Mời bạn đọc theo dõi "Featured Post":

Giáo Sư Đào Mộng Nam: Truyện Kiều Và Chữ Nho

8.27.2026

GS Nguyễn Đình-Hoà: Kiếm điểm những công trình nghiên cứu chữ Nôm

Nguồn: Văn Học Nghệ Thuật, số 7, trang 814–827


\

Nguyễn Đình-Hoà

Bài tham luận này, tác giả trình bày bằng tiếng Anh tại Hội Nghị Quốc-Tế lần thứ 12 về Ngôn-ngữ-học Hán-Tạng, họp ở trường Cao Đẳng Sư Phạm của Pháp tại Paris, từ 19 đến 21 tháng 10 năm 1979. Tòa báo đã nhờ Giáo Sư Nguyễn Đình Hòa cập-nhật-hóa cả phần nội-dung lẫn phần thư-tịch để cống hiến độc giả Văn Học Nghệ Thuật.

1. Chữ Nôm (nôm < nam)

là thứ văn tự của riêng người Việt đã được dùng trong văn học cho mãi đến những thập-kỉ đầu của thế kỉ này. Khi cả chữ Hán lẫn chữ nôm bị nhà cầm quyền thực dân Pháp thay thế bằng chữ quốc ngữ trong việc học, việc thi, thì chữ nôm đi dần vào lãng quên: chỉ những ai muốn truy nguyên và khảo cứu văn bản những tác phẩm văn học dân gian thì mới để tâm tìm hiểu. Bài viết này kiểm điểm những công trình nghiên cứu về nguồn gốc, tính chất và tiến trình của thứ chữ vô cùng độc đáo của ông cha ta đặt ra và dùng song song với chữ Hán trong những sáng tác văn chương, rồi lúc sau dùng song song với chữ quốc ngữ và chữ Pháp trong các chứng từ hành chính (sinh, tử, giá thú, văn tự, khế ước, v.v...).

Trong cuốn Tự vị Nôm (Tài liệu khảo cứu và học tập tại trường Đại Học Văn Khoa Sàigòn, 1970), hai vị đồng tác giả là Vũ Văn kính và Nguyễn Văn Khánh nêu hai "nguyên nhân đã tác động người Việt sáng chế" ra chữ nôm, là nguyên nhân hành chính và tôn giáo (tr. 3-4). Về phương diện hành chính, hai ông nói rằng trong thời kỳ Bắc thuộc, tuy các văn kiện về hành chính đều dùng chữ Hán, nhưng có những tên làng, tên xã, tên tổng, tên người mà chữ Hán "không có chữ có âm Việt-Hán đúng": Ví dụ, làng Bùng, làng Bưởi, tên người như Cu, , Đểu, v.v... Trong trường hợp đó, "người xưa đã dùng chữ Hán có âm tương tự, rồi thêm một cái nháy, thường gọi là nháy cá, để đọc khác với âm Việt-Hán, và đúng với âm cần ghi trong văn kiện". Còn như về địa hạt tôn giáo, thì "các giáo sư (thày thống) mỗi khi viết sớ, tấu, có tên người mà tên người đó lại cũng không có chữ Hán có âm đúng tên người cần ghi trong tờ sớ": ví dụ, tên En, Kỉnh, Khệnh, Khạng, Uốn, Cuốn, Lưỡi, Mồm, v.v... thì "vị pháp sư đó phải lấy một chữ Hán có âm Việt-Hán tương tự, rồi thêm vào một cái nháy, hoặc thêm vào chữ Hán đó một chữ khác, hay một phần chữ khác có ý gợi ý đúng ý của âm đó để lúc đọc cho tiện, v.v..." (trang 3). Hai ông viết tiếp trong phần "Vài nét sơ lược về chữ Nôm" rằng "sau đó, các văn gia thi sĩ thấy có vẻ hay và tiện cho việc làm văn Nôm, nên thêm-thất và biến-chế dần thành chữ Nôm như ngày nay" (trang 4) và ta có thể kết luận rằng "chữ Nôm không do một người nào là sáng-tác-viên mà do nhiều người, nhiều thời kỳ tu bổ dần mà thành" (trang 4).

2. Về nguồn gốc chữ nôm.

Nhu cầu về một thứ văn tự riêng của mình sau khi Việt Nam tranh thủ được độc lập khỏi tay người Hán vào năm 939 là một nhu cầu rõ rệt, nhưng về niên đại về sự chế tác ra chữ Nôm của người Nam ta thì các học giả đã không đồng ý hoàn toàn và đã đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc chữ Nôm.

Trước hết, về danh xưng: nhiều học giả (ví dụ Wang Li tức Vương Lực — mà chúng tôi được hân hạnh giáp mặt tại Đại học Bắc Kinh mùa thu năm 1982) định nghĩa rằng chữ Nôm là chữ của người Nam, người Việt Nam, và vài dịch giả, trong số đó có chúng tôi, dùng tính từ southern để chỉ thứ văn tự (script) đó, kèm theo tính từ demotic nghĩa là "của dân gian". Giáo sư Nguyễn Khắc Kham thì định nghĩa từ nôm như trong Việt Nam Tự Điển (Hanoi: Khai trí Tiến đức, 1931) là "tiếng nói thông thường của dân Việt Nam đối với chữ nho" (trang 370), nghĩa là gồm cả hai nghĩa Việt Nam và nôm na, nghĩa sau này thường được dịch là vulgar, colloquial.

2.1 Thuyết Sĩ Nhiếp.

Văn-đa Cư-sĩ, tức Nguyễn Văn San (1848-1883), trong sách Đại Nam Quốc-ngữ, có viết: "Nước ta, từ khi Sĩ Vương đem (tiếng Nam) dịch bằng tiếng Bắc, trong số các tiếng dịch ấy, có nhiều tên còn chưa rõ, như thư-cưu, không biết là con chim gì, dương đào, không biết là quả cây gì. Những chữ loại ấy rất nhiều. Sách này (đem các từ ngữ) chưa bằng tiếng Việt, may ra có thể đủ để tra cứu; hoặc có chữ nào dễ thì cũng không cần chua" (Ngã quốc, tự Sĩ vương dịch dĩ Bắc âm, kỳ gian bách vật do vị tường chí, như thư-cưu bất tri hà điểu, dương-đào bất tri hà mộc. Thử loại thậm đa. Thị thư chú dĩ quốc-âm, thứ đắc bị khảo; hoặc hữu dị tri giả, diệc bất tất chú). Sách ĐNQN là một loại tự-điển Hán-Việt soạn vào khoảng 1880: dưới 50 đề mục, mỗi từ-ngữ chữ Hán được cắt nghĩa bằng một chữ Nôm, ví-dụ "thiên" trời; "nhật" mặt trời; v.v...

