Showing posts with label Ngô Thụy Miên. Show all posts
Showing posts with label Ngô Thụy Miên. Show all posts

3.22.2026

Paris Trong Tâm Hồn Thi Ca Của MIÊN

Bích Xuân

Paris bắt đầu nhộn nhịp khách mới, giữa con người đối diện với cảnh thiên nhiên thơ mộng, nhưng không thiếu nét hùng tráng, còn tồn tại trên những tảng đá. Các hình thù kỳ dị, mang dáng dấp những vị thần huyền bí của thủa hồng hoang. Du khách các nơi muốn ngược dòng thời gian về lại thời vua chúa hậu cung, quyền năng tối thượng. Có thiếu nữ khỏa thân trong trắng, bên cạnh ngọn đèn lưu ly tỏa sáng giữa vũ trụ mênh mông…

Cuộc sống là những gì luôn luôn xảy ra chung quanh trong tình cảm. Tôi muốn chia sẻ nên thường hay đi tìm cái đẹp bằng sự cảm nhận, buồn, vui, hay hạnh phúc…Đi xem một buổi triển lãm tranh. Mỗi bức tranh của mỗi họa sĩ, vừa cụ thể vừa trừu tượng, hàm chứa niềm cảm xúc sâu xa trở nên sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc thẩm mỹ, thể hiện được cái hồn của tác phẩm. Hay nghe một bản nhạc tình ca âm thanh phát ra đặc biệt, như đang phô diễn một trạng thái của tâm hồn. Thơ ca, âm nhạc, hội họa là thứ nghệ thuật cao, mỗi lọai có hương thơm riêng, tùy theo sáng tác của mỗi người, nhưng phải có điểm chung là nghệ thuật thì tác phẩm mới trường tồn .

Trong chúng ta không ai mà không một lần đã xúc động khi nghe xong một bản nhạc tình yêu. Dĩ nhiên không phải tất cả bài ca tình yêu nào, cũng dễ lọt vào tai người nghe. Nghe xong bản nhạc, trong tai tôi cứ âm âm u u dòng nhạc vừa qua, tôi chẳng còn nghe thấy gì ngòai âm vang đó. Bài nhạc là gương mặt của tác giả. Và đã là âm nhạc thì không bao giờ có bản nhạc hay cuối cùng.
Tôi được nhà thơ Đinh Trường cho hay, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sẽ từ Hoa Kỳ sang Paris, để góp mặt trong chương trình video Thúy Nga. Đang tính không biết làm cách nào để gặp được ông nhạc sĩ có bộ râu mép này đây ! Mấy ông nhạc sĩ, ca sĩ mà đi thâu hình, như chuyện đi mây về gió, không biết họ rảnh giờ giấc nào để mà gặp ! Trong khi chờ đợi, tôi nằm nghe lại mấy bài nhạc tình, lời của Ngô Thụy Miên thẳm sâu vọng ra, nó có màu sắc đa dạng, gợi lên một cái gì dứt khoát trong tình cảm, không xưa không mới, làm cho người nghe cảm thấy hòa âm, hòa điệu trong nhạc. Rất quen và rất lạ của dư âm, làm tôi nhập nhòa ký ức, có một thời nào được yêu, được khóc bởi tình yêu. Thích vì âm thanh không mạnh mẽ mà bâng khuâng, không ồn ào mà dìu dịu nét lãng mạn dấu ấn của thời đại. Chao ôi ! nỗi niềm chỉ chực bùng lên. Lời nhạc biểu hiệu cái thuộc về trái tim. Đã làm nên cái duyên cho bài nhạc, có cốt cách riêng mà không kém một khúc tình ca nào. Nên khi nghe xong khúc nhạc trong một không khí êm ả, tôi thường có tâm trạng man mác, như nghe tiếng sóng ở trong lòng, và hòang hôn thì trong mắt kia của… ai ở đâu đó, cũng đủ mềm yếu sự xa vắng, mông lung. Và, bản chất tôi thích khi viết, có xu hướng lãng mạn với chủ quan mới là hiện thực, nghệ thuật. Bởi vậy Belinki đã định nghĩa: “Chủ nghĩa lãng mạn, đó là thế giới nội tâm của con người, thế giới của tâm hồn và trái tim ”.

Một buổi chiều đẹp trời có tiếng gọi phôn. Xin nói ngay người đang gọi phôn cho tôi là nhạc sĩ họ Ngô, chuyên trị nhạc Tình Ca. Hẳn quí vị cũng thừa biết chuyện sau đóù là chuyện…hẹn hò. Hò hẹn để đi ăn điểm tâm buổi sáng…

Hơi sương còn bay theo nắng mai, giữa mùa xuân mát dịu thơm lành, bên hàng cây xanh non chưa có tên hoa. Thỉnh thoảng dâng lên cái mùi mưa nắng hôm qua. Aùnh sáng bay ngang như rụt rè, thăm dò trên những chiếc bánh croissant, bên ly cà phê đặc thù Tây phương, có bơ, sữa tươi, cam vắt, bánh mì, trai cây nghiền nát dầm đường (confiture) v.v…Chúng tôi ngồi trong nhà hàng La Coupol, một trong những nhà hàng nổi tiếng sầm uất tại Paris, song song bên cạnh là nhà hàng Le Dome trên Đại lộ Montparnase. Nói đến nhà hàng Le Dome là nói đến một thủa xa xưa, như một bóng mát duy nhất, tiêu chuẩn chung cho các ngành văn nghệ sĩ tài tử : ci-nê, họa sĩ, nhà văn nhà thơ nổi tiếng như Voltaire, Baudelaire, Lamartine « nghĩ ngơi » họp hội.…(1790 –1870 )

Trước mắt tôi một nghệ sĩ từng trải nhẹ nhàng tinh tế, rất lịch lãm và cũng rất ngọt. Đúng theo kiểu phong lưu tài tử, tóc dài râu ngắn, vừa đơn giản vừa cởi mở nhưng có cân nhắc. Tôi nhìn hàng râu hoang vu rậm rịt họ Ngô có vài sơiï bạch kim hai bên mép. Nhạc sĩ nhìn tôi cười, nụ cười đúng là…Tình Ca. Văn nghệ là một nhịp cầu để gặp gỡ giới văn nghệ sĩ. Nghĩa là chưa biết các nghệ sĩ mà như đã biết nhau rồi, và đôi bên cảm thấy rất vui vẻ với những câu chuyện, giữa đất trời tràn trề âm nhạc .

Buổi gặp gỡ đầu tiên với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên. Tôi về gom tất cả lại, xổ hết ra để viết một câu chuyện gởi đến bạn đọc. Nhưng tôi viết hơi phóng khóang, trong một sự gặp gỡ hoặc một tình tiết nhỏ. Vì đối với đàn ông, tôi vừa thích vừa sợ, vừa yêu, vừa ghét, vừa chán…Giống như chuyện tôi thích ăn món ăn Tây, mặc áo Tây, rồi lại chán chê món Tây, chán mặc áo Tây đài các vậy, cũng đủ viết được một mẫu chuyện ngắn thú vị. Vì chuyện đời thường diễn ra trong cốt truyện mà…

Buổi ăn sáng đã xong. Xe cộ bắt đầu ngược xuôi thành phố. Tôi nói nhỏ với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên gần như là thì thầm :

-Buổi tối con đường này bị bao vây bởi sự nhộn nhịp về đêm, của mấy cô tóc vàng môi đỏ mắt xanh uớt át lẳng lơ, nhởn nhơ tựa như những cánh bướm…Nếu các cô gái ấy không lẳng lơ thì chán lắm ! Và, cái cảm tưởng thú vị nhất của tôi khi cùng anh dùng bửa điểm tâm hôm nay. Gặp anh là tôi sướng lắm ! Vì, tôi đang làm cái công công việc «đào sâu» trong tâm hồn, biểu lộ ở đủ lọai tình cảm, và chuyển lại các câu hỏi của bạn đọc đến anh. Nhạc anh gây ấn tượng được khán giả bảo là hay. Tình cảm khán giả dành cho anh thật nồng nàn. Xin anh cho độc giả khả kính, yêu mến nghệ thuật, nhất là thứ nghệ thuật ấy là âm nhạc. Xin cho biết anh đến với âm nhạc do hoàn cảnh hay say mê ?

Ngô Thụy Miên bắt đầu câu chuyện bằng một giọng điềm tĩnh :

Cám ơn Bích Xuân. Có thể nói, là do cả 2. Được bố mẹ cho theo học nhạc từ những ngày còn bé. Năm 1963 tôi bắt đầu sáng tác khi còn ngồi trên ghế nhà trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Năm 1965, tình khúc đầu tiên Chiều Nay Không Có Em dưới bút hiệu Ngô Thụy Miên đã ra đời từ những thôi thúc, tình cảm xôn xao của một thời tuổi trẻ đầy mộng mơ, và hy vọng.

Bích Xuân: -Ý nghĩa cái tên Ngô Thụy Miên !

Cũng như Quang Bình, Đông Quân. Thụy Miên chỉ là một cái tên để xưng hô thôi. Những năm 60, bạn bè văn nghệ quý mến đặt cho. Không có gì đặc biệt.

-Trước khi sáng tác nhạc, anh đã viết văn, làm thơ, vậy theo anh hai thể loại này có hổ trợ gì cho nhau trong việc sáng tác? Anh nghĩ giữa thơ, văn và nhạc cái nào khó hơn?

Viết văn, làm thơ, chỉ là một giai đoạn ngắn trong quá trình hoạt động văn nghệ của tôi. Sáng tác ca khúc mới thực sự là những gì tôi muốn làm từ những ngày đầu tiên. Riêng cá nhân tôi, khó mà khẳng định là 2 bộ môn trên đã hổ trợ trong việc viết nhạc.

Có lẽ bây giờ chỉ có nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn mới có thể đưa ra nhận định chính xác về đề tài này. Ngoài ra tôi cũng đồng ý với ông anh Nguyên Vô của tôi là “Thơ tự nó chất chứa âm nhạc, hội họa và vượt thoát được những gò bó, giới hạn của quy luật, văn phạm trong ngôn ngữ thông thường…”. Do đó sáng tác một bài thơ hay, giá trị, có lẽ là khó khăn nhất.

