hoàng gồm tay trống Trung Vinh (cựu học sinh Taberd), bass Khiêm (cựu học sinh Taberd), dreams guitar Lê Hựu Hà, lead guitar Nguyễn Trung Cang, ca sĩ Elvis Phương.
4. Nhịp sống trẻ giữa chiến tranh
Hồi còn học Taberd, nhờ đám bạn cũng mê nhạc ngoại quốc nên tụi tôi cũng cùng gu và trao đổi các album nhạc hay các tạp chí âm nhạc với nhau.
Đa số tụi tôi rất ưa nghe những bản tình ca thời thượng của các dòng nhạc Mỹ, Pháp, Việt hóa hai lời. Ngày ấy tôi rất thích những tạp chí có hình các ban nhạc, ca sĩ mình yêu thích như: Salut Les Copains, Elle, Mademoiselle A Tendre của Pháp, Hit Parade, Bill Board của Mỹ. Có những cuốn sách nhạc Hit Parade Mỹ nhỏ bằng cuốn sổ tay hay bằng cuốn truyện Tuổi Hoa, được xuất bản tại Hong Kong với nhiều bản nhạc mới nhất trong tháng hay trong năm, có ghi lời và cả nốt nhạc và âm điệu để ai thích nhạc thì có thể sưu tầm và chơi theo. Thích nhất là các tấm post in hình các ca sĩ mà mình thần tượng. Được nhìn dung nhan những thần tượng của mình thật là thích, lâu lâu có một tấm poster lớn in hình Christophe, Art Sullivan, CCR… treo tường trong phòng thì còn gì tuyệt hơn.
Nếu nhà mà có dàn máy Teac quay được hai chiều, cặp loa Mỹ to đùng và cao, và cái ampli SanSui đời QX 9900 mới ra lò thì hạnh phúc giăng đầy trời. Chuyên nghiệp hơn thì có thêm dàn loa 6 cái, với âm thanh chạy vòng vòng thì đúng là... Thiên đường. Thời đó có những trung tâm thâu băng nổi tiếng ở Sài Gòn, như kios Trịnh Quan, Liên Hoa trên đường Nguyễn Huệ, chuyển sang băng nhạc với những bản nhạc nước ngoài bằng chất lượng tuyệt hảo. Nơi đây toàn tuyển chọn những bài mới nhất và hay nhất. Như cuối năm 1974, tôi đi thâu được hai bản mới nhất là bản Billy Don’t Be A Hero và The Night Chicago Died, cả hai bản này cùng do ban nhạc Paper Lace trình bày, được vài tháng là Sài Gòn “đứt phim”.
Còn muốn nghe băng nhạc trẻ Việt hóa bằng băng gốc thì đến Trung tâm Phát hành Băng nhạc Nguồn Sống, Khai Sáng nằm trên đường Lê Lợi gần nhà sách Khai Trí và vũ trường Queenbee. Nơi đây cũng bán đầy đủ các bản nhạc được in ra cùng với băng nhạc Akai hay băng cassette rất đa dạng, toàn băng hay và có chủ đề riêng.
Hồi đó đã có những cuốn băng với tên Anna, Hồn hoang của nhạc sĩ Quốc Dũng, Shotgun của nhạc sĩ Ngọc Chánh, Hit Parade phát hành từng chủ đề từ số 1 cho đến 30.4.1975 mới ngưng. Tất cả những chủ đề được sắp xếp và những bản nhạc hay mới ra lò đều được bình chọn từ Hongkong, nơi có thể nói sành nhạc trẻ đứng đầu châu Á.
Sài Gòn đang trong chiến tranh, nhưng dân Taberd con nhà khá giả vẫn theo nhịp sống trẻ với những giọng hát mới mẻ đầy quyến rũ, của Terry Jack, Lobo, Beegees Michael Jackson... và không gì hơn Killing me softly with his song của cô ca sĩ da đen Roberta Flack, Beautiful Sunday của Daniel Boone...