Trong bài khảo cứu "Lược khảo về nguồn gốc chữ Nôm" (Nghiên cứu Lịch sử số 127, tháng 10, 1969, trang 7-25), cụ Trần Văn Giáp có viết: "chữ Nôm của ta đã xuất hiện dưới một hình thức nào, từ cuối đời Hán Linh Đế, vào khoảng cuối thế kỷ thứ II sau công nguyên. Những người Hán thời đó lấy chữ Hán phiên âm tiếng Việt Nam. Trước hết, họ làm như thế để học tiếng Việt, tiện cho việc thống trị áp bức. Sau nữa để dạy người Việt Nam học chữ Hán, hiểu nghĩa chữ Hán, thông suốt ý muốn của họ, cũng chỉ là giúp cho việc truyền bá Hán học, tuyên truyền tư tưởng phong kiến.... Rồi từ đó, những người Việt Nam bị trị ấy, do trí tuệ thông suốt, nẩy ra sáng kiến, thu tập những chữ đã học được ấy lại, theo đó đặt thêm một số chữ gọi là chữ Nôm". (trang 18).

Tuy nói đến việc Sĩ Nhiếp được tôn là "Nam-giao Học tổ" nghĩa là 'người đầu tiên dạy học chữ Hán ở Nam giao' nhưng cụ Trần Văn Giáp cũng đã thận trọng nói rằng "ít ra Sĩ Nhiếp là người đầu tiên đã ủng hộ và khuyến khích việc dạy chữ Hán cho người Việt", (trang 18) và "đã mượn chữ Hán ghi âm tiếng Việt", "rồi từ đó, một số người Việt vô danh (chúng tôi nhấn mạnh) mượn những chữ đối âm hay những chữ mới đặt ra làm chữ của mình, tích lũy ngày lâu, thành một thứ chữ gọi là chữ Nôm, nghĩa là chữ của người Nam giao". (trang 19).

Thuyết của Nguyễn Văn San, về sau cũng có người nhắc đến nhưng có vẻ nghi ngờ (chẳng hạn Nguyễn Đổng Chi, trong bài "Vấn đề chữ Việt trong văn học sử Việt Nam", Văn Sử Địa số 9, năm 1955), và cũng có người cho là có lẽ đúng (chẳng hạn Trương Chính, trong Văn Sử Địa số 13, năm 1956) đã gợi ý là chữ Nôm của ta chắc cũng ra đời trong trường hợp giống như chữ của dân tộc Choang ở bên Quảng Tây).

Riêng về sự tương tự giữa chữ Nôm của ta và thứ chữ tục-tự ở bên Trung Quốc, thì cụ Sở-Cuồng Lê-Dư cũng đã nói tới trong bài "Chữ nôm với quốc ngữ" (Nam Phong số 172, tháng 5, 1932, trang 495-498). Cụ Lê Dư tỏ vẻ khâm phục Văn-đa Cư-sĩ là một nhà bác học, "chỗ học khác hẳn với các nhà học giả khác" và "có căn cứ vào đâu mới nói ra đấy"; tuy nhiên, cụ tỏ vẻ tiếc là "trong sách của cư-sĩ không chép ra cho rõ" (trang 495). Cụ viết:

"Lấy ý riêng của tôi xét ra, thì tưởng đương thời ta học sách chữ Tàu, thầy dạy hay là học trò học, thế nào cũng phải lấy tiếng nước ta mà giải thích, mới có thể hiểu; lại cần phải có một thứ chữ gì để làm phù hiệu, ghi cho dễ nhớ, nhân vậy Sĩ vương mới lựa những thứ chữ Hán nào phát âm như tiếng ta, lấy những thứ chữ ấy để làm phù hiệu, âm cái tiếng chữ Tàu; học trò học sách mà muốn nhớ tiếng chữ Hán, thì cũng phải nhớ lấy chữ Hán hay là thứ tiếng chữ Hán khác, âm vào để cho khỏi quên, nhưng vì dùng chữ Hán cũng không âm hết được thứ tiếng của mình, tỏ hết ý của mình, nhân vậy mới lựa lấy một nửa cái hình chữ Hán và một nửa chữ Hán khác, hợp lại thành chữ, hoặc dùng tiếng, hoặc dùng nghĩa, hoặc dùng ý hội, đem mà làm phù hiệu, dịch cái tiếng của ta: đây là một cái nguyên do bắt đầu bày ra thứ chữ nôm". (trang 495).

"Sĩ vương sang làm thứ sử nước ta, bắt đầu lấy những Thi-Thư của Tàu, dạy cho dân ta, mới suy theo lối chữ tục của Quảng Tây, bày ra cách chữ nôm ta, như lời của Văn-đa Cư-sĩ nói, thật là có chứng-cứ lắm. (trang 496).

Cũng trong bài lược khảo nói trên, cụ Trần Văn Giáp có nói đến một cuốn tự điển Hán Việt khá cổ, được khắc in lại vào năm 1761: Chỉ-nam Ngọc-âm Giải-nghĩa, mà soạn giả là Hương-chân Pháp-tính, một học giả Phật giáo đời Lê. Ngoài bài tựa bằng thể lục-bát (in chữ Nôm), sách Chỉ-nam còn có bài tựa bằng chữ Hán, có đoạn như sau :

"Đến mãi thời Sĩ-vương sang đóng ở nước ta, trong khoảng hơn 40 năm, đem giáo hóa phổ biến khắp nơi, giải nghĩa bằng tiếng Nôm để thông hiểu từng đoạn, từng câu, họp lại thành thơ ca quốc ngữ để ghi tên gọi, ghép vận làm thành sách Chỉ-nam Phẩm-vựng, chia ra thượng hạ hai quyển, nhưng người học còn khó hiểu. Nay tôi là nhà sư, xin lựa lọc từng tiếng, chua âm đọc, giải nghĩa đen từng chữ, tay viết thành quyển sách, gọi là làm tỏ những điều cốt yếu, khi xem kỹ nó, khiến cho độc giả dễ đọc, xuôi vần thuận miệng. Hoàng-thiên không phụ người đọc sách, người đọc sách tất có con cháu thi đậu, tôi mong đợi các bậc bác học sửa chữa cho".