- Cuộc sống phong phú hay cuộc sống thăng trầm tạo ra tác phẩm?

Tôi nghĩ là các tác phẩm để đời thường đến từ những trái tim biết rung động trước những biến đổi của thiên nhiên, vạn vật, của tình người, của cuộc sống…Nhạc sĩ Văn Cao có phải đã chịu đựng một cuộc sống đầy thăng trầm, nghiệt ngã? và nhạc sĩ Phạm Duy có một cuộc đời thênh thang, phong phú? Cả 2 ông đã cho chúng ta những tác phẩm bất hủ phải không?

-Khi sáng tác nhạc anh kỵ điều gì nhất ?

Là một người sáng tác hoàn toàn vì “nghệ thuật”, 2 điều mà tôi không thích nhất là giả dối và vay mượn. Tôi vẫn nghĩ, người viết tình ca cần phải có một tấm lòng chân thành yêu đời, một trái tim nồng nàn yêu người, và nên tìm cho mình một hướng đi riêng, một con đường mới để phục vụ nhân sinh.

-Khán giả mến mộ và thán phục anh qua các nhạc phẩm về TÌNH YÊU. Anh nghĩ sao về điều này ?

Khi bắt đầu sáng tác, tôi đã tự chọn cho mình con đường tình ca, có lẽ phần lớn là do cái tính lãng mạn, đa cảm, đa sầu của tôi. Một lần nào đó tôi đã có nói là “chỉ xin được nhớ đến như một người viết tình ca không hơn, không kém”. Hôm nay được quí khán thính giả chia xẻ, cũng như mến mộ những đứa con tinh thần của mình như Bích Xuân nói, thì quả thật là một niềm hạnh phúc lớn cho cá nhân tôi. Xin được gửi lời cám ơn đến tất cả.

-Về đề tài TÌNH YÊU anh thấy ở đó có cái gì mới ! và anh yêu như thế nào ?

Cá nhân tôi nghĩ là tình yêu cũng như đời sống, luôn biến đổi theo thời gian và không gian. Ở mỗi một lớp tuổi, mỗi một giai đoạn của cuộc đời, hình như tình yêu có khác biệt, có mới mẻ hơn. Ở tuổi 20 chẳng hạn, thì yêu nồng nàn, say đắm, yêu miệt mài…Và khi cuộc tình đã chết, thì là đắng cay, buồn đau của Bản Tình Cuối, là xót xa, chất ngất của Niệm Khúc Cuối. Tuổi 30, tình yêu thổi qua đời như cơn gió lạ đầu mùa, tình yêu là bát ngát mộng mơ, rồi bỗng thành chia lìa, tan tác. Đó là thời kỳ của Em Còn Nhớ Mùa Xuân, của Dốc Mơ. Còn ở tuổi 40, tình sâu lắng cùng những tiếc nhớ khôn nguôi của một thời đã qua với Trong Nỗi Nhớ Muộn Màng, Riêng Một Góc Trời. Tuổi 50, nhìn lại mình, những sợi tóc xanh xưa đã bỏ đi như những kỷ niệm cũ, nhưng trái tim hồng ngày nào vẫn rung động cùng Trong Mắt Em Là Biển Nhớ, Nỗi Đau Muộn Màng.

-Sáng tác nhạc do năng khiếu hay sự học tập ? Đề tài nào khó : tình yêu, nhạc trẻ hay nhạc Dân tộc?

Tôi thực sự không biết là mình có năng khiếu hay không? Nhưng học tập thì chắc chắn là nhiều lắm. Có thể năng khiếu là những bước đầu cần thiết, và học tập sẽ mang lại một tác phẩm hoàn hảo, tốt đẹp hơn? Về 3 đề tài Bích Xuân nêu trên, tôi chỉ chuyên trị về Tình Yêu. Về Nhạc Trẻ, tôi nghĩ đây là phần vụ của những người viết thuộc thế hệ ngày hôm nay. Nhạc Dân Tộc có lẽ chúng ta cần nhiều thêm những người như giáo sư Trần Văn Khê, hay nhạc sĩ Trần Quang Hải, Nguyễn Thuyết Phong… Nói tóm lại sáng tác đề tài nào cũng khó, cũng cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, và học hỏi,

-Kinh nghiệm sáng tác của anh, và cảm tưởng khi anh viết về người Mẹ?

Mỗi người viết nhạc có một đường lối sáng tác riêng. Riêng tôi chỉ bằng một tấm lòng chân thành yêu người, yêu đời, say mê sáng tác, học hỏi. Dòng nhạc, lời ca đến từ tim óc. Giản dị thế thôi. Bao năm nay tôi chỉ viết tình ca đôi lứa. Bản tình ca cho mẹ vẫn mãi trong tim tôi kể từ ngày chào đời cho đến khi rong chơi trong một bầu trời khác.

-Anh có cảm tưởng gì : cô đơn, vui, buồn trên con đường sáng tác ! Theo anh thế nào là bản nhạc hay?

Khi đặt bút viết một ca khúc, tôi không còn thấy mình, và cũng chẳng nghĩ đến cô đơn, vui hay buồn. Nhưng phải nói rằng gần 40 năm qua, chính những nỗi cô đơn, buồn vui, đã là những chất liệu xúc tác cần thiết cho nguồn cảm hứng sáng tác của tôi, là những thúc đẩy dịu dàng để có thể ngồi xuống phím đàn trải dài tâm tư mình qua dòng nhạc, lời cạ Nói về một bản nhạc hay thì tôi nghĩ rất khó có

được một định nghĩa chung, vì nó tùy theo trình độ thẩm âm, thưởng thức của từng cá nhân. Tuy nhiên nói một cách giản dị, thì một bản nhạc khi hát lên đã gợi nhớ được một hình ảnh, kỷ niệm, hay dấu tích của một thời, một đời, hay mở ra được một cánh cửa mới, một khung trời riêng cho người nghe thì đã có thể được coi là một bản nhạc hay rồi.

-Anh tâm đắc điều gì nhất trong nhạc ! Sáng tác nhạc sướng hay khổ ?

Đối với tôi âm nhạc nói chung là một phương tiện biểu hiện được tất cả những tình cảm giao hoà giữa con người và con người, giữa con người và cuộc sống, cũng như thiên nhiên. Nghe nhạc, hòa mình trong âm nhạc vẫn là nỗi sung sướng, niềm hạnh phúc nhất sau tình yêu. Có thể nói, âm nhạc cũng chính là tình yêu. Nếu được một lời xin, thì tôi xin âm nhạc ngự trị trên khắp quả điạ cầu khô khan mà chúng ta đang tạm trú đây. Còn sáng tác nhạc sướng lắm chứ, và cũng khổ nữa. Nói thế có nghĩa là, sáng tác một ca khúc thì cũng như sinh ra đời một đứa con của chính mình vậy.

-Giữa đàn ông và đàn bà, mà đàn bà do đấng thiên nhiên ban tặng, nên phụ nữ được mệnh danh là phái đẹp, do sự mềm mại qua những đường cong trên thân thể toát ra. Anh sang Paris lần này để thâu băng video Thúy Nga, anh nhìn các thiếu nữ Tây phuơng có gì đặc sắc, gây cảm xúc người nghệ sĩ như anh để thể hiện trữ tình trong nhạc ! Dĩ nhiên cái đẹp không phải lúc nào cũng bắt gặp trong sáng tác, có lúc ẩn lúc hiện, chợt gần chợt xa, mơ hồ mông lung có khi nó bùng cháy rồi tắt đi…

Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Phạm Duy… đã đem hình ảnh người con gái tây phương, tóc vàng, mắt xanh vào thơ văn, âm nhạc. Tôi nghĩ cái đẹp bề ngoài, cái quyến rũ bên trong của phái nữ nói chung mỗi thời, mỗi giai đoạn lịch sử một khác nhau. Đây là một đề tài cần nhiều thời gian để bàn luận. Tuy nhiên nếu chỉ nói đến cái quyến rũ bề ngoài thì Bích Xuân nói đúng. Những người con gái, đàn bà tây phương đã được trời cho một thân hình cân đối, đẹp và hấp dẫn. Nhưng có thể cái đẹp đó quá lộ liễu. Người đối diện không cần phải tìm hiểu, cũng chẳng cần phải khích động trí tưởng tượng. Mà trí tưởng tượng cũng là một yếu tố cần thiết cho người sáng tác. Và đúng như Bích Xuân nói, cái gì mơ hồ mông lung, cái gì hư hư ảo ảo, cái gì chợt gần chợt xa mới chính là những kiếm tìm lâu dài của người nghệ sĩ.

-Xin anh cho biết quan điểm nghệ thuật, cảm xúc chân thành nhất của anh đến Paris ?

Paris đến với tôi lần đầu tiên khi đang theo học môn nhạc sử tại trường nhạc ở Sài Gòn. Ngày đó, nhắc đến Paris là nhắc đến cái thời kỳ lãng mạn, cái thời kỳ của những buổi sinh hoạt văn nghệ đầy sáng tạo, hào hứng với Chopin, Liszt, Musset, George Sand… Vài năm sau, thì từ thơ Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn, Paris đã trở lại với giòng sông Seine, tháp Eiffel, với hè phố Saint Michel cùng những cặp tình nhân nơi giáo đường sương mù… Rồi cuối cùng là Paris với làn sóng âm nhạc, phim ảnh thành phố đã tràn ngập đời sống tôi. Paris là tụ điểm của tất cả. Tôi đã sung sướng khi đến Paris, tôi hạnh phúc khi có dịp trở lại Paris. Đến với Paris chính là quay lại với những hạnh phúc đầu đời, chính là trở về với những ảo tưởng, huyền thoại của một thời tuổi trẻ mộng mơ.

-Ngòai việc sáng tác, anh còn đam mê gì nữa ?Anh đi lưu diễn khắp nơi, anh rút ra được những bài học gì ?

Chỉ một trái tim yêu người, yêu đời thì cũng đã quá đủ rồi phải không Bích Xuân? Qua những chuyến lưu diễn từ nhiều năm nay, tôi nhận thấy một bài học quan trọng nhất là Âm nhạc đã đóng góp một phần không nhỏ vào công việc duy trì cũng như phát triển nền văn hóa chữ Việt của chúng ta ở hải ngoại. Chúng ta phải cố gắng hơn nữa trong việc sáng tác những tác phẩm đáp ứng được những nhu cầu, cũng như sự thưởng thức đặc biệt của thế hệ trẻ ngày hôm nay.