Nhạc Pháp thì ngoài một Christophe quen thuộc ngày nào, nay lại có thêm Art Sullivan với Sans Toi, Donne Donne Moi, Une Larme D’amour. Thêm một France Gall nhí nhảnh với bài Poupee de Cire, Poupee de
Son… Ngoài ra còn được nghe thêm những bản nhạc Việt hóa, tất cả đều hay và đáng nhớ. Như bài Tell Laura I love Her được dịch ra là “Trưng Vương khung cửa mùa thu” của Nam Lộc, tuy chẳng dính dáng gì đến nội dung chính của bản nhạc, nhưng rất được ưa chuộng lúc ấy.
Những bản nhạc như Anh đã quên mùa thu, Người tình đẹp xinh xinh (Tùng
Giang) với giọng ca Khánh Hà, Biết đến thuở nào (Tùng Giang), Tuổi thần tiên, Tuổi ngọc... do Duy Quang và Thái
Hiền hát; Khi xưa ta bé, Vắng bóng người yêu của giọng ca Thanh Lan, và nhiều lắm những bài hát đã đi vào hồn tôi, bằng những kỷ niệm chở đầy êm ái và thơ mộng. Không hiểu sao những ngôn từ khi ấy trong các bản nhạc Việt hóa lại quyến rũ và làm mê mẩn giới trẻ Sài Gòn như thế. Cho đến tận sau này khó mà tìm lại được những ca từ nồng nàn và lãng mạn như thế. Sau này dù có bươn chải mưu sinh, tôi vẫn còn được nghe những dòng âm nhạc của ngày xa xưa ấy, từ băng đĩa CD và trên You Tube. Nơi đây bạn có thể tìm lại được giai điệu thân quen của những ngày xa xưa đẹp và mơ mộng, dù chỉ còn là những âm hưởng để hoài niệm mỗi khi nhớ đến. Âm nhạc vẫn cứ ra đời và trôi theo thời gian, một thứ âm nhạc sống mãi và không chết trong lòng thế hệ thanh niên tụi tôi.
5. Sống sót sau giông bão
Sau những lần bị thu gom những sách báo "văn hóa nô dịch của nước ngoài", tôi phải cắn răng đốt đi những cuốn tạp chí về âm nhạc mà tôi đã cất công sưu tầm, cả tạp chí Pháp cho đến tạp chí Nhạc trẻ, Hồng của Trường Kỳ.
Nhưng sống chết gì tôi cũng phải giữ lại cái gia tài gồm 150 cuốn băng Akai của mình. Giữ lấy vì tiếc công lao bấy lâu sưu tầm, và còn có những kỷ niệm của tôi trong những bản nhạc trong này nữa. Như có lần bị bồ đá, ngồi buồn một mình trong quán Caféteria Rex, tôi chợt nghe bài: Hai khía cạnh cuộc đời – lời Việt của Phạm Duy (Both Side Now) do chị Julie
Quang và ban Dreamers trình bày, cả bài Vắng nàng (Sans Elle) rất hay nữa. Hay mỗi lần đi ciné với em, tôi lại nhớ tới bài Chuyện phim buồn – lời Việt của Nguyễn Duy Biên (Sad Movie) do chị Vy Vân hát, mà thầm mong mình đừng gặp cảnh éo le như trong phim.
Nhóm The Dreamers (Duy Quang ngoài cùng bên phải) cùng nhạc sĩ Phạm Duy trên sân khấu Sài Gòn.
Các quán nhạc sau 30.4.1975 đều không được phát những bản nhạc Việt hay ngoại quốc ngày trước, chỉ được phép phát nhạc cách mạng hay nhạc hòa tấu không lời các nước. Những năm đầu sau 1975 tai tôi tập làm quen với điệu march, điệu fox, fox trot thay vì những âm thanh êm dịu của điệu slow, valse, boston, sôi nổi của chachacha, soul, be
bop... Và do đó những cuốn băng của tôi chỉ được nghe nho nhỏ ở trong nhà. Vì vậy tôi lại càng phải giữ những cuốn băng này cho riêng mình, vì có thể không còn được thấy lại nữa.
Julie Quang và Duy Quang một thời được xem là một cặp đôi vàng của làng nhạc trẻ Sài Gòn.