(Chí ư Sĩ-vương, chi thời, di xa tựu quốc, tứ thập dư niên, đại hành giáo hóa, giải nghĩa Nam tục dĩ thông chương cú, tập thành quốc ngữ thi ca dĩ trí hiệu danh; vận tác Chỉ-nam Phẩm-vựng, thượng hạ nhị quyển, học giả nan tường. Tư túc thiền cẩn nghiêm hương ngọc, âm kỳ tự, giải kỳ nghĩa, thủ tả trật thành, khả vị minh minh lãm tường chi yếu; sử kỳ độc giả tấu vận liên thanh. Hoàng thiên thất phụ độc thư nhân, tất hữu tử tôn đăng khoa mục. Hậu chất chư tiên sinh bác học vân nhĩ).

Như thế là trong năm quyển Văn-tập mà Sĩ Nhiếp để lại cho đời sau, còn có một tác phẩm nhan là Chỉ-nam Phẩm-vựng, gồm hai tập.

2.2 Thuyết Bố Cái.

Trong một bài điểm sách Việt-Hán Văn-Khảo của Phan Kế Bính năm 1930, cụ Nguyễn Văn Tố có nói đến hai từ bố, nghĩa là 'cha', và cái, nghĩa là 'mẹ' trong tước hiệu Bố-Cái Đại-Vương của Phùng Hưng, và dựa vào đó cụ cho rằng chữ Nôm có từ thế kỷ thứ 8 ("Langue et littérature annamites. Notes critiques," Bulletin de l'Ecole Francaise d'Extrême-Orient 30: 1-2: 141-145). Trong Việt-Nam Văn-Học Sử-Yếu (1941), giáo sư Dương Quảng Hàm cũng có viết là "theo Sử chép" (tức sách chính sử Khâm định Việt sử, Tiền biên, quyển 4, tờ 25-26) người làng Đường Lâm ở châu Phong là Phùng Hưng, "nổi lên đánh thua quan Đô-hộ Tàu và giữ việc cai trị trong ít lâu; sau ông được dân trong nước tôn lên là Bố-cái Đại-vương. Hai chữ bố cái là tiếng Nam thuần túy, nếu đã đem hai tiếng ấy mà đặt danh hiệu cho một vị chúa tể trong nước, thì có lẽ phải có chữ để viết hai tiếng ấy, mà chữ ấy tức là chữ nôm: vậy có lẽ chữ nôm đã có tự cuối thế kỷ thứ VII rồi" (trang 101). Ta cần chỉ rõ là, tuy coi điều nói trên là "xác-thực" — Sử viết "Cổ tục hiệu thụ viết bố, mẫu viết cái" — nhưng cố giáo-sư họ Dương cũng dè-dặt viết là "chữ nôm đặt ra tự bao giờ và do ai đặt ra, đó là một vấn đề chưa thể giải quyết được" (trang 100).

2.3 Thuyết về đời Đường.

Năm 1971, cố học giả Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm có viết một bài "Góp ý với ông bạn Trần Văn Giáp về bài 'Nguồn gốc chữ Nôm'" (Nghiên cứu lịch sử số 140, tháng 9 và 10, năm 1971, trang 57-62). Cụ viết: "Gần đây, ông bạn Đào Duy Anh, trong "cuộc mạn đàm nhỏ" với tôi, cho rằng chữ Nôm có thể xuất hiện từ thời Đường (thế kỷ VI-VII-IX), vì bấy giờ dưới quyền đô hộ của nhà Đường, việc học Hán tự đọc theo lối Đường hãy còn nhiều tàn dư trong âm Hán-Việt ngày nay. Những thuyết trong các tác phẩm như Chỉ-nam ngọc-âm giải-nghĩaĐại-Nam Quốc-ngữ, v.v... chỉ là theo truyền-văn mà thôi". (trang 60). Cụ Hoa Bằng viết tiếp: "Còn tôi, theo tư-duy nông cạn, tôi xin tạm nêu giả thiết, sơ bộ cho rằng chữ Nôm được phôi thai còn sớm hơn nữa, nghĩa là trước thời Sĩ Nhiếp như ông bạn Trần Văn Giáp đã trình bày... Thời kỳ phôi thai của chữ Nôm có thể từ khi nước ta bị Đông Hán đô hộ, dưới trị quyền của hai thái thú Nhậm Diên và Tích Quang (thế kỷ I sau công nguyên)... Rồi nó được hình thành ở thế kỷ VIII, thời tự trị của họ Phùng... Kế đó, qua sự đấu tranh của nhân dân và sức ép của quần chúng đông đảo, chữ Nôm được trưởng thành từ đời họ Khúc (906-921), tức đầu thế kỷ X trở đi". Luận cứ của cụ Hoa Bằng là họ Khúc "chia đặt tô-thuế ruộng đất, lập được sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi" thì việc này đòi hỏi "phải có chữ Nôm để ghi chép các danh từ riêng như tên người, tên xã, tên xứ đồng..." như Trương Hát, Nguyễn Văn Trấm, hoặc các thôn xã Cót, Láng, Bưởi, Trèm, Vẽ, Mơ, Noi, Nhổn, Sét, Trôi, Lủ, Tó, v.v... hoặc Đồng Mẫy, Đồng Đốt, v.v... (trang 61).

2.4 Thuyết Hàn Thuyên.

Thuyết này cho rằng chữ Nôm xuất hiện dưới đời Trần, và ông Nguyễn Thuyên đã dùng nó để làm thơ phú, và có thể chính ông đã đặt ra thứ văn tự ấy. Thật ra, quốc sử chỉ nói là Nguyễn Thuyên giỏi về nghề thơ phú quốc âm, chứ chưa có sách nào ghi là ông đặt ra chữ Nôm. Trong sách Hải-đông Chí-lược, Ngô Thì-Nhậm (còn đọc Ngô Thời-Nhiệm) có viết là "văn tự nước ta dùng nhiều quốc ngữ bắt đầu từ (Nguyễn) Thuyên" (Ngã quốc văn-tự đa dụng quốc-ngữ, tự Thuyên thủy) (Trần Văn Giáp 1938: trang 18, và 1969: trang 7). Nguyễn Thuyên đậu tiến sĩ dưới đời Trần Thái-tông (1225-1257). Sách Việt-sử Thông-giám và sách Đại-Việt Sử-ký đều có ghi tích ông ta làm văn đuổi cá sấu, đại khái như sau đây. "Năm Nhâm-ngọ (Thiệu-bảo thứ tư, 'tức 1282') mùa thu, tháng tám, có cá sấu đến sông Lô. Vua sai quan hình-bộ Thượng-thư là Nguyễn Thuyên làm văn ném xuống sông. Cá sấu tự nhiên đi mất. Vua cho việc ấy giống việc làm của Hàn Dũ đời Đường, vua (Nhân-tông) bèn cho Nguyễn Thuyên đổi họ là họ Hàn. Nguyễn Thuyên giỏi về thơ phú bằng quốc ngữ, nhiều người bắt chước làm; ngày nay các nhà làm thơ quốc âm gọi là Hàn-luật, là bắt đầu từ đấy". (Đ.V.S.K. Toàn Thư tập II, trang 48, Khoa Học Xã Hội, 1967).