-Anh yêu thích và ghét điều gì nhất ! Cảm nghĩ của anh về một sân khấu nhỏ ?

Tôi yêu người, yêu đời nhất, và không nghĩ có gì cần phải ghét bỏ cả. Tôi nghĩ, với những buổi trình diễn âm nhạc, nghệ thuật hiện nay của chúng ta ở hải ngoại thì sân khấu nhỏ, sân khấu lớn thực sự không quan trọng lắm. Cái quan trọng là trình diễn cái gì trên sân khấu mà thôị
-Thần tượng ca nhạc của anh !.
Nói đến những ca nhạc sĩ mà tôi yêu thích thì nhiều lắm lắm. Thần tượng thì không có, nhưng người nghệ sĩ Việt Nam mà tôi quí trọng nhất là nhạc sĩ Văn Caọ
-Cảm tưởng anh đứng trên sân khấu và khi đứng dưới sân khấu !

Mỗi khi đứng trên sân khấu một mình, dưới ánh đèn spotlight chiếu sáng, cùng với vùng không gian mờ tối bên dưới, nhìn xuống khán thính giả, cái cảm giác đầu tiên của tôi luôn luôn gần gũi với khán giả. Ngược lại, đứng dưới sân khấu tôi cảm thấy chỉ mình tôi .

--Bài nhạc Em Còn Nhớ Mùa Xuân anh viết : « nhìn đất nước tơi bời một thời em có hay » Xin anh cho biết cái đẹp nhất trong Em Còn Nhớ Mùa Xuân ?.

Em Còn Nhớ Mùa Xuân được viết trong một bối cảnh đặc biệt. Bản nhạc nhắc tới những giao động một thời trên quê hương, đất nước, và nói lên tâm sự của một người thanh niên giữa những mất mát đổi thay đang xẩy ra quanh mình ngày tháng đó. Có lẽ cái đẹp nhất trong Em Còn Nhớ Mùa Xuân nên để cho khán thính giả kết đoán phải không Bích Xuân?
-Cảm nhận sự xúc động gì của anh, khi nghe ca sĩ trình diễn trên sân khấu ?

Xúc động giữa những tiếng vỗ tay, hoan hô nhiệt tình của khán thính giả, đã thể hiện chính xác bằng lời. Từ lâu tôi đã nhận biết là ca sĩ và khán thính giả đóng một vai trò rất lớn, rất quan trọng trong sự tồn tại của một tác phẩm, một tác giả.

-Theo anh một ca sĩ thành công cần phải có điều kiện gì ? Anh có nhận định về các ca sĩ ở Hải ngọai . Cảm nghĩ của anh về nhạc truyền thống.

Cũng như tôi đã trả lời câu hỏi trước của Bích Xuân về vấn đề Sáng Tác của nhạc sĩ. Người ca sĩ cũng cần phải có 2 điều kiện, năng khiếu, và sự chuyên cần học tập. Ngoài ra cũng phải biết giọng hát của mình thích hợp với thể loại nhạc nào, từng lớp khán thính giả nào…Một số các ca sĩ ở hải ngoại hiện nay đã bỏ ra nhiều thì giờ để theo học nhạc tại các trường đại học, hay các trường nhạc. Đó là một sự tiến bộ cần phải có. Ngoài ra người ca sĩ bây giờ không thể chỉ hát bản nhạc mà thôi, mà cần phải trình diễn bản nhạc đó vừa có hồn, và lại vừa gây sự thích thú thưởng thức cho khán thính giả! Tôi không có dịp học hay nghiên cứu về âm nhạc cổ truyền Việt Nam, nên không dám có ý kiến gì về đề tài nàỵ
-Xin anh cho biết bài nhạc nào anh tâm đắc, và đề tài nào làm anh quan tâm nhất !

Nói đến 2 chữ tâm đắc thì hơi quá. Thật sự ra có những ca khúc tôi đã bỏ ra nhiều tâm huyết hơn để viết, chau chuốt từ lời ca cho đến ý nhạc. Có thể nói là tôi thương những bài này hơn một chút thôi. Trong 4 thập niên thì chỉ có 4 bài là Mắt Biếc, Từ Giọng Hát Em, Dốc Mơ và Miên Khúc. Cả 4 bài đều được tôi viết nhạc xong, rồi mới đặt lờị
Như tôi đã nói, tôi chỉ là một người viết tình ca mà thôị
-Anh sinh tại Bắc lớn lên tại miền Nam. Anh nghĩ gì về miền Bắc ?

Tôi xa miền Bắc từ những ngày còn rất nhỏ, được nuôi dưỡng bởi cái tánh khí bình dị, cái tinh thần mộc mạc của miền Nam. Dù được đọc rất nhiều sách vở, thơ văn viết về miền Bắc, nhưng thật sự tôi không có một khái niệm rõ rệt gì về vùng trời quê hương của mình. Hỏi tôi nghĩ gì về miền Bắc? thì tôi chỉ có thể trả lời là mong cóù một ngày nào có dịp trở về thăm lại quê nhà, và ngày đó mới có thể có câu trả lời cho Bích Xuân.
-Cảm nhận của anh trong văn học nghệ thuật nói chung, thi ca nói riêng tại Hải ngọai.

Dù không có điều kiện theo dõi đầy đủ các sinh hoạt văn học nghệ thuật ở hải ngoại, nhưng qua hệ thống Internet, tôi đã được thưởng thức khá nhiều những tác phẩm văn chương, âm nhạc giá trị của các người viết cũ mới. Như vậy nói về sáng tác, chúng ta không thiếu. Cái thiếu nói chung hiện nay là phương tiện phổ biến, là điều kiện nâng cao trình độ thưởng thức của người thưởng ngoạn. Trên mạng lưới Internet đã có nhiều diễn đàn văn học nghệ thuật…nhưng vẫn trong một hoàn cảnh, môi trường hạn hẹp. Hy vọng trong tương lai, các trung tâm băng nhạc, các nhà xuất bản lớn sẽ chú ý nhiều hơn đến những sáng tác mới, tác giả mới về mọi ngành nghệ thuật.
-Anh sợ gì nhất ?

Với đời sống hiện nay, tôi chẳng sợ gì cả. Chỉ ngại nếu có, là chuyện đau ốm mà thôị
-Anh còn mong uớc điều gì trong tương laị

Mong trái tim vẫn rung động, để vẫn có thể sáng tác, dù đôi khi chỉ riêng cho mình. Ước có thể tiếp tục cùng một số anh chị em ca nhạc sĩ thực hiện những chương trình văn nghệ giá trị nhằm gây quỹ giúp đỡ các em bé tật nguyền, các người hoạn nạn, thiếu thốn đang cần sự tương trợ của chúng ta. Năm ngoái tôi đã tham dự chương trình đầu tiên tại Portland Oregon. Tháng 7 năm nay sẽ là chương trình ở Nam Cali, tháng 10 qua Houston, và sau đó về San Josẹ

-Xin cảm ơn nhạc sĩ Ngô Thụy Miên . http://honque.com/ngothuymien
Xin cám ơn Bích Xuân đã dành cho tôi cuộc nói chuyện ngày hôm naỵ

Paris 2002
Bích Xuân


Nguồn: Dactrung

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên: Một đời cho tình ca

* Dòng nhạc thính phòng chưa được phát triển đúng mức.
* Kỳ vọng ở lớp sáng tác trẻ hiện nay.

Người Việt Tây Bắc: Nhân dịp nhận giải Pioneer in Music vào ngày 16-10-09 tại Seattle, xin nhạc sĩ Ngô Thụy Miên cho độc giả và khán thính giả ái mộ anh một góc tâm sự. Vào cuối thập niên 1960 sang 1970, khi sáng tác những “ Tình khúc Ngô Thuỵ Miên”, mấy yếu tố tình cảm nào đã chi phối anh nhất?

Ngô Thụy Miên: Thập niên 1960- 1970 khi cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam đã bùng nổ một cách khốc liệt, tình yêu cuả những ngươì trẻ tuổi chúng tôi lúc bấy giờ chỉ là những vành khăn tang, những giọt nước mắt, những xót xa cuả một thời… Là một người sáng tác trẻ, tràn đầy sức sống cuả tuổi đôi mươi, yêu đời và yêu người, tôi có tham vọng là muốn mang lại cho thế hệ tuổi trẻ chúng tôi một niền tin, một niềm hy vọng mới cho tương lai khi con nguời sẽ thương yêu nhau, sẽ quên đi những mất mát, những hận thù đang xảy ra hàng ngày quanh mình. Qua những bàn tính ca trong sáng, lãng mạn và mộng mơ, tôi hy vọng mình đã mở ra đuợc một cánh cửa khác cho tuổi trẻ cuả thế hệ mình, và ở đó chỉ có tình yêu giữa người và người, tình yêu giữa người và cuộc sống, cũng như cuả thiên nhiên, của thời tiết, khí hậu.. Âm nhạc với tôi là một món quà cuả Thượng Đế, và cũng chính là tình yêu.

NVTB: Thời gian ấy, ở Miền Nam VN, Tình Khúc Ngô Thuỵ Miên được khán thính giả nồng nhiệt ủng hộ, những tình cảm thích thú nào từ họ đến với anh? và đã tạo được những ưu điểm nào cho sự nghiệp sáng tác cuả anh?