Cuộc sống của những năm 1980 đầy khó khăn, thế là tôi phải đứt ruột đem những cuốn băng nhạc đi bán ở các tiệm cà phê để kiếm tiền trang trải cuộc sống. Nếu đem bán ở chợ trời thì rẻ lắm,vì không hiểu sao ngoài chợ trời họ bán đầy những cuốn băng nhạc như vậy. Cứ vài ngày, tôi xách vài cuốn đi chào hàng ở các quán cà phê. Và 150 cuốn băng của tôi rồi cũng bán hết, giúp tôi phần nào trong cuộc sống rất khó khăn ngày ấy.
Và rồi những băng nhạc hòa tấu của Paul Mauriat, Frank
Pourcel ngày nào bây giờ được lên ngôi, những bản Mamy Blue, Je T’aime moi
non plus, Love Story, Romeo&Juliette...
cũng được phép mở công khai trong các quán cà phê, mà hồi đó gọi là “nhạc nhẹ các nước”. Cứ 10 giờ tối mở đài FM trên đài phát thanh trong chương trình nhạc nhẹ các nước là tha hồ thưởng thức, cũng đỡ buồn. Nhưng không còn những cảm xúc như ngày xưa, thật lạ.
6. Hồi sinh
Dân Sài Gòn thật tài tình, không biết họ lấy từ đâu mà in những bản nhạc cũ và kể cả những bản nhạc mới ra thành những tờ giấy in bằng mực ronéo lem luốc, bày bán công khai trên lề đường Lê Lợi...
Họ in đủ loại, nhạc VN có nhạc ngoại quốc mới nhất cũng có, nhưng không hiểu ai dịch những bản nhạc này ra tiếng Việt, lời dịch đã không hay mà lời Anh, Pháp sai bét nhè luôn. Vậy mà đám trẻ tuổi ngày ấy như tôi bu vào chọn lựa và mua đông lắm. Mua về để mà chép vào cuốn sổ, để sưu tầm, và cũng để hát trong nhà một mình. Rồi dần dần xuất hiện những cuốn băng cassette chỉ chừng 45 phút, gồm 10 bài nhạc xưa cũ, nhạc ngoại quốc đủ loại, tất cả nghe nói được mấy người đi buôn lậu mang về từ Thái Lan, Trung Quốc. Và cũng bắt đầu thị trường máy cassette và băng nhạc được bày bán.
Thường thì những gì đã mất thật quý và nhớ mãi. Cứ ngỡ như mình sẽ không được nghe lại những tình khúc xưa của một thời, thế mà tất cả lại lục tục quay về. Hình như tất cả những bài nhạc ấy đối với tôi đều có hồn, nó nói lên đúng những tâm trạng mà tôi đang trải qua. Nó làm cho tôi sống lại những ngày tháng, những kỷ niệm xưa thật đẹp.
Có một thời dân yêu nhạc Sài Gòn bỗng được nghe một bài nhạc đã cũ, vào quán cà phê nào cũng đều nghe cái điệu be bop rộn rã và intro mở đầu quá quen thuộc. Đó là bài Papa do Paul Anka hát,
phải một thời gian dài sau mới bị che lấp bởi Boney M, Abba… Ban Boney M gồm ba cô nàng da đen Liz Michell, Sheyla
Bonnick, Marcia Barrett và anh chàng hay nhảy ưỡn ẹo phụ họa Reggie Tsiboe. Được giới thiệu là ban nhạc của Đức, ban này trình diễn toàn những bài phản chiến, nên được phép cho chiếu băng video cassette có bán vé tại các câu lạc bộ.
Gọi “rạp chiếu phim” cho vui thôi chứ đó chỉ là những căn phòng giống như mượn của nhà trường nào đó. Một cái bàn trên để cái TV màu 14 hay 16 inch, một đầu chiếu video, thế là thu tiền bán vé, khán giả được thưởng thức những ban nhạc thần tượng của mình mà có lúc chỉ nghe tiếng qua băng cassette. Ai nấy say sưa thưởng thức những ban nhạc mới nổi từ thập niên 1980. Về sau còn có thêm các nhóm nhạc mới toanh như Abba, một ban nhạc pop Thụy Điển. Tên của ban nhạc do tập hợp các chữ đầu tên của bốn thành viên tạo thành: Agnetha Fältskog, Björn Ulvaeus, Benny
Andersson và Anni-Frid Lyngstad. Ban này ra mắt năm 1974 tại giải Eurovision 74 nhưng dân sành nhạc ở Việt Nam chưa kịp nghe.