Nhiều sách văn học sử cũng thường nói đến chuyện Thiên Chương Học-Sĩ là Nguyễn-Sĩ-Cố "hay làm thơ phú quốc ngữ" và "nước ta làm thơ phú bằng quốc ngữ bắt đầu từ đấy" (Đ.V.S.K. Toàn Thư, tập II, trang 93).

Dù sao chính là căn cứ vào mấy điều nói trên mà các học giả Pháp như P. Pelliot và L. Cadière (1904: 621, chú thích) đã dùng cái mốc Hàn Thuyên để phỏng định thời kỳ chữ Nôm được sáng chế.

Sử sách còn ghi một câu chuyện lý thú nữa về một ông quan tên là Vũ Đái ở đời vua Lý Anh-tông. Đỗ Anh-Vũ, là em của Hoàng-thái-hậu, có nhiều công lớn giúp nhà vua lúc còn nhỏ và nắm nhiều quyền hành trong triều. Anh Vũ tư thông với Lê thái-hậu, tha hồ lộng quyền. Vũ Đái cùng một số người ra mặt tố cáo Anh-Vũ, nhưng vì bà thái-hậu để vàng vào trong đồ đựng cơm rượu nuôi Anh Vũ trong tù, cốt hối lộ Vũ Đái và lính canh. Có Nguyễn Dương tức giận về việc ấy nên trước khi nhảy xuống giếng tự tử, mắng quan Điện-tiền Đô-chỉ-huy-sứ Vũ Đái: "Điện-tiền là Vũ Cút, chứ không phải Vũ Đái!" (Chữ trên viết là cát, chữ dưới viết là đới: vậy thì từ năm Mậu thìn 1148, đời nhà Lý, đã có chữ Nôm rồi). (Đ.V.S.K. Toàn Thư, tập I, trang 282).

Cũng liên quan đến đời Trần, có điểm này: là học giả người Pháp Henri Maspero trong một thiên khảo cứu công phu về ngữ âm học lịch sử của tiếng Việt, đăng trong tập san của Viện Bác cổ Viễn đông năm 1912, xác nhận thuyết của hai ông Pelliot và Cadière, và còn cho biết rằng ở núi Dục Thúy, Hộ-thành-sơn, tỉnh Ninh-bình, người ta phát hiện được một tấm bia, khắc năm 1343, có vào khoảng 20 tên làng, tên xóm bằng chữ Nôm. (BEFEO 1912: 7, chú thích).

2.5 Thuyết Hồng Bàng.

Một giả thuyết thiếu sức thuyết phục nhất là giả thuyết của Phạm Huy Hổ. Trong bài "Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?" đăng tạp chí Nam Phong năm 1919, ông viết: "Thiết tưởng ta biết chữ Hán ngay từ khi họ Hồng Bàng mới dựng nên nước... Xem như hiệu nước, hiệu vua, tên 18 đời, tên 15 bộ, và bách thần đời Hùng, các làng di tích đời Hùng đều phân minh bằng chữ Hán cả. Mười tám đời Hùng đều có đủ tên như là Hùng-uy, Hùng-nghị, Hùng-minh, Hùng-duệ, v.v... Có người cho rằng các danh hiệu ấy đời xưa đều bằng tiếng nôm, sau mới đổi ra là chữ Hán. Nói thế thì không am hiểu tông giáo phong tục nước nhà. Nước nhà thận trọng nhất là việc đề bài-vị thần. Nay xem các thần đời Hùng có nhiều duệ hiệu bán tự bán nôm, có vị nôm na quá, như là Ông Cống, Ông Chấu, Chàng Cả, Chàng Hai, vv... Những tên nôm ấy nếu đổi ra chữ Hán thì có khó gì, thế mà các dân đề hiệu, Liệt triều sắc phong, vẫn cứ để nguyên, là tục ta rất kính cẩn việc sự-thần, không dám thay đổi một nét. Nhân thế lại biết thêm được rằng chữ nôm ta cũng sinh ra tự bấy giờ." (Nam-phong 5: 29, tháng 11 năm 1919, trang 416).

2.6 Thảo luận về các thuyết kể trên.

Trong khoảng mấy chục năm nay, nhiều học-giả người Việt hay người nước ngoài đã cân nhắc để đánh giá các thuyết kể trên về nguồn gốc chữ Nôm qua việc tìm hiểu cách cấu tạo chữ Nôm cũng như cách đọc một số chữ Nôm thấy trong văn bản các tác phẩm văn học cổ điển của Việt Nam.

Một số những nhà Việt-học người Pháp ngay ban đầu đã chú ý đến chữ Nôm. Đức Cha Bá-đa-Lộc Pigneau de Béhaine là tác giả một cuốn tự điển Việt-Latinh có ghi chữ Nôm cho từng mục từ và từng ví dụ tiếng Việt: giáo sư Paul Schneider tức Xuân Phúc có một bản chụp thủ bản đề năm 1772 của tập tự-điển đó trong thư viện quí giá của ông ở Nice: chính Cố Taberd đã căn cứ vào cuốn sách nói trên, chắc chưa bao giờ in ra, để soạn quyển tự điển Việt-Latinh của Ngài.

Một số những cuốn từ-điển Việt-Việt (của Huỳnh Tịnh Của 1895, rồi Việt-Pháp (của Bonet 1889, của Génibrel 1898) xuất hiện sau Việt Nam Dương-hợp Tự-vị của Cố Taberd 1838, có thể được coi là chứng-tích khoa học về những chữ Nôm ghi ở mỗi mục từ.