NTM: Tôi bắt đầu sáng tác từ năm 1963 lúc còn theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn. Năm 1965, tôi hoàn tất nhạc phẩm đầu tay “ Chiều Nay Không Có Em”. Bản tình ca thứ hai đã đượïc các đài phát thanh Sàigòn và Quân Đội cho phổ biến rất nhiều trong hai thập niên 1960- 1970 là ca khúc “ Muà Thu Cho Em”. Đây là bài hát đã mang tên tuổi cuả NTM đến với khán thính giả yêu tân nhạc tại Sàigòn, cũng như ở khắp các thành phố lớn. Từ lòng yêu nhạc, và tình yêu người, tôi đã tiếp tục sáng tác, và cùng với một số thân hữu đi trình diễn ở khắp các giảng đường đại học, các trung tâm văn hoá, và các hội quán văn nghệ Sàigòn để giới thiệu những sáng tác mới cuả mình. Năm 1974, sau khi một số các ca khúc cuả tôi đã được phổ biến rộng rãi, tôi đã cùng một số bạn hữu thực hiện cuốn băng Tình Ca NTM gồm 17 ca khúc, mà trung tâm Thuý Nga đã phát hành ở Sàigòn vào cuối năm 1974. Cuốn băng này được giới yêu nhạc nồng nhiệt ủng hộ; và sau đó tôi cũng cho in một số bản nhạc đang được ưa chuộng, như Mùa Thu Cho Em, Áo Luạ Hà Đông, Chiều Nay Không Có Em, Tuổi 13.. Tôi không bao giờ quên được những tình cảm thích thú từ những giới thưỏng ngoạn nhạc gửi đến một tác giả trẻ như tôi lúc bấy giờ, qua những chuơng trình nhạc yêu cầu, cũng như chính tôi đã chứng kiến một vị thiếu uý trong binh chủng Nhẩy Dù đã ghé vào mua bản nhạc Muà Thu Cho Em và cuốn băng tình ca NTM tại một kiosque trên đường Nguyễn Huệ,..hay trong đêm ra mắt cuốn băng tình ca NTM tại Hội Việt-Mỹ Sàigòn: Tôi đã thực sự xúc động giữa những tiếng vỗ tay, hoan hô nhiệt tình cuả khán thính giả. Từ lâu, tôi đã nhận biết rằng khán thính giả luôn đóng vai trò rất lớn, rất quan trọng trong sự tồn tại cuả một sáng tác phẩm, cuả tác giả sáng tác. Với tình cảm của giới thưởng ngoạn dành cho những sáng tác cuả mình, tôi cảm thấy hạnh phúc, vì những nỗi lòng mình muốn diễn tả ra qua âm nhạc đã được chia xẻ; và tôi đã là một đồng hành tuyệt vời cuả bao khán thính giả. Và dĩ nhiên đó cũng là một động lực thúc nay tôi tiếp tục con đường sáng tác tình ca, để có thể tiếp tục chia xẻ những tình cảm tâm tư riêng cuả mình đến người nghe.

NVTB: Theo anh, 34 năm hải ngoại, khuynh hướng sáng tác nhạc nói chung cuả thời trước 1975 tại Miền Nam VN có còn thịnh hành ở ngoài này?

NTM: Tôi đặt chân lên nuớc Mỹ năm 1980. Cũng đã gần 30 năm trôi qua, nhưng tôi vẫn là một người viết tình ca, như tôi đã sáng tác như thế, cuả những ngày tháng cũ (thập niên 1960- 70). Khuynh hướng sáng tác của tôi vẫn không có gì thay đổi. Tôi cảm thấy mình vẫn là “sứ giả cuả tình yêu”, vẫn muốn chia xẻ những tình cảm luôn luôn được uơm chín từ tâm tư riêng cuả một nguời đã yêu và sẽ yêu để đem đến với bất cứ một ai còn muốn lắng nghe tình ca Việt Nam. Cái khác là truớc 1975 khi còn ở Sàigòn với những thân yêu quanh mình, với những luạ là, mưa nắng hai muà, những quán hàng, những đường phố quen thuộc, từng nguời yêu buổi sáng, buổi chiều… đã cho tôi những cảm xúc để viết lên những tình khúc với ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca dịu dàng, đầy thơ tính. Còn bây giờ, ở hải ngoại, người ta thật vội vàng, xa lạ, bận rộn.. Những thành phố, nhà cửa thật to lớn, nhưng cũng thật là lạnh lẽo, cô đơn.. Tất cả những hoàn cảnh những tình cảm này cũng lại trao cho tôi những hứng khởi mới: Ngày tháng bên này đã và đang để lại trong tôi những nét muộn phiền rất riêng, rất độc đáo, và tôi ghi lại những lời ca “mệt mỏi buồn bã cuả cuộc sống tạm dung”..

NVTB: Là nhạc sĩ chuyên sáng tác các tình khúc qua 40 năm nay, anh nghĩ sao về mọi sinh hoạt của tình khúc nhạc Việt ở hải ngoại và ở trong nước?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả. Ở hải ngoại chúng ta chỉ có vài, ba trung tâm video ca nhạc đang hoạt động mạnh; các trung tâm băng nhạc nhỏ thì có khá nhiều nhưng hoạt động rời rạc, hạn hẹp. Các trung tâm lớn thì chỉ muốn thâu lại những sáng tác cũ đã được khán thính giả đón nhận từ nhiều năm nay. Và nếu như vậy lấy đâu ra chỗ cho các người viết mới chen chân vào thị trường âm nhạc? Chưa kể đất nước người quá rộng lớn, vấn đề phát hành cũng là một trở ngại không nhỏ! Thực hiện cho mình một cuốn CD mà nếu không có các trung tâm lớn giúp phổ biến hay phát hành thì những tác phẩm này cũng không thể chấp cánh bay bổng trên nền trời âm nhạc Việt Nam được. Hiện nay các mạng lưới Internet đã có khá nhiều diễn đàn văn học nghệ thuật. Ở đây các người viết mới có thể gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi cùng nhau để có thể tiến bộ hơn trong lãnh vực sáng tác. Nhưng dù sao tất cả vẫn còn trong một hoàn cảnh, một môi trường hạn hẹp. Một vấn đề trở ngại lớn khác cho Tình Ca ở hải ngoại là giới trẻ lớn lên ở đây vẫn ít hoặc không nói, không nghe, không viết được tiếng Việt một cách thông thạo nên đã tìm đến âm nhạc Mỹ, và quên đi là mình cũng có những tình ca nhạc Việt tuyệt vời về cả nhạc thuật lẫn ca từ. Tôi nghĩ môi trường sinh hoạt tình ca ở hải ngoại sẽ có thể gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong những thập niên sắp tới, khi số lượng người nghe không còn bao nhiêu và số lượng người viết càng thêm ít ỏi!

Nói về môi sinh của tình khúc nhạc Việt ở trong nước ngày nay thì tôi không dám có ý kiến, vì không sống ở đó nên chỉ dựa trên tài liệu báo chí hoặc internet để phán đoán thôi. Tuy nhiên theo thiển ý riêng, tôi thấy với số lượng người nghe và người sáng tác trong nước đông hơn, nhưng phát triển theo chiều hướng nào thì tôi không biết. Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại chúng ta đang có nhiều người viết trẻ. Họ đã có đầy đủ khả năng, điều kiện sáng tác những tác phẩm tình ca giá trị. Nhưng họ cần được giúp đỡ nhiều hơn để phổ biến những tác phẩm mới đến khán thính giả.

NVTB: Ngoài lãnh vực sáng tác các tình khúc anh còn có khuynh hướng sáng tác nào khác hiện giờ không?

NTM: Trong các khuynh hướng sáng tác, thông thường người ta nói nói Tình Ca (đôi lứa), Thân Phận, Quê Hương, Tuổi Thơ,… Từ những ngày đầu tiên sáng tác, tôi đã tự chọn cho mình con đường viết tình ca, vì thấy thích hợp với con người, với cá tính lãng mạn, đa cảm, đa sầu của mình, và cũng chỉ vì tình yêu mãi mãi vẫn là một đề tài muôn thuở cho người nghệ sĩ sáng tác.. một lần nào đó tôi đã có nói là: “chỉ xin được nhớ đến như một người viết tình ca không hơn, không kém”. Song trong môi trường xã hội hiện nay, tôi vẫn tiếp tục viết tình ca, vẫn tiếp tục chia xẻ những tình cảm, tâm tư riêng của mình qua những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống nơi xứ người, và vẫn mong được gửi những tác phẩm của mình đến với tất cả những ai có lòng tiếp tục thưởng thức ca nhạc Việt Nam nói chung, và tình ca Ngô Thụy Miên nói riêng….

NVTB: Những ca khúc nào, cho đến nay, mang lại cho anh niềm vui, hãnh diện qua sự yêu mến của khán thính giả? hoặc đã chuyển đạt được nhiều nhất những thông điệp từ nội tâm của anh?

NTM: Cá nhân tôi vẫn yêu mến mấy ca khúc đặc biệt mà tôi đã hoàn tất nhạc trước khi đặt lời, bốn ca khúc này mang một chút âm hưởng nhạc cổ điển Tây Phương: Mắt Biếc, Từ Giọng Hát Em, Dốc Mơ, và Miên Khúc. Ngoài ra, hai ca khúc tôi nghĩ đã được nhắc đến nhiều nhất, đã chuyển đạt được gần như tất cả những điều tôi muốn chia xẻ với người về tình yêu, đó là Niệm Khúc Cuối, và Riêng Một Góc Trời. Niệm Khúc Cuối là ca khúc trong sáng lãng mạn, tôi viết từ năm 1971, có thể nói bài hát này đã được thu thanh, thu hình nhiều nhất trong các tác phẩm của tôi: “Tình ơi! Dù sao đi nữa, xin vẫn yêu em”Vâng, đó là điều duy nhất tôi muốn nói về tình yêu. Hãy cho, hãy chấp nhận và hãy tha thứ để tình yêu vĩnh viễn mãi là niềm tin và hy vọng của chúng ta. Bài hát thứ hai tôi viết ở hải ngoại năm 1996: “Riêng Một Góc Trời”:“Đời như sương khói, mơ hồ trong bóng tối.Em đã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi, riêng một góc trời”.Nếu hạnh phúc là những kỷ niệm sáng nắng chiều mưa của một thời, là những tàng lá úa rơi buồn trong nỗi nhớ hay những nụ hôn, những giọt nước mắt lặng lẽ vẫn chìm sâu trong trí tưởng… thì “Riêng Một Góc Trời” đã là một người bạn đồng hành tuyệt vời cho những tâm hồn đã yêu, đang yêu và mãi sẽ còn yêu.