Ban nhạc Abba.
Trong những năm đó các ban Boney M và Abba luôn được mở liên tục tại các quán cà phê. Kể cả vào những dịp lễ, tết nhà nào cũng mở Boney M và Abba, và bài Happy New Year (1980)
của Abba trở thành nhạc nền của đài Truyền hình TP.HCM, năm nào cũng được phát vào đúng đêm giao thừa, từ giữa thập niên 1990 kéo dài cho đến tận năm 2000.
Boney M thì điệu disco luôn rộn ràng vui tươi với ba tiếng hát trong trẻo cao vút. Ngày ấy ngồi trong quán cà phê tôi thấy các ông cứ lắc mình theo nhịp trống thật là vui. Âm điệu vui tươi của nó giúp người nghe quên đi cái cuộc sống đang khó khăn từng ngày. Trái lại nhạc Abba mang một phong thái sang trọng hơn, đa dạng và cuốn hút người nghe. Chỉ với hai giọng ca, một của Agnetha Fältskog tóc vàng với giọng tenor sang trọng và một của Agnetha Fältskog tóc đen với chất giọng trầm quyện vào nhau, đủ khiến người nghe mê mẩn. Nhưng nhạc của Abba phảng phất buồn cả trên nền nhạc có tiết tấu nhanh như: Dancing Queen (1978), Fernando, I have a Dream(1979), Voulez
– vous (1979), Super Trouper (1980), Chiquitita (1979)
và bài Happy New Year (1980) bất hủ. Thật đáng tiếc là ban nhạc tan rã vào năm 1983, để lại trong lòng khán giả khắp thế giới một sự tiếc nuối.
Đây có thể nói là hai ban nhạc gây ấn tượng nhất đối với những người yêu nhạc của Sài Gòn từ sau 30.4.1975. Dù sau này họ nghe lại rất trễ và thiếu thông tin về nhạc trẻ quốc tế, họ vẫn đón nhận đầy đủ không sót bài nào.
Ban nhạc rock Eagles (ảnh trên) và ca khúc Hotel California biểu diễn năm 1977.
Về sau còn có Eagles là ban nhạc rock của Mỹ, thành lập tại Los Angeles, tiểu bang California vào đầu thập niên 1970. Với năm đĩa đơn và bốn album dành vị trí số một, Eagles là một trong các nghệ sĩ ghi âm thành công nhất của thập niên 1970. Các thành viên: Don Henley, Glenn
Frey, Joe Walsh, Don Felder, Randy Meisner, Timothy B. Schmit, Bernie Leadon, tôi đã nghe từ trước 30.4 với bài Take It Easy (1972). Nhưng từ khi bản Hotel California ra đời vào ngày 8.12.1976 thì đúng là một cơn sốt, nhất là cái intro của nó. Bài Super Trouble (1980)
của Abba cũng có intro nghe rất hay, dập dồn như khúc dạo đầu của bài Final Counldown của ban Europe (1986). Europe là một ban nhạc hard rock Thụy Điển, thành phần gồm Joey Tempest, John Norum, Kjell Hilding Lövbom, vui nhất là ca sĩ Joey Tempest khi đang hát thường cầm nguyên cái cây micro múa may, vài ban nhạc ở VN bắt chước lối hát này của anh.
Ban Bee Gees của ba anh em người Úc gốc Anh gồm Barry, Robin và Maurice Gibb.