Ông A. Chéon ngoài sách giáo khoa và độc bản cho người Pháp học tiếng Việt, còn soạn cả một giáo trình về chữ Nôm (Cours de chữ nôm). Trong một bài diễn văn ở trường Thuộc-Địa tại Paris hôm 28-3-1925, Cordier đã nói rằng, theo chỗ ông biết, Chéon "là người Âu Châu độc nhất để tâm nghiên cứu chữ Nôm" (Cordier 1035: 118). Cordier tỏ vẻ hoài nghi về thuyết Sĩ-Nhiếp -- vì học giả Trương Vĩnh Ký mà ông trích dẫn không cho biết căn cứ vào đâu. Cordier cũng kể đến việc Nguyễn Thuyên thảo bài văn đuổi cá sấu và nói đến tấm bia Hộ Thành Sơn, và Cordier có vẻ tin rằng việc dùng chữ Nôm phát triển vào cuối thế kỉ 13 và đầu thế kỉ 14 (Cordier 1935: 117).

Chữ Nôm đã được dùng nhiều về đời Trần, điều này ai ai cũng có thể dễ dàng chấp nhận. Theo sách Hải-đông Chí-lược, sau khi vua Trần Anh-tông gả Công-chúa Huyền-Trân cho vua Chiêm-thành năm 1306, "nhiều học giả đã dùng đề tài công chúa Hán-tộc lấy vua Hung-nô để làm thơ bằng tiếng Việt chế-giễu cuộc tình duyên Việt-Chàm" (Cordier 1935: 117).

Sử lại ghi chép rằng, năm 1288, vua truyền là 'phàm có tuyên ra lời nói của vua thì Viện Hàn-Lâm đưa trước bản thảo tờ chiếu cho Ty Hành-Khiển để học tập trước, đến khi tuyên đọc thì giảng cả âm nghĩa cho dân thường dễ hiểu". (ĐVSK Toàn thư, tập II, trang 62).

Mặt khác, ai cũng đồng ý rằng tuy Nguyễn Thuyên được coi là người đầu tiên làm thơ bằng chữ Nôm, nhưng ông không phải là người chế tác ra chữ Nôm. Tân Việt Điểu, so sánh bản văn tiếng Việt và bài văn tế cá sấu của Hàn Dũ bằng chữ Hán, có dùng bản chụp bài văn bằng chữ Nôm (1959: phóng ảnh đối diện trang 353). Song le mọi người đều biết rằng bài văn của Nguyễn Thuyên đó đã được Phó-bảng Nguyễn Can Mộng (1880-1954) bịa ra và cho đăng trong Tứ-dân Văn uyển (Trần Văn Giáp và các người khác, Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập I, trang 509, năm 1971).

Còn như danh hiệu Bố Cái Đại Vương được phong cho Phùng Hưng (Nguyễn Văn Tố 1930, Dương Quảng Hàm 1943, Nguyễn Văn Huyên, 1944, v.v...) thì gần đây đã có nhiều cách giải thích mới. Giáo sư André Haudricourt đề nghị rằng hai chữ Nôm 布 蓋 trong danh xưng kia phải đọc là vuacái, chứ không phải bốcái: nói khác đi, ý nghĩa "Vua lớn" đã được nhắc lại trong tước phong Vua Cái Đại Vương (Haudricourt 1974, dẫn theo De Francis 1977: 22). Giáo sư Nguyễn Khắc Kham (viết trong thư riêng, 1978 và sau nữa) không đồng ý với kiến-giải trên, vì lẽ chữ Nôm vua còn có vương bên trên bố (chữ Nôm ghép, 王 viết trên 布). Giáo sư Nguyễn Khắc Kham còn nói là chữ 布 trong trường hợp này nên đọc là bô cái có nghĩa là "ông già đứng đầu bộ lạc hay cả nước" và cũng như tù trưởng, lão phu thần, đại trưởng lão, v.v...

Dù sao chăng nữa, cái thuỵ-hiệu của Phùng Hưng mãi tới năm 1479 tức đời Lê mới được nói đến trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, mà tấm bia đền thờ ông, là bia số 16 trong Văn bia Việt Nam, tập 1, Thư viện Khoa học xã hội, được dựng năm Quang Thái thứ ba (1390) đời Trần Thuận-tông, ở xã Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà tây, "cũng không thấy chép hiệu ấy" (Đào Duy Anh 1975: 42).

Thế còn quốc hiệu Đại Cồ Việt mà Đinh Bộ Lĩnh sau khi thống nhất sơn hà đặt cho nước ta năm 968 thì sao? Các học giả như Cụ Lê Dư, Cụ Hoàng Thúc-Trâm, v.v... đều cho rằng chữ thứ nhì trong tên nước đó 瞿, mà âm Hán Việt là , thật ra là một chữ Nôm, âm thành cồ và có nghĩa là "to lớn". Nhiều vị khác không đồng ý, nhưng cũng không giảng được xem hoặc cồ nghĩa là gì.

Keith W. Taylor viết rằng năm 1054 ông vua thứ ba triều Lý bỏ chữ cồ đi và chỉ dùng hiệu nước Đại Việt thôi, nhưng từ ngữ đại cồ, theo ông, là một từ ngữ lai "phản ánh một bước phát triển sáng tạo của ngôn ngữ bản địa dùng cho mục đích chính trị" trong thời kì mới độc lập (The Birth of Vietnam, 1938, trang 281).

Trong bài thuyết trình "Word Corruption in Vietnamese Under Chinese and French Rule" tại Viện đại học Nam Illinois ở Carbondale ngày 25-9-1978, giáo sư Nguyễn Khắc Kham đã đưa ra một kiến giải thật lí thú và mới mẻ. Giáo sư nói là có thể 瞿越 Cồ Việt là cách viết khi xưa của hai chữ Hán 甌越 Âu Việt. Vì chữ âu có hai cách đọc trong tiếng Hán cổ: *U và *KU, nên giáo sư Nguyễn Khắc Kham đưa ra giả thuyết là vị vua sáng lập đời Đinh "có lẽ đã dùng chữ Hán 瞿 thay cho 甌 để tránh sự lầm lẫn".

Giáo sư Nguyễn Khắc Kham cũng đưa ra một thuyết nữa là "Cù Đàm hay Cồ Đàm 瞿曇 là họ của Đức Phật, phiên từ tiếng Phạn Gautama. Giáo sư khiêm tốn nói trong bài thuyết trình ở Carbondale:

"Given the exceptional development of Buddhism in Vietnam under the Đinh and the promient political role played by Buddhist monks at the Đinh court, I am inclined to think that Đại Cồ Việt might also mean 'The Great Buddhist Country of Việt'. In this respect, let us not forget that one of the five wives of Đinh Tiên Hoàng was named Cồ Quốc (瞿國 'The Country of Buddha')."