Khi Trung Tâm Thúy Nga phát hành cuốn “Video Tình Ca Ngô Thụy Miên” năm 1992, tôi nhận được nhiều điện thoại cùng những lời khuyến khích đến từ khán thính giả khắp nơi đã xem cuốn video này: Những lời cám ơn đều dành cho một sáng tác tôi viết ở SàiGòn sau năm 1975: “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, một ca khúc tôi viết trong một bối cảnh đặc biệt, kể lại những giao động một thời trên quê hương đất nước, và nói lên tâm sự của một người thanh niên giữa những mất mát đổi thay đang xảy ra quanh mình. Đây là ca khúc duy nhất tôi viết có mang chút bối cảnh xã hội, và cũng đã nói lên được những rung cảm của thanh niên thế hệ trẻ chúng tôi ngày tháng đó. Phải nói đây là một ca khúc đã mang lại cho tôi những niềm vui và hãnh diện đặc biệt trong cuộc đời sáng tác của mình.

NVTB: Anh còn có những cảm nhận nào khác, trong giai đoạn hiện thời về một ngõ mở mới cho những ca sĩ trình diễn các sáng tác của mình, ở thế hệ nối tiếp?

NTM: Dòng nhạc thính phòng đang gặp trở ngại, khó khăn về nhiều phương diện: Người nghe nhạc thính phòng đã ít lại càng ít hơn khi thế hệ người lớn tuổi đã ra đi, và thế hệ trẻ thì tìm niềm vui trong những dòng nhạc khác, hay nhạc ngoại quốc!

Nhạc sĩ -Một số anh em sáng tác cũ đã ra đi. Những người còn lại mệt mỏi với đời sống thường ngày, đã không còn đủ cảm hứng để tiếp tục viết nhạc. Lớp người viết mới thì không có điều kiện phổ biến sáng tác của mình. Thực hiện được một cuốn CD mà nếu không có sự giúp đỡ của các trung tâm thì những tác phẩm đó cũng sẽ dần vào quên lãng! Một ca khúc được sáng tác, nếu không được giới thiệu đến người nghe, không được khán thính giả chấp nhận thì cũng chỉ là một tờ giấy với những nốt nhạc, không hơn không kém! Người nhạc sĩ sẽ có thể là mất dần đi những cảm hứng sáng tác một khi những tác phẩm của mình bị chìm vào quên lãng theo ngày tháng.

Ca Sĩ - Lớp ca sĩ cũ trình bày nhạc thính phòng như Tuấn Ngọc, Lệ Thu, Khánh Ly, Khánh Hà, Ý Lan...vẫn được khán giả ái mộ, nhưng tất cả cũng còn một thời gian không lâu nữa là sẽ phải từ giã sân khấu. Và thế hệ hát nhạc thính phòng nối tiếp như Y Phương, Nguyên Khang, Diễm Liên, Trần Thái Hòa... hiện nay cũng đang được sự yêu mến và được sự ủng hộ nồng nhiệt của khán thính giả. Họ là những tiếng hát hiếm quý trong vườn âm nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tuy nhiên, nhìn lại số lượng ca sĩ hát nhạc thính phòng còn quá ít, so với những ca sĩ hát nhạc trẻ hay nhạc quê hương…Về các chương trình ca nhạc, có thể nói các show thính phòng được tổ chức trong các cộng đồng Việt Nam khắùp các nơi trên thế giới vẫn rất ít so với các chương trình tạp lục. Khán thính giả của dòng nhạc thính phòng rất chọn lọc nên khi tổ chức, ban tổ chức thông thường chỉ mong được hòa vốn là coi như đã thành công! Các trung tâm băng nhạc thì cần đáp ứng với nhu cầu thưởng ngoạn của mọi tầng lớp khán thính giả, và sự góp mặt của dòng nhạc thính phòng thường chỉ còn là một hoặc hai tiết mục nhỏ trong chương trình.

Tôi vẫn nghĩ, tìm cho được con đường mới để các thế hệ ca sĩ nối tiếp có cơ hội duy trì, phát triển dòng nhạc Thính Phòng ở hải ngoại, không phải là một chuyện dễ làm! Vì ngày nào nhu cầu thưởng ngoạn của khán thính giả dòng nhạc thính phòng không phát triển, ngày nào các ca nhạc sĩ còn vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc trình diễn và phổ biến các tình khúc thì ngày đó dòng nhạc này sẽ vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

NVTB: Anh còn có ý kiến gì hơn về tình hình sáng tác của người Việt nói chung có những sự kiện hoặc thành quả nào đáng lưu ý ảnh hưởng đến kích thích những xúc cảm sáng tác hoặc làm chững lại rung cảm sáng tác của riêng Ngô Thụy Miên hoặc với Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy, Thiện Lý.. thành danh từ trước 1975 hoặc một số người viết mới tại xứ người?

NTM: Trong những năm tháng qua, tại hải ngoại cũng như trong nước đều có những tác giả trẻ, những sáng tác phẩm giá trị. Nhưng hầu hết các tác phẩm được giới thiệu và phổ biến rộng rãi vẫn chỉ là những ca khúc. Chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp quan trọng của ca khúc phổ thông vào vườn hoa âm nhạc Việt Nam, nhưng tôi vẫn kỳ vọng nhiều hơn nơi những nhạc sĩ trẻ bây giờ. Tôi nghĩ rằng họ đã có cơ hội thật đầy đủ, thật tốt đẹp để nghiên cứu, trau dồi, học hỏi những dòng nhạc mới lạ trên khắp thế giới qua những phương tiện như CDs, Internet, Concerts, Books mà những người viết nhạc chúng tôi 30, 40 năm trước không thể có. Họ là những người có thể làm mới lạ hơn cho âm nhạc Việt của chúng ta với kiến thức tổng hợp của hai nền âm nhạc Đông-Tây. Dĩ nhiên khi viết những tác phẩm này, họ cần phải có cơ hội và môi trường để phổ biến. Tôi hy vọng qua các concerts, hay các chương trình của các trung tâm video, họ sẽ được trang trọng dành cho ít nhất một tiết mục để giới thiệu, đưa giới thưởng ngoạn đến một cuộc hành trình mới vào âm nhạc Việt Nam của chúng ta ở thế kỷ thứ 21 này!

Nếu nói Âm Nhạc là một phương tiện tiêu biểu hiện được những tình cảm giao hòa giữa con người và con người, giữa con người và cuộc sống, giữa con người và thiên nhiên, thời tiết thì tôi cho rằng anh em sáng tác chúng tôi (trước 1975), cho dù là ở trên quê hương, với những tháng ngày, kỷ niệm thân yêu quanh mình hay đang bận rộn trên phần đất tạm dung này với những đổi thay, thăng trầm của cuộc sống, chúng tôi vẫn tiếp tục sáng tác, vẫn tiếp tục gửi đến đời, đến người những tác phẩm được viết từ trái tim còn tuổi trẻ như ngày nào (Riêng Một Góc Trời-1996). Và như vậy, tôi không nghĩ đây là một hiện tượng, khi một số nhạc sĩ chúng tôi vẫn có những tình khúc tuyệt vời (như Anh Bằng mới sáng tác: Anh Còn Yêu Em/thơ PTT, Đừng Xa Em/thơ BH (2009)) vẫn đang viết nhạc tình trong năm 2009) (như Đức Huy-Khóc Một Giòng Sông) mà khán thính giả trên toàn quốc đã hoặc sẽ chia xẻ với tác giả.

Từ ngày ra hải ngoại, tôi cũng như Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Đức Huy.., vẫn tiếp tục cống hiến những ca khúc, tác phẩm bất hủ; và tôi hy vọng họ vẫn mãi là người bạn đồng hành bên cạnh những người đã yêu, đang yêu, và mãi sẽ còn yêu!

* Phạm Kim (Người Việt Tây Bắc ) thực hiện 10-09

Phác họa bối cảnh xuất hiện tình ca Ngô Thụy Miên trong nền tân nhạc miền Nam, 20 năm

Du Tử Lê

Source: NguoiViet Online

Tôi vẫn nghĩ bất cứ ai, có chủ tâm đi tìm những nét đặc thù của 20 năm Tân nhạc miền Nam, cũng sẽ nhận ra rằng, giữa thi ca và nền tân nhạc, nhất là dòng nhạc mà chúng ta quen gọi là tình ca, là một gắn bó tuyệt vời. Tựa như đó là những cuộc hôn phối không thể lý tưởng, đẹp đẽ hơn.




Từ trái qua: Nhạc sĩ Nguyên Bích, nhạc sĩ Từ Công Phụng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.
(Hình: của nhạc sĩ Nguyên Bích)


Dù chưa có một nghiên cứu khoa học nào, cho thấy bao nhiêu phần trăm những tình khúc đi ra từ thơ, còn tồn tại đến ngày hôm nay, nhưng, những người theo dõi sự sống, chết của dòng tân nhạc miền Nam 20 năm cho rằng, chí ít cũng có tới gần một nửa những tình ca vốn là thơ hay ý thơ của các thi sĩ, tới hôm nay, vẫn còn tồn tại nơi quê nhà, cũng như ở xứ người.

Vì sự tương quan xương thịt như thế, giữa thơ và nhạc, cho nên tôi không nghĩ mình quá lời, khi kết luận rằng, ít nhiều mỗi nhạc sĩ của 20 năm Tân nhạc miền Nam từng tìm đến với thơ hay ý thơ của những thi sĩ đương thời hay tiền chiến.

Vì tính lãng mạn lồng lộng của thơ tình Việt Nam mà một nhạc sĩ, trong đời họ, có thể “kết hôn” với thơ của nhiều nhà thơ khác nhau.

Tuy nhiên, cũng có một số nhạc sĩ chỉ mặn mà và chỉ thành công với thơ của một hai thi sĩ mà thôi.

Ðiển hình cho trường hợp này, là cõi giới tình khúc Ngô Thụy Miên với thơ Nguyên Sa.

Trước khi bước sâu vào mối tương tác hữu cơ giữa thơ Nguyên Sa và nhạc Ngô Thụy Miên, tôi nghĩ có lẽ chúng ta cũng nên nhìn lại nguồn gốc đưa tới sự giầu có, huy hoàng, lộng lẫy của cõi giới tình ca miền Nam 20 năm trước đây.

Trước nhất, chúng ta không hề quên rằng tình ca là mùa gặt hái chính của Tân nhạc Việt Nam, nở rộ từ những năm đầu thập niên 1940. Nhưng kể từ Hiệp Ðịnh Geneva chia đôi đất nước, miền Nam sau một thời gian ngắn được sống trong yên bình thì, chiến tranh đã dóng rả những hồi chuông oan nghiệt của định mệnh chung một dân tộc.