Phải nói là dòng nhạc thập niên 1980 - 1990 rất phong phú. Giới trẻ ở Sài Gòn sành điệu và nắm bắt giai điệu của âm nhạc quốc tế rất mau lẹ. Ban Bee Gees của ba anh em người Úc gốc Anh gồm Barry, Robin và Maurice Gibb thì không lạ lẫm rồi, nhưng từ khi họ đổi giọng hát bằng mũi để trình bày những bản nhạc theo nói disco, new wave như Stay in Alive (1977), Night Fever (1977)... thì tôi thấy không “phê” bằng những dòng nhạc lãng mạn khi xưa của họ. Smokie thật hay với giọng khàn khàn của Chris Norman với bài Layback In The Arms Of Someone và bài Might Lady. Modern Talking là một ban nhạc pop của Đức gồm hai thành viên là nhạc sĩ kiêm ông bầu, ca sĩ hát nền Dieter Bohlen và ca sĩ chính Thomas Anders, nghe chán phèo với những điệu disco đều đều như You’re My Heart -You’re
My soul, Cherie Cherie Lady. Wham
là ban nhạc Anh với ca sỹ chính là George Michael với bài Careless Whisper và Last
Christmas buồn thảm. Michael Learns To Rock là một ban nhạc nổi tiếng Đan Mạch với các ca khúc bằng tiếng Anh. Ban nhạc này thành lập năm 1988 và đã bán được hơn 9 triệu album, chủ yếu là tại châu Á. Thành phần gồm ca sĩ chính Jascha Richter, Mikkel Lentz, Kåre Wanscher, Søren Madsen. Với những bản nhạc nhẹ nhàng nhưng nghe cũng rất “phê” như That's Why, Paint My Love…
Backstreet Boys là một ban nhạc Hoa Kỳ từng được đề cử giải Grammy. Lần trình diễn đầu tiên của nhóm là vào tháng 7.1997. Hiện tại nhóm có bốn thành viên là Nick Carter, Howie
Dorough, Brian Littrell, và A. J. McLean. Một thành viên chính thức là Kevin Richardson đã rời nhóm vào ngày 23.6.2006, nhưng bốn thành viên còn lại vẫn quyết định quay trở lại với ca hát. Họ chơi bản As Long As You Love Me mà một thời dân nghe nhạc ở Sài Gòn rất khoái. Westlife được thành lập vào gần cuối thập niên 1990 gồm 5 chàng trai trẻ: Shane Filan, Mark
Feehily, Nicky Byrne, Kian Egan, Brian McFadden. Họ hát hai bản nhạc cũ là Season In The Sun của Terry Jack và bản I Have Dream của Abba thật là tuyệt vời…
Đó là những ban nhạc tiêu biểu của một thời. Ngoài ra còn nhiều giọng hát đơn lẻ của các ca sĩ nữa. Ta còn gặp lại anh em nhà Carpenter là một ban nhạc do hai anh em nhà Carpenter thành lập, đó là Karen và Richard Carpenter. Bài Only Yesterday thật nhẹ nhàng và đúng chất giọng sang trọng của Karen. Nhưng tiếc thay Karen lại mất sớm vì căn bệnh chán ăn.
Karen Anne Carpenter (sinh ngày 2.3.1950 - mất
4.2.1983) là một ca sĩ và tay trống người Mỹ, là một thành viên của ban nhạc The Carpenters gồm cô và anh trai tên Richard Carpenter. Cô bị chứng biếng ăn tâm thần, rối loạn ăn uống, một căn bệnh ít được biết đến vào thời điểm đó và cô qua đời ở tuổi 32.
7. Cảm ơn âm nhạc
Cám ơn âm nhạc đã giúp cho cuộc sống này thêm tươi đẹp cả lúc vui, khi buồn, những lúc hạnh phúc và đau khổ, những lúc lãng đãng như mây trời hay những lúc quỵ té trên đường đời của một kiếp người...
Một Madona mới nổi với bài Like A Virgin (1984), Barbara Streisand với bài Woman In Love (1980), Donna Summer cuồng nhiệt với bài Hot Stuff (1979), A Feel Love (1977), Laura
Branigan với bài Self Control (1984), Anne Murray với bản You Needed Me (1978)
nhẹ nhàng mà buồn thảm. Michael Jackson thì khỏi nói, lên ngôi vua nhạc pop nước Mỹ với các album Thriller, Bad... và nhất là hai bài do chính anh sáng tác, quy tụ nhiều giọng ca nổi tiếng của thế giới để hát hợp xướng thật độc đáo và hay: We Are World và Heal
The World trong chương trình quyên góp cho châu Phi. Sau này có một album mang chủ đề Euro Remix chuyên cover lại các bài hát nổi tiếng với âm điệu của vũ trường mà giới trẻ rất thích như I Can’t Help Falling In
Love sôi động với giọng ca Jessica Jay, Yesterday Once More với Quantize Feat, Everything I Do I Do It For You với Astaire, Without You với Sheena Rayder…
Hình ảnh thời trẻ của Michael Jackson, vua nhạc pop.