Giáo sư Hoàng Xuân-Hãn thì trong một chú thích cho bài 'Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần Lê" đã viết: "chữ cồ chắc là từ Việt, người ta thường hiểu là lớn. Nhưng ý lớn đã chứa trong chữ đại rồi. So sánh với những âm †[chữ viết tay không rõ, tự dạng gần giống 叚], Cổ 古, Cự 巨, Khả 可, Kẻ 几 thì thấy ý nghĩa âm Cồ là xứ có lẽ hợp lý hơn" (Tập san Khoa học xã hội số 5, tháng 12 năm 1978, trang 12-13).

Nói chung, những nhà nghiên cứu về ngôn ngữ, văn tự, văn học và văn hóa Việt Nam thường chỉ bàn đến cách cấu tạo chữ Nôm (Wen Yu 1933, Wang Li 1948, Mineya 1972). Nhưng cũng có một vài nhà đã đi tìm chứng tích cụ thể, vì vậy tỏ vẻ nghi ngờ là thứ văn tự đó khó mà có thể có được từ đời Hồng Bàng, nghĩa là, có từ trước khi "Sĩ Nhiếp cấm dân chúng dùng chữ Nôm" (Trương Vĩnh Ký, dẫn theo Cordier 1935) hoặc dưới thời Sĩ Nhiếp cai trị.

Thuyết Bố Cái được một số học giả chấp nhận (ví dụ Nguyễn Hữu Quỳ 1971). Giáo sư Nguyễn Phước Bửu Cầm, Trưởng Ban Nôm tại Đại Học Văn Khoa Sàigòn, năm 1960 đã nói trong bài viết "Nguồn gốc chữ Nôm" là "có lẽ chữ Nôm đã được đặt ra vào khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ X, tức là giữa khoảng chuyển tiếp của hai thời kỳ tối cổ và tiền cổ Việt ngữ" (Bửu Cầm 1960a: 355, trong Văn hóa Nguyệt san số 50). Dẫn hai ví dụ là danh hiệu Bố Cái Đại Vương (năm 791) và quốc hiệu Đại Cồ Việt (năm 968) -- cả hai đều có cả chữ Hán lẫn chữ Nôm -- vị học giả đầy thẩm quyền của Đại học Văn khoa Sàigòn lý luận rằng "công việc chế tác chữ nôm không thể thành tựu trong một thời gian ngắn, và cũng không do một cá nhân nào; đó là công việc của nhiều người và có thể kéo dài từ đời này sang đời khác. Tuy vậy... chúng ta cũng tin được rằng chữ nôm xuất hiện sau đời Sĩ Nhiếp, trước đời Nguyễn Thuyên (chữ ngả nhấn mạnh trong nguyên tác)" (Bửu Cầm 1960a: 354).

Trong một bài viết từ năm 1949 bằng chữ Hán (đã được giáo sư Đoàn Khoách dịch ra tiếng Việt năm 1963), giáo sư Chen Ching-ho tức Trần Kinh-Hòa khẳng định rằng chữ Nôm không thể có trước đời Lý được.

Sự liên hệ giữa chữ Nôm và nền văn hóa Phật giáo đã được chú ý ngay từ năm 1942, khi Liên Giang nói rõ rằng người chế tác ra chữ Nôm không thể là Sĩ Nhiếp hoặc Nguyễn Thuyên, mà thật ra là những nhà sư, cần đến chữ nôm khi tụng niệm và thuyết giảng cho Phật tử: "Trong phép cúng giàng độ cho chúng sinh tật khổ, thường có những lá điệp, tức như những lá sớ, hay là ở bài văn phát nguyện, có biên rõ tên tín chủ là ai, trú sở ở đâu, nhất tâm phụng thỉnh Chư Phật tế độ. Trong lớp bình dân, tên họ có đâu được hoa mỹ như những lớp có văn học. Hoặc tín chủ tên là Nguyễn Văn Kèo hay là Trương Thị Cả, quán tại xóm Giếng, thôn Bà Ngô, hay là làng Á đầu, huyện Tiên lữ, vân vân... Tất nhiên bọn tăng đồ phải nghĩ ra một thứ chữ để ghi những danh hiệu đó. Ấy đó, chữ nôm ta phát sinh ra từ đó. Kế đến thư từ đi lại, hoặc bởi bọn tăng lữ kém học trao đổi cho nhau, hay bởi dân gian nhờ bọn ấy viết hộ, để gửi cho thân thuộc. Thế là chữ nôm thành thông dụng, dần dần lan khắp các châu trấn. Những bọn nha-lại ta cũng theo đó, viết trát cho kỳ dịch, cho đình trưởng. Từ quan cho đến dân, lấy chữ này làm môi giới, trên bảo dưới hiểu, việc cai trị vì thế được ổn thỏa." (Liên Giang, Chữ Nôm ta có tự bao giờ và ai sáng chế ra chữ ấy? Tri-tân Tạp-chí, Năm thứ hai, số 40, 25-31 Mars 1942, trang 268, 269 và 284). Liên Giang nói rằng đời Đinh, đời Lý "chữ nôm đã được thông dụng lắm, có đâu đợi đến đời Trần!" Và ông kết luận rõ ràng là "chữ Nôm là do các nhà tăng lữ hoặc bản quốc hoặc Trung Quốc sáng chế ra, sau khi đạo Phật đã truyền bá sang nước ta vào khoảng cuối Ngũ Đại, đầu đời Đường". (trang 284).

Năm 1961, trong lời giới thiệu diễn giả Nguyễn Khắc Xuyên tại buổi lễ hôm 26-2 về Cố Đắc Lộ ở Sàigòn, giáo sư Nguyễn Khắc Kham có nói như sau :

"Mặc dầu Hàn Thuyên đời Trần là người đầu tiên đem dùng chữ Nôm biên chép thi phú quốc âm, chữ Nôm đã có lâu về trước, theo thiển kiến, có lẽ đã manh nha vào đời nhà Lý trong các chùa chiền, được chuyên dùng phiên dịch kinh bổn Phật giáo và chắc cũng có liên quan ít nhiều với thuật in mộc bản thời đó". (Việt Nam Khảo cổ Tập san số 2, trang 75-76).