Theo bước chân thời gian, chiến tranh, tang tóc ở miền Nam như nấm gặp những cơn mưa triền miên bom đạn. Tuổi trẻ miền Nam ngơ ngác, thất thần trước một tương lai bất định. Họ, những người trẻ miền Nam giống như bị trần truồng trước tương lai ngõ cụt, tai họa của cái chết kề cận, tựa như họ có thể chạm tay, chạm mặt với thần chết!

Trong tình cảnh tuyệt vọng này, phản ứng tự nhiên của những con thú cùng đường là chống trả hay lẩn trốn trong những căn hầm trú ẩn hư ảo.

Phản ứng này, thể hiện rất rõ nét qua văn chương và âm nhạc.

Vì thế, có dễ không mấy ai ngạc nhiên khi nhìn lại 20 năm văn học nghệ thuật miền Nam, người ta thấy có ba khuynh hướng chính, như ba phản ứng chống trả hoặc trốn chạy tùy theo cảm nhận riêng của mỗi cá nhân là:

1. Chống chiến tranh.

2. Ðắm mình trong căn hầm tính dục. (Khuynh hướng này chỉ phổ cập trong lãnh vực văn chương, không phổ cập trong lãnh vực âm nhạc. (Và,)

3. Trú ẩn trong những cánh rừng hay những núi, đồi lãng mạn.

Nói chung, với 3 khuynh hướng chính này thì cõi ẩn trú được thanh thiếu niên miền Nam tìm tới, ở lại đông đảo nhất là những cánh rừng hay những núi, đồi lãng mạn.

May mắn thay miền Nam thời đó, có được tự do đủ, để các khuynh hướng học thuật phát triển. Nếu không có những tự do căn bản này, nền văn học nghệ thuật của miền Nam cũng sẽ giống như miền Bắc mà thôi.

Tuy nhiên, mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời đại của một dân tộc, luôn có cho riêng nó một ngôn ngữ. Ngôn ngữ ấy khả dĩ phản ảnh được tâm trạng đời sống của đa số. Bởi thế, miền Nam, ở những thập niên 1960, 1970, tuy người ta vẫn còn đọc thơ tình của những thi sĩ tiền chiến như Hồ Dzếnh, Xuân Diệu, Huy Cận hay, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư v.v... Và, một số người vẫn còn nghe, hát những tình khúc của Tô Vũ, Hoàng Quý, Nguyễn Văn Khánh, Ðoàn Chuẩn-Từ Linh, Hoàng Giác, Tử Phác hay Nguyễn Văn Khánh, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý v.v... Nhưng đại đa số, nhất là giới trẻ ngày càng xa lạ với những ca khúc như:


Em lo gì trời gió
Em lo gì trời mưa
Em tiếc gì mùa hè
Em tiếc gì mùa thu


Ta cứ yêu đời đi
Như lúc ta còn thơ
Rồi để anh làm thơ
Rồi để em dệt tơ...

(“Thoi Tơ,” thơ Nguyễn Bính, nhạc Ðức Quỳnh)

Hay:


Ðôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói
Tình đôi ta vời vời
Có nói cũng không cùng


Yêu hết một mùa đông
Không một lần đã nói
Nhìn nhau buồn vời vợi
Có nói cũng không cùng




Em ngồi trong song cửa
Anh đứng tựa tường hoa
Nhìn nhau mà lệ ứa
Một ngày một cách xa...

(“Một Mùa Ðông” thơ Lưu Trọng Lư) (1)


Hình ảnh “anh làm thơ, em dệt lụa” là hình ảnh lãng mạn, tượng trưng cho một tình yêu đẹp, rất lý tưởng... Nhưng dù đẹp hoặc lý tưởng tới đâu thì nó cũng đã thuộc về quá khứ! Ðời sống thực của thanh thiếu niên miền Nam, trong chiến tranh, dù họ có chọn mơ mộng, có lãng mạn như một ẩn náu cần thiết thì cũng chẳng có bao người, biết được hình thù cái khung cửi...

Cũng vậy, bối cảnh đời sống của thanh thiếu niên miền Nam ở những năm 1960, 1970, thực tế không hề có cảnh “em ngồi trong song cửa - anh đứng tựa tường hoa...” để rồi cùng im lặng suốt một cuộc tình mà kết cục vẫn là sự xa cách, với những dòng lệ ứa...

Thực tế của thời đại, giai đoạn miền Nam 20 năm, có lãng mạn, lý tưởng nhẹ nhàng nhất thì cũng phải là:


Anh về qua xóm nhỏ
Em chờ dưới bóng dừa
Nắng chiều lên mái tóc
Tình quê hương đơn sơ


Quê em nghèo, cát trắng
Tóc em lúa vừa xanh
Anh là người lính chiến
Áo bạc màu đấu tranh...

(“Tình Quê Hương” thơ Phan Lạc Tuyên, nhạc Ðan Thọ)

Hoặc đô thị hơn thì chí ít cũng phải là:


Em đến thăm anh đêm ba mươi
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi
Anh nói với người phu quét đường
Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em


Tay em lạnh để cho tình mình ấm
Môi em mềm cho giấc ngủ em thơm
Sau giao thừa xanh trong đôi mắt ngọc
Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết?

(“Em Ðến Thăm Anh Ðêm Ba Mươi” lời Nguyễn Ðình Toàn, nhạc Vũ Thành An)


Ở tình khúc kể trên của Ðan Thọ, phổ từ thơ Phan Lạc Tuyên, từ những năm giữa thập niên 1950, đã sớm cho thấy, người con gái không còn “ngồi trong song cửa” nữa. Người con gái thời “hậu tiền chiến” đã mạnh dạn bước ra khỏi nhà, đi tới, ngồi xuống một gốc cây, chờ đón người tình của mình.

Qua tới thí dụ thứ hai, cũng cho thấy người nữ không còn ngồi quay... tơ cho chàng làm... thơ mà, nàng đã chủ động đi... thăm chàng. Hơn thế, nàng còn chọn thời điểm quan trọng nhất của một năm là đêm 30 Tết, thay vì phải ở nhà để cùng cha mẹ chờ cúng giao thừa thì nàng lại ở bên chàng. Nàng đưa bàn tay mình cho chàng nắm lấy. Nàng trao môi mình cho chàng yêu thương... Nhờ vậy, chàng biết tay nàng... lạnh. Môi nàng... ấm...

Và, kẻ ngoại cuộc, sung sướng được làm nhân chứng cho chọn lựa đi tới, để được sống với tình yêu của nàng là “người phu quét đường,” là “chiếc lá vàng”...

Hai hình ảnh lãng mạn không thể hiện thực hơn, tôi trưng dẫn, trong tình khúc vừa kể, chỉ là một trong hàng ngàn hình ảnh, biểu tượng cho tính chất lãng mạn đầy tích cực của thời kỳ thơ/nhạc miền Nam 20 năm, trước đây.

Trước nhu cầu cấp bách của thanh thiếu niên miền Nam về những cảm thức lãng mạn mới, như những cánh rừng hoặc, những núi, đồi cho họ ẩn trú (dù chỉ là ảo tưởng) trước tai ương, năm 1957, về phương diện thi ca, thi phẩm “Thơ Nguyên Sa” in lần thứ nhất ra đời.

Trong tình cảnh bơ vơ, thất lạc kia, năm 1965, về phương diện tình ca, hai tình khúc mang tên Ngô Thụy Miên ra đời. Ðó là các ca khúc “Chiều Nay Không Có Em” và, “Mùa Thu Cho Em.” Hai ca khúc này là hai dự báo mạnh mẽ sự thành tựu rực rỡ nay mai của họ Ngô.

Ở thời điểm giới hạn từ 1955 tới 1965 thì thơ Nguyên Sa là một hiện tượng mang tính dấu mốc lãng mạn mới. Như thể thơ Nguyên Sa đã mang lại cho buồng phổi thanh thiếu niên miền Nam những lượng khí trời mới.

Tôi dùng cụm từ “lãng mạn mới” với dụng ý nhấn mạnh, trong 20 năm học thuật miền Nam, không phải nhà thơ hay nhạc sĩ nào bước vào cõi giới thi ca và âm nhạc lãng mạn cũng đều thành công.

Theo ghi nhận chung, rất nhiều người thất bại nếu khiếm khuyết tài năng hoặc đi tiếp trong trong bóng rợp của những hình tượng, những cảm thức đã thành khuôn thước sáo mòn, ước lệ của thơ, nhạc lãng mạn có từ thời tiền chiến.

Trong bối cảnh đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn là những nỗ lực ý thức, năm 1969, tức bốn năm sau hai tình khúc đầu tay, Ngô Thụy Miên thẩm nhập cõi giới thi ca Nguyên Sa - Ðể cùng với thơ của tác giả này, họ Ngô làm thành một hợp hôn tuyệt vời.

Trong bài viết nhan đề “Ngô Thụy Miên: Sau 35 năm hoạt động âm nhạc,” đăng tải nơi trang mạng vietnhac.org, cố nhạc sĩ Trường Kỳ viết:


“Nếu nhạc Từ Công Phụng và thơ Du Tử Lê được coi là một sự kết hợp hài hòa, thì nhạc Ngô Thụy Miên và thơ Nguyên Sa phải được coi là một sụ kết hợp sâu xa về tình cảm. Từ sự gần gũi với thơ Nguyên Sa trong thời kỳ học trò, Ngô Thụy Miên đã chịu ảnh hưởng không ít ở hơi thơ của thi sĩ tên tuổi này khiến người nghe dễ nhận thấy bàng bạc trong dòng nhạc của anh như chính anh tâm sự: 'Trong thời gian đi học, thơ của Nguyên Sa mình đọc nhiều nhất, ngâm nhiều nhất thành ra nó đã thấm vào hồn mình... Trong tất cả 4 thập niên của tôi thì thơ của ông ấy lúc nào cũng bàng bạc trong dòng nhạc của tôi. Ngay cả như bên này như tôi viết 'Nắng Paris Nắng Saigon' cũng mang âm hưởng của 'Áo Lụa Hà Ðông' hay 'Paris Có Gì Lạ Không Em.'”

Chú thích:

(1) Bài thơ do Phạm Duy phổ nhạc (?) Người hát được ghi nhận “tới” nhất, là ca sĩ Duy Trác.

***

II. Nhân cách Ngô Thụy Miên xuyên qua hôn phối với thơ Nguyên Sa

Nền tân nhạc Việt Nam xây dựng trên ca khúc, hiểu theo nghĩa ca từ là chính. Cho nên ảnh hưởng của thi ca vào âm nhạc là ảnh hưởng một mặc nhiên.

Sinh thời, cố nhạc sĩ Phạm Ðình Chương từng cho rằng, nếu loại bỏ phần tiếp thu to lớn, rất quan trọng của thi ca trong nền tân nhạc Việt Nam thì, ông không biết ca từ của nền tân nhạc đó sẽ nghèo nàn, đến mức nào!

Tôi không biết có phải vì sinh hoạt 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam đã diễn biến ở một tốc độ cao, do lượng khí tự do bung nở mạnh mẽ, cộng sinh với những vấn nạn của chiến tranh, làm cho khoảng cách giữa văn chương và nghệ thuật ngắn lại. Khiến nhiều người lầm tưởng hai lãnh vực này đã đồng bộ, song hành, cùng lăn mình, chảy tới?

Sự thực, ở quốc gia nào văn chương cũng luôn là mũi nhọn mở đường với những thử nghiệm mới mẻ. Một khi đã định hình, nó sẽ ảnh hưởng sang lãnh vực nghệ thuật. Dễ hiểu hơn, văn chương (nhất là thi ca), luôn mang tới cho đời sống tinh thần của thời đại, những cách nói mới.

Cách nói đó bắt nguồn hay thành hình từ những nỗ lực phản ảnh mặt chìm khuất của hiện trạng thời đại. Tôi muốn nói, phần đáy tầng, phần mạch ngầm của dòng sông đời thường. Nó đòi hỏi nơi những kẻ đào xới độ cảm nhận tinh tế, tính mẫn cảm sâu xa, vượt trên mức bình thường. Ghi nhận chung cho rằng, tính mẫn cảm đặc biệt này, có nhiều nơi các thi sĩ.

Chính những cảm nhận vi tế khai lộ kia, đã dẫn tới những hình thức diễn đạt (cách nói) nếu không mới mẻ thì chí ít, nó cũng khác với những hình thức diễn đạt (cách nói) đã có, trước đó. (Ðôi khi những phản ảnh và diễn đạt ấy, còn đi trước thời thế. Nó mang tính vị lai: Cách nói ở được phía trước mặt.)

Hiểu như thế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi nhận ra cách nói của nền tân nhạc miền Nam, 20 năm là cách nói khác với cách nói của dòng nhạc tiền chiến.

Từ điểm đứng này, sẽ không ai ngạc nhiên, khi nhận thấy cách nói (qua ca từ) của những tình khúc thời tiền chiến, chịu ảnh hưởng cách nói lãng mạn của dòng thơ tiền chiến.

Khi tình cờ đọc được phát biểu của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, do cố nhạc sĩ Trường Kỳ ghi lại:

“...Ngay cả như bên này như tôi viết 'Nắng Paris Nắng Sài Gòn' cũng mang âm hưởng của 'Áo Lụa Hà Ðông' hay 'Paris Có Gì Lạ Không Em,' tôi cho, tự thân phát biểu ấy, đã nói lên tính lương thiện cần thiết của một nghệ sĩ, đối với một nghệ sĩ khác. Với tôi, kẻ nói được như thế, là người có một nhân cách đáng trân trọng.

Tính lương thiện cần thiết làm thành nhân cách lớn của một nghệ sĩ, trước Ngô Thụy Miên, tôi còn thấy (một cách công khai) nơi cố nhạc sĩ Phạm Ðình Chương. Khi sáng tác tình khúc 'Nửa Hồn Thương Ðau' theo yêu cầu của nhà báo Quốc Phong, chủ hãng phim Liên Ảnh Công Ty, năm 1970, để dùng cho phim 'Chân Trời Tím,' tiểu thuyết của nhà văn Văn Quang, tới phần Coda, họ Phạm dùng hai câu vốn là ý thơ Thanh Tâm Tuyền, để khép lại ca khúc.”

Khi dùng 2 câu thơ đã biến cải (modify) đó, ông ghi chú rõ rằng: “Ðoạn cuối bài trích ở tác phẩm Lệ Ðá Xanh, thơ Thanh Tâm Tuyền, nhạc Cung Tiến.”

Trên nguyên tắc, sau đấy, Phạm Ðình Chương không cần phải có thêm bất cứ một ghi chú nào khác. Vậy mà, khi ca khúc được phổ biến, nơi đầu bản nhạc, ông vẫn nghiêm chỉnh ghi “Ý thơ Thanh Tâm Tuyền.” (1)

Trở lại với cách nói từ thi ca bước vào tân nhạc của tình ca miền Nam, mặc dù mãi tới cuối năm 1969, tác giả “Riêng Một Góc Trời” mới nhận được thi phẩm đầu tiên của thi sĩ Nguyên Sa, quà tặng từ một người bạn... Nhưng ngay từ tình khúc đầu tay của Ngô Thụy Miên, giới thưởng ngoạn đã ghi nhận được những ảnh hưởng đáng kể của cõi giới thơ Nguyên Sa, qua ca khúc “Chiều Nay Không Có Em” sáng tác năm 1965. Hai khổ nhạc mở đầu:


Chiều nay mình anh lang thang trên phố dài
Không có em ai chung bước dỗi nhau giận hờn
Không có em đường xưa giăng mắc mây trôi
Chiều nay hai đứa chung đôi
Lặng nhìn mùa thu lá rơi




Dù mai tình lên khơi như sóng gào
Không có em cho phố vắng dấu chân hẹn hò
Không có em mùa thu thôi lá vương bay
Mùa đông buốt giá qua đây
Vòng tay ấy ôi sao lẻ loi... (2)


Cụm từ “không có em ” được họ Ngô khởi đi và, dẫn tới kết thúc suốt chiều dài ca từ, rất gần với cách nói của Nguyên Sa trong bài “Cần Thiết”:


Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng


Ðôi mắt sáng là hành tinh long lánh
Lúc sương mù ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc...
Không có anh nhỡ một mai em khóc
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi... (3)


Lại nữa, tôi nghĩ, nếu là cách nói cũ (thời tiền chiến thì), ngay câu mở đầu khổ thứ hai của tình khúc vừa kể (dù mai tình lên khơi như sóng gào), nhiều phần có thể sẽ là “dù mai tình lên khơi bao... thiết tha” hoặc, “dù mai tình lên khơi bao xót xa”... Nhưng Ngô Thụy Miên đã cho ca từ của mình một liên-ảnh khác. Ông dùng hai chữ “sóng gào” đi sau liên tự “như,” “Sóng gào,” mới mẻ. Mạnh mẽ. Cụ thể. Cực tả hơn.

Khi nói tới sự náo nức, mức gia tăng cường độ tình yêu (vốn là một trạng thái xung động tình cảm trừu tượng), mà dùng những tính từ trừu tượng như “thiết tha” hay “xót xa” để bổ trợ, nhấn mạnh, theo tôi, là dùng một hình ảnh trừu tượng, để giải thích, bổ nghĩa cho một hình ảnh trừu tượng khác. Nó không giúp gì cho mạch văn, về phương diện cấu trúc ngôn ngữ. Nhưng “sóng gào” thì ngược lại.

Vẫn nói về cách nói khác, hay cách nói mới trong ca từ của cõi giới âm nhạc Ngô Thụy Miên, tôi nghĩ, trước ông, dường như chưa có một nhạc sĩ tiền chiến nào, ví giọt lệ người tình của họ như / với “ngọc ngà,” như trong tình khúc “Giọt Nước Mắt Ngà” của ông:


Trông áng mây u hoài
Giọt lệ nào thương bay, tình đành tràn mi cay
Ðau thương xé môi gầy mà lòng vẫn mê say
Ôi giọt nước mắt ngà cho cuộc tình đầu tiên (4)


Cũng trong khổ nhạc này, dòng thứ ba, họ Ngô dùng chữ “xé” ngay sau hai chữ “đau thương” (dùng như danh từ,) làm chủ từ cho động từ “xé”:

“Ðau thương xé môi gầy...” Với nhân cách hóa này, trước và sau Ngô Thụy Miên, tôi e khó có một nhạc sĩ nào có khả năng gây “chấn thương” tâm hồn người nghe mạnh mẽ hơn. Do đấy, thích hay không, đó vẫn là những cách nói khác.

Cũng trong phần ca từ tình khúc “Giọt Nước Mắt Ngà” ảnh hưởng cách nói của thơ Nguyên Sa, lại được họ Ngô thể hiện bất ngờ qua câu “nụ cười đã đi xa” trong khổ nhạc:


Em đứng bên sông buồn
Nhìn cuộc tình trôi qua và lòng người phôi pha
Trên hai đóa môi hồng
Nụ cười đã đi xa
Ôi giọt nước mắt nào cho cuộc tình đầu... (5)


Tôi không biết mình có quá lời chăng, khi nói rằng câu nhạc “nụ cười đã đi xa” của Ngô Thụy Miên là một trong những đóng góp đẹp đẽ cho cách nói khác của dòng tân nhạc miền Nam, hai mươi năm. (6)

Tóm lại, tính gắn bó, cuộc hợp hôn giữa thơ Nguyên Sa và nhạc Ngô Thụy Miên đã đem lại cho dòng tân nhạc Việt Nam, không chỉ là những ca khúc rực rỡ mới, trực tiếp đi ra từ thơ Nguyên Sa. Như “Áo Lụa Hà Ðông,” “Tình Khúc Tháng Sáu,” “Tháng Sáu Trời Mưa,” “Paris Có Gì Lạ Không Em,” “Tuổi Mười Ba” hay “Tháng Giêng và Anh” v.v... Mà, hôn phối này còn có thể coi là tiêu biểu cho sự thuận hợp một dòng, của hai lãnh vực thi ca và âm nhạc miền Nam nữa.