Gặp lại Olivia Newton John
(sinh ngày 26.9.1948, Cambridge, Anh), cô ca sĩ một thời tái xuất với bài Jolene (1976). Về sau có một giọng ca vàng thánh thót của cô ca sĩ gốc Pháp nhưng chuyên hát tiếng Anh, đó là Cecile Dion với hai bài tiêu biểu: Power Of Love và Titanic vào
cuối thập niên 1990 và sang cả năm 2000…Và còn nhiều lắm những giọng ca vàng của các nước mà nhiều nhất là Mỹ.
Đó là dòng nhạc tiếng Anh, còn dòng nhạc Pháp trong các thập niên 1970-1980-1990 cũng hay không kém. Vừa được nghe lại những ca khúc trước 1975, vừa nghe thêm những dòng nhạc Pháp sau này thật hay như J.Dassin với bài À Toi, một C.Jerome với bài C’est Moi. Ensemble với giọng ca mượt mà của Art Sullivan, Quelque Chose Dans Mon
Coeur với Elsa. Giọng ca run rẩy nhẹ nhàng của Demi Roussos với hai bài From Souvenir to Souvenir và Goodbye Love Goodbye. Một Vanessa Paradise dễ thương với bài Joe Le Taxi. Nổi nhất là giọng ca Julio Iglesias, chàng ca sĩ người Tây Ban Nha với lối trình bày ca khúc bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh, một cách hết mình với giọng ca sang trọng như Hey, When I Need You.
Riêng phần ca nhạc Việt Nam từ hải ngoại cũng phong phú không kém. Có những bản nhạc sến mà ngày xưa tôi không thích nghe, nhưng chắc có lẽ vì tâm tư hiện tại có những tâm sự buồn nên khi nghe lại những bản nhạc ấy, tôi lại thấy nó diễn tả đúng tâm trạng của mình. Nhạc hải ngoại thường được chia ra từng chủ đề, từng ca sĩ và tác phẩm rất đa dạng. Nhạc sĩ Phạm Duy vẫn tiếp tục cho ra những tác phẩm hay được sáng tác ở hải ngoại như Tâm sự gởi về đâu, Kỷ niệm... Sau đó là người sáng tác khá nhiều bài hay để đời, đó là ca sĩ nhạc trẻ Đức Huy khi xưa.
Nhạc sĩ Đức Huy. Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Đức Huy vừa là ca sĩ vừa sáng tác nhạc, anh đã nổi tiếng với bài Bay đi cánh chim biển, hay bài Hoang
vu, Thoáng mây bay, xuất hiện vào năm 1975 mà tôi có dịp nghe trong một cuốn băng chủ đề tình ca nhạc trẻ. Còn nhiều bài hay nữa trong các album của anh như Phố nhỏ, Như đã dấu yêu… Một Trung Hành mà ngày xưa chơi ở ban Mây Trắng với bài Đồng xanh, Lá xanh mùa hè ở Taberd năm 1972, vẫn giọng hát khàn khàn trong những bài nhạc trẻ Việt hóa khi xưa. Nhất là giọng ca mượt mà và trữ tình của Ngọc Lan đầu những năm 1990. Tiếng hát Ngọc Lan nhẹ nhàng và sang trọng đã làm bao người mê mẩn. Rất tiếc là chị đã qua đời khi còn trẻ.
Nhiều lắm kể sao cho hết, cũng may là âm nhạc được sống dậy y như ngày xưa mà không chừng còn phong phú hơn. Phải công nhận kỹ thuật âm thanh phối khí ở nước ngoài đã đạt trình độ vượt bậc, khiến khi nghe lại các bài nhạc khi xưa được thể hiện lại với những giọng ca tên tuổi cũ và mới, người nghe thấy hay hơn, hiện đại hơn.