Về điểm này, sách Thiền uyển Tập anh có nói đến nhà sư "Tín Học (chết năm 1190) trụ trì ở một ngôi chùa trên núi Không-lộ, thuở trước cha ông sư đời đời làm nghề khắc ván in, đủ biết nghề ấy xuất hiện ở Việt Nam đã sớm". (Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam Cổ văn Học sử, Hàn Thuyên, 1942, trang 150). Như vậy nghề thủ công về khắc ván in từ lâu đã phát triển để phục vụ việc phát hành những văn bản tôn giáo.

Đứng về phương diện ngữ âm học lịch sử, một số nhà chuyên môn gần đây đã căn cứ vào các thanh mẫu và vận mẫu (Nguyễn Tài Cẩn), vào thanh điệu (Lê Văn Quán) mà chứng minh rằng âm Hán Việt tương ứng với âm thời Đường Tống, chứ không phải bắt nguồn từ thượng cổ. Do đó Nguyễn Tài Cẩn đi đến kết luận là đa số chữ Nôm hiện nay không thể có từ thời Sĩ Nhiếp, và sớm nhất "cũng chỉ có thể xuất hiện vào khoảng nước nhà đang chuyển mình để bước vào thời kỳ tự chủ (thế kỷ 8, 9)" (Cứ liệu ngữ âm lịch sử với vấn đề thời kỳ xuất hiện của chữ nôm, Ngôn ngữ 7, tháng 3 năm 1971, trang 41 (43-55); Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt (Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1979).

Riêng Lê Văn Quán, trong hai bài viết (tạp chí Ngôn ngữ 18, tháng 12, 1973, trang 41-45; Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử 200 tháng 9, tháng 10 năm 1981, trang 40-43) cũng như trong sách Nghiên cứu về chữ Nôm, Hànội, Khoa học xã hội, 1981), đồng ý như vậy qua việc chấp thuận thuyết của André Haudricourt cho rằng tiếng Việt lúc đầu không có thanh điệu, nhưng đến thế kỷ VI đã có ba thanh điệu, và đến thế kỷ XII thì đã có đủ sáu thanh điệu như bây giờ (Haudricourt 1954, Matisoff 1973).

Vì chúng ta cần đi tìm chứng tích về chữ Nôm ở sách vở và bi ký, nên chúng ta có thể mừng là nay đã có hai cuốn sách chuyên luận về chữ nôm: Một cuốn của Đào Duy Anh với nhan đề Chữ Nôm: Nguồn gốc, Cấu tạo, Diễn biến (1975), và một cuốn của Lê Văn Quán vừa kể trên. Học giả họ Đào, tác giả Việt Nam Văn hóa Sử cương, Pháp-Việt Từ điển, Hán Việt Từ điển, khẳng định rằng:

"Chữ Nôm chính thức chỉ xuất hiện khi mà những yêu cầu của xã hội đã khiến người ta phải tạo nên một số lượng chữ đủ để dùng trong các mặt sinh hoạt", nghĩa là chữ Nôm đã xuất hiện "do yêu cầu mới của xã hội từ sau cuộc giải phóng đặc biệt dưới các triều Đinh, Lê và đầu triều Lý" (trang 52, 53).

Đào Duy Anh nêu thêm: "Đương nhiên là khi mới xuất hiện chữ Nôm chưa có thể có hệ thống đầy đủ như ngày sau. Do sự phát triển sáng tạo dần dần, đến đời Lý Cao-tôn (Cao-tông 1176-1210) chúng ta đã thấy một hệ thống chữ Nôm hoàn chỉnh, sau vài trăm năm xây dựng". (trang 53-54).

Chúng ta đều biết rằng năm 1195 vua Cao Tông ra lệnh cho mở khoa thi tam giáo (Dương Quảng Hàm 1943: 78).

Trong Tiết 2.4, có nói đến tấm bia Hộ Thành Sơn mà hồi 1912 Henri Maspero nói là có thấy độ 20 tên làng xóm. Tiếc thay nhà học giả người Pháp không hề cho biết đó là những chữ Nôm nào, mà chính tấm bia ấy cũng chưa ai được thấy. Một sự kiện khá lý thú là năm 1958 ngư dân ở Đồ Sơn vớt được một quả chuông đồng mà Cụ Trần Huy Bá giới thiệu (Tổ Quốc, số 3, năm 1963) là "một quả chuông 700 năm dưới đáy biển", được đúc vào năm Bính Thìn (1076) đời Lý Nhân Tông để cúng vào chùa Vân Bản: Trong số những chữ Hán ở thành chuông, có hai chữ Nôm 翁何 ông Hà, là tên một sở đất.

Tuy không thấy chứng tích tấm bia Hộ Thành Sơn năm 1343 trong số 22.584 thác bản, tức bản vỗ, các văn bia tại Thư viện Khoa học Xã hội, Đào Duy Anh lại kiếm được tấm bia chùa Tháp Miếu ở Huyện Yên Lãng đề năm 1210 đời Lý Cao Tông. Trên tấm Báo-ân Thiền-tự Bi-ký này, có lời ca tụng công đức của người xây tháp và mở mang cảnh chùa, cho biết về việc cúng ruộng, cúng tiền của người này, người kia. Mặt trước có những địa danh như 同耕翁 †[chữ khó đọc chính xác] Đồng Hấp, 同綵 †[chữ khó đọc chính xác] Đồng Chài, 同坭 Đồng Nhe, 灘田 †[chữ khó đọc chính xác] Bơi Điền, v.v... và mặt sau có tên mười người cúng ruộng, mỗi tên đều có chữ thằng 尚. Tất cả 24 chữ Nôm cho thấy hai lối giả tá và hình thanh.

Chuông chùa Vân Bản và bia chùa Thiền Báo-ân có phải là hai chứng tích xưa nhất chưa? Năm 1976, khi phê bình cuốn sách về chữ Nôm của Đào Duy Anh, hai tác giả Trần Xuân Ngọc Lan và Cung Văn Lược (ngôn ngữ số 29, trang 46-51) lại nói đến một tấm mộ chí ở mộ Lê Phụng Thánh, tại chùa Hương Nộn, tỉnh Phú Thọ, tấm bia này dựng năm thứ 11 Chính Long Bảo Ứng (1173) đời vua Lý Anh-Tông, có ít nhất sáu chữ Nôm là: 頭停 đầu đình, †[chữ khó đọc chính xác] cửa ngõ, và †[chữ khó đọc chính xác] bến sông. Như vậy, văn bia khắc đá mà có chữ Nôm đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thời kỳ xuất hiện cũng như bước diễn tiến của thứ văn tự đó. (Lê Văn Quán 1981: 14-15)

Về thư văn thì ngoài những tác phẩm thất truyền về đời Trần, chúng ta may mắn có được mấy bài phú, bài ca, bài kệ còn lưu trữ được ở các chùa chiền, rồi sau nữa đến 254 bài thơ nôm của Nguyễn Trãi, rồi thơ nôm đời Hồng Đức, rồi thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi đến số lượng khá lớn các sáng tác của những nhà thơ, nhà văn về sau.

Bốn bài phú nôm thời Trần lẽ tất nhiên chứa đựng nhiều chữ Nôm hơn là ba tài liệu kim thạch ở trên kia. Bốn bài đó đã được in lại trong một tập sách nhỏ nhan đề Thiền Tông Bản Hạnh, vốn là sách của chùa Hoa-Yên trên núi Yên Tử, do nhà sư Thanh Hanh ở chùa Vĩnh Nghiêm, xã Đức La, tổng Trí-An, phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc giang (nay là Hà Bắc) khắc in lại lần thứ ba vào năm 1932. Bài tựa cho biết rằng đó là in lại bản khắc in năm 1805, mà tác giả là nhà sư Chân Nguyên, còn gọi là Tuệ Đăng, thuộc cuối thế kỷ 17 (Nguyễn Lang 1974: 251, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận). Bốn bài phú nôm trong sách đó là Cư Trần lạc đạo (ở chỗ bụi bậm mà vui với đạo Phật) và Đắc thú lâm tuyền thành đạo (được hưởng thú suối rừng mà thành đạo) của vua Trần Nhân Tông, Vịnh chùa Hoa Yên (chính ra là chùa Vân Yên) của đệ tam tổ Huyền Quang, và Dạy con của Mạc Đĩnh Chi.

Trong tạp chí Tri-tân số 56, (22 đến 28 tháng 7 năm 1942) cố học giả Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm có trích dẫn bốn hội của bài Cư trần lạc đạo phú (hội 3, 1, 7 và 10 trong số mười hội tất cả) của Trần Nhân Tông: đây là bài chót thuộc đề tài "Thử viết Việt nam văn học sử" của cụ Hoa Bằng. Năm 1963, giáo sư Phạm Thế Ngũ trong cuốn 2 của Việt Nam Văn Học Sử Giản-ước Tân biên, xuất bản ở Sàigòn, cũng có đề cập tới. Rồi năm 1974 quyển Việt Nam Phật giáo Sử luận của Nguyễn Lang (Lá Bối in lại ở Paris năm 1977) cuốn 1, mách rằng Giáo sư Hoàng Xuân Hãn có một bản in cuốn sách quí giá đó. Là những người quan tâm đến văn hóa dân tộc, chúng ta lấy làm tiếc rằng loạt bài đề tựa "thử viết" trên kia của cụ Hoa Bằng không được tiếp tục quá số 56 của tạp chí Tri Tân để chúng ta có được tài liệu giá trị về văn học sử Việt Nam. Dù sao chăng nữa, sách chữ Nôm của cụ Đào Duy Anh chắc là thiếu tài liệu nên khi bàn kỹ về bốn văn bản kia trong tập Thiền-tông Bản-hạnh đã không nói gì đến bài của Hoàng Thúc Trâm, hay sách của Phạm Thế Ngũ, hay Nguyễn Lang, hay cả đến bài báo quan trọng của giáo sư Hoàng Xuân Hãn đăng trong tạp chí Phật học Vạn Hạnh, Sàigòn, số 15, tháng 8, 1966, nói về bản khắc in năm 1745 của Thiền tông Bản hạnh, thuộc chùa Liên Hoa.

Về sách Thiền-tông Bản-hạnh, là sách rất có giá trị về phương diện tự dạng chữ Nôm, ngữ-âm lịch sử, từ cổ và Phật điển nữa, Nguyễn Lang đã viết như sau :

"Hòa Thượng Chân Nguyên tức Tuệ Đăng, người san định Thánh Đăng Lục năm 1705 cũng là tác giả của Yên-tử-sơn Trúc lâm Trần-triều Thiền-tông Bản-hạnh... Ấn bản còn lại là ấn bản năm 1745 do một ni-cô tên Diệu Thuần chùa Liên Hoa ở kinh thành Thăng Long thực hiện theo lời phú chúc của bổn sư cô là thiền sư Liễu Viên. Hiện giáo sư Hoàng Xuân Hãn có được bản in rất đẹp này..." (1974: 250-251).

Ai muốn nghiên cứu chữ Nôm thời xa xưa cũng nên tham khảo tư liệu quí báu này (xin xem phóng ảnh trang bên) mà năm 1943, tăng giải ngạn trụ trì tại chùa làng Hoàng Mai đã biếu giáo sư Hoàng, vì chính chúng tôi đã được hân hạnh trình bày một số phóng ảnh trước hội nghị quốc tế lần thứ 12 về ngôn ngữ học Hán-Tạng ở Ba-Lê năm 1979. Hoàng Tiên sinh đã làm một công trình kiệt tác khi giới thiệu văn bản tập sách quí đó, có chụp đủ từng trang, rồi thêm lời chú thích về ngữ nghĩa, về Phật điển cùng với bản phiên đầy đủ và nghiêm túc những bài phú, bài ca, bài kệ kia: "Văn nôm và chữ nôm đời Trần Lê: Phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử", Khoa học xã hội (Paris) số 5 - số 7 (1978-1980), trang 1-62, trang 5-36, trang 78-125. Điều bổ ích là so sánh cách phiên chữ Nôm của giáo sư Hoàng theo bản Liên Hoa 1745 với cách phiên chữ Nôm của Học giả Đào Duy Anh theo bản Vĩnh Nghiêm 1932, trong sách Chữ Nôm: Nguồn gốc, Cấu tạo, Diễn biến (1975), trang 167-209. Cụ Đào phiên âm và chú giải cả bài "Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi chết vào âm-ty bảy ngày thấy các địa ngục, sống lại làm phú dạy con", còn cụ Hoàng thì lại bỏ bài đó mà phiên âm và chú giải bài văn lục bát "Yên-tử-sơn Trúc lâm Trần triều Thiền tông bản hạnh, "kể gốc tích, ý nghĩa Thiền tông cũng như sự tích tu hành của hai nhà vua Thái Tông và Nhân Tông. □