Tính tiêu biểu tôi nói ở đây, không chỉ nằm nơi sự thăng hoa đồng bộ giữa thơ và nhạc. Nó còn thể hiện trong phạm trù ngôn ngữ, cách nói một thời của một giai đoạn lịch sử và, xã hội.

Trước khi kết thúc bài viết này, tôi cho là thiếu sót, nếu không nhắc tới tính cách trân trọng người nữ, tinh thần lạc quan tìm thấy trong ca từ nhạc Ngô Thụy Miên.

Tôi không quyết đoán, nhưng ngỡ rằng, tính chất vừa nhắc, tìm thấy trong ca từ nhạc Ngô Thụy Miên, có dễ phần nào, cũng đã đi ra từ cõi giới thơ Nguyên Sa.

Thí dụ:


Nắng úa dệt mi em và mây xanh thay tóc rối
Nhạt môi môi em thơm nồng
Tình yêu vương vương má hồng


Sẽ hát bài cho em và ru em yên giấc tối
Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
Chờ em anh nghe mùa thu tới...

(Mùa Thu Cho Em, Ngô Thụy Miên) (7)


Hoặc:


Giọt lệ nào thương vay, tình đành tràn mi cay
Ðau thương xé môi gầy mà lòng vẫn mơ say...

(Giọt Nước Mắt Ngà, Ngô Thụy Miên)


Tôi không nghĩ có người nữ nào không cảm động, không mãi nhớ, khi đã chia tay một cuộc tình mà, người nam vẫn một lòng “mơ say” mình. (Thay vì họ bị chàng lớn lối kết án, trút đổ lên người nữ, mọi nguyên nhân, tội lỗi...)

Từ đó, tôi tin, khó ai có thể “phản biện” khi biết rất nhiều người thuộc nữ giới, đắm đuối nhạc Ngô Thụy Miên.

Riêng tôi, trên tất cả, vẫn là nhân cách họ Ngô, qua phát biểu về thơ Nguyên Sa của ông.

Du Tử Lê

(11 tháng 8, 2010)


Chú thích:

(1) Tuyển tập nhạc “Mộng Dưới Hoa,” 20 bài thơ phổ nhạc của Phạm Ðình Chương. Vincent and Company xuất bản, Calif., 1991.

(2) (4) (5) (7): Theo dactrung.com

(3) “Thơ Nguyên Sa Toàn Tập,” trang 23. Ðời xuất bản. Calif., 2000.

(6) Cũng nên ghi nhận: Trong ca từ Trịnh Công Sơn có rất nhiều cách nói khác. Và, phải chăng vì thế, nhạc sĩ Văn Cao từng cho rằng “Trịnh Công sơn... hát thơ.” (Xem Văn Cao, tựa tập nhạc “Em Ra Ði Nơi Này Vẫn Thế.” Nhà xuất bản Hồng Lĩnh, Calif., 1991.)

Nguyên Sa và Tình Ca Ngô Thụy Miên

Ngô Thụy Miên


Tin nhà thơ Nguyên Sa mất đến với tôi thật đột ngột! Sáng nay một người bạn gọi vào sở hỏi tôi:"Ông có biết nhà thơ Nguyên Sa vừa qua đời chưa?" Tôi bàng hoàng, thẫn thờ một chút mặc dù đã được biết tình trạng sức khoẻ của ông mấy năm gần đây. Chúng tôi trao đổi vài ba câu chuyện.

Tôi cám ơn bạn rồi thầm nói với mình:


"Thôi, cái thời tuổi trẻ mộng mơ, yêu đương nồng nàn ngày nào đã thực sự không còn nữa. Không còn nữa những lụa là mưa nắng Sàigòn, cũng không còn nữa Paris, người tình và giòng sông Seine với những vòng tay ôm, những môi hôn vội vả… Người đạo diễn đã bỏ cuộc chơi, bọn tài tử chúng tôi ở lại còn gì để bàn chuyện thu phong, còn gì để làm dáng với đời, làm điệu với người!"...


Ngoài trời những giọt mưa vẫn tiếp tục rơi đều trên khung cửa kính. Buổi chiều về nhà, bạn bè dưới Cali gọi lên báo tin. Bỏ điện thoại xuống, tôi ra vườn sau nhà. Nhìn những cánh hoa anh đào đang rụng bay theo gió, chợt thấy lạnh, và nỗi buồn ập đến khiến tôi choáng váng. Buổi tối anh Nguyễn Mạnh Trinh gọi lên nhờ tôi đóng góp một bài để đăng trong tuyển tập anh dự định in trong những ngày sắp tới. Tôi hứa sẽ viết một chút về những bản nhạc đã phổ từ thơ ông.

Tôi không rõ nhà thơ Nguyên Sa từ Pháp trở về Việt Nam từ năm nào, chỉ biết cùng với nhà thơ Cung Trầm Tưởng, ông đã đem Paris về cho bọn trẻ chúng tôi. Một Paris với hè phố Saint Michel, với sông Seine, tháp Eiffel, những cặp tình nhân, giáo đường sương mù… Cùng một lúc ông đã mang nắng Sàigòn, lụa Hà Đông và đâu đó bóng dáng Hà Nội vào thi ca Việt Nam của chúng ta một cách thân thiết nhẹ nhàng.

Nhiều người hỏi tôi có quen biết hay có họ hàng với nhà thơ? Như tôi đã nói, chúng tôi không có liên hệ gì ngoài sự cảm thông của hai con người cùng yêu nghệ thuật. Nói rõ hơn, tôi chỉ là một trong hàng triệu người yêu quí thơ ông, một người may mắn có thể gửi lời biết ơn giòng thơ tuyệt vời của ông qua những nốt nhạc giản dị, chân tình.


Cuối năm 1969, khi một số tình khúc của tôi đã được phổ biến rộng rãi trên các đài phát thanh, cũng như trong những đêm sinh hoạt văn nghệ được tổ chức tại nhiều trung tâm văn hoá, hay các giảng đường đại học. Tôi đến với thơ Nguyên Sa, không từ một chọn lựa, mà vì tôi đã nhìn thấy mình trong thơ của ông, đã nghe những rung động thầm kín nhất của tuổi trẻ mình được ông tạo lên bằng những lời thơ ngọt ngào tình tứ, tươi mát. Cũng như bao nhiêu anh em thanh niên sinh viên học sinh của thập niên 60, tôi yêu và thuộc không ít thơ của ông. Nói đến Áo Lụa Hà Đông, có lẽ chúng ta mấy ai không biết:



Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.


Cá nhân tôi khi đọc bài thơ đã chú ý ngay 4 câu:



Em chợt đến, chợt đi anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau
Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại.


Lời thơ man mác buồn, đã vỗ về, chia xẻ tâm tư tôi ngày tháng đó. Lang thang Sàigòn một ngày nắng nhẹ, giòng nhạc lan man trong đầu óc: "Rê Đô Rê, Sol Sib Sib Rê Rê, Sol Sol La, Sol Sib Rê Rê La…", tôi đã hoàn tất phần điệp khúc được viết theo cung Rê thứ để thích hợp với hồn thơ. Khi phổ hai phần đầu, và cuối, tôi đã gặp khó khăn với hai câu:


Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng





Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng


vì vần trắc của chữ "trắng" đã không thích hợp với giòng nhạc chuyển tiếp cần âm bảng. Sau hơn một tuần loay hoay tìm kiếm, cuối cùng tôi đã phải dùng một phương pháp phổ thơ cũ: nhạc lại lời thơ ở câu trên để chuyển ý nhạc trở về phần hai, cũng như đoạn cuối của bản nhạc:


Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng.
Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn


Để tạo ấn tượng nuối tiếc cho người nghe, khi kết thúc bản nhạc, tôi đã thêm câu:


Anh vẫn yêu màu áo ấy, em ơi


với giòng nhạc đi lên, chuyển từ Sol thứ qua Sib, La, và chấm dứt bằng Rê trưởng.

Cuối năm 1970, trong một đêm nhạc tình ca tại trường đại học Khoa Học, tôi đã giới thiệu bài hát tới các bạn trẻ của tôi. Sau đó bản nhạc đã được phổ biến thường xuyên qua các chương trình nhạc do tôi và nhạc sĩ Trường Sa thực hiện trên đài phát thanh Quân Đội, cũng như trong các đêm nhạc do bạn bè chúng tôi tổ chức tại Sàigòn. Ngoài ra trong năm 1970, tôi cũng đã viết "Tình Khúc Tháng Sáu" phổ theo ý thơ bài Tháng Sáu Trời Mưa của Nguyên Sa. Mãi đến năm 1984 tôi mới phổ bài "Tháng Sáu Trời Mưa" của ông.


Những năm 60, 70, bọn trẻ chúng tôi dù trưởng thành trong khói lửa chiến tranh, có ai không mơ một ngày được đặt chân đến Paris, được cùng người yêu dạo chơi phố phường Paris, hay lang thang bên bờ sông Seine nhớ đến một cuộc tình… Paris như một lời kêu gọi, một nơi chốn tìm về cõi tình yêu. Từ những mộng ước đó, bản nhạc thứ hai tôi phổ từ thơ Nguyên Sa đã thành hình. Có những bài thơ khi muốn phổ nhạc, người nhạc sĩ phải tìm điệu nhạc để chuyên chở ý thơ, hoặc phải thay đổi lời thơ để nhập vào ý nhạc… Riêng "Paris Có Gì Lạ Không Em" khi đọc lên tôi đã nghe phảng phất tiếng phong cầm rộn rã của nhịp 3 luân vũ. Trên phím dương cầm, giòng nhạc dồn dập, chạy dài trên 10 đầu ngón tay, tôi đã hoàn tất phổ bài thơ trong một ngày đầu xuân năm 1971.


Cung Đô trưởng mở đầu nhịp nhàng:


Paris có gì lạ không em
Mai anh về, em có còn ngoan…


tôi thích nhất câu:


Là áo sương mù hay áo em


từ cung Đô trưởng đổi chuyển qua La thứ để vào phần điệp khúc:



Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay
Tóc em anh sẽ gọi là mây…


Khi Hoàng Phúc bạn tôi hát bài này lần đầu tiên, đã nói "bài này phải để chị Thái Thanh hát mới được". Đúng như lời Phúc nói, sau này chị Thái Thanh đã thử bài này. Để thêm một chút Paris, chị đã hát