Vào năm 1995 khi chiếc đĩa CD đầu tiên có mặt ở Việt Nam, và những đầu máy hát đĩa CD được phổ biến và bán rộng rãi, dân mê nhạc được thưởng thức âm thanh tuyệt hảo của nó. Băng video cassette xem phim cũng như băng cassette nghe nhạc, từ từ lui dần để nhường chỗ cho công nghệ nghe nhạc tân tiến và gọn nhẹ.
Ngày ấy tôi cũng như nhiều người yêu âm nhạc, hễ có tiền là đi kiếm những cái đĩa yêu thích, cứ thế tích tụ dần, có khi lên cả mấy trăm đĩa, giống như khi xưa tôi sưu tầm băng Akai vậy, chỉ có khác là cái ngày xưa tôi còn trẻ, sôi nổi và hồn nhiên. Còn bây giờ, sau khi trôi nổi qua nhiều bể dâu trong cuộc sống, tôi nghe nhạc với tâm trạng rất khác xưa, cũng như cảm nhận sâu sắc hơn những ưu tư, đau khổ, thương nhớ, vui sướng... mà các nhạc sĩ đã gởi lòng vào đấy.
Thôi thì mượn lời của ban Doobie Brother ngày xưa với Listen The Music để xin cám ơn âm nhạc đã giúp cho cuộc sống này thêm tươi đẹp cả lúc vui, khi buồn, những lúc hạnh phúc và đau khổ, những lúc lãng đãng như mây trời hay những lúc quỵ té trên đường đời của một kiếp người.
Vũ Văn Chính
https://taberd.org/det/vu_van_chinh/
https://taberd.org/sang_tac/cam_xuc_13.html
https://taberd.org/sang_tac/cam_xuc_14.html
Dear readers,
The following is a pinned post. Hoctro's Place (Góc Học Trò) is a place for me to deliver my past, present, and future thoughts about music and about my "vibe-coding" experiences with Claude Code, tips and tricks, so to speak. It's also a place to post my collaboration with Claude Code, ranging from supervising it to write analysis essays about prominent Vietnamese musicians such as Phạm Duy and Trịnh Công Sơn, to everything else that I find interesting.
For me, Claude AI's analysis essays are so in-depth and showing many new perspectives, it would be wasteful not to share with the world. It is a collaboration, because just like "vibe-coding", I might have not written the words, but I was the one whom conceived the original ideas, supplied the documents for Claude to research from, read and corrected hallucinations, and gave final approval for it to be published.
I sometimes print transcripts of interesting videos from other places, in order to share with others whom are more comfortable in reading and thinking things through. I don't have adsense as a side source income, so again if anything it's just helping the original video owners to gain more potential viewers, and readers to have readable material to learn.
Bạn đọc thân ái,
Sau đây là vài dòng tự sự. Hoctro's Place (Góc Học Trò) là chỗ để tôi chia sẻ những suy nghĩ của mình về âm nhạc và về những trải nghiệm "vibe-coding" với Claude Code, mấy mẹo hay ho mà tôi học được. Đây cũng là chỗ để tôi đăng những bài làm chung với Claude Code, từ việc tôi hướng dẫn nó viết bài phân tích về những nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng như Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, cho tới đủ thứ khác mà tôi thấy hay.
Với tôi, những bài phân tích của Claude AI rất sâu sắc, chỉ ra nhiều góc nhìn mới, không chia sẻ với bạn đọc thì rất uổng phí. Nói là làm chung, bởi vì giống như "vibe-coding" vậy đó, tôi có thể không phải là người viết ra từng chữ, nhưng tôi là người nghĩ ra ý tưởng ban đầu, cung cấp tài liệu cho Claude nghiên cứu, đọc lại rồi sửa mấy chỗ nó viết sai, và quyết định cuối cùng có đăng hay không.
Thỉnh thoảng tôi cũng in lại nội dung mấy video hay từ chỗ khác, để chia sẻ cho những bạn nào thích đọc và suy ngẫm hơn là coi video. Tôi không có chạy quảng cáo kiếm tiền gì hết, nên nếu có gì thì cũng chỉ là giúp mấy chủ video gốc có thêm người xem, và giúp bạn đọc có thêm tài liệu để học thôi. Chào bạn và mong bạn tìm thấy những khoảnh khắc vui khi đọc trang này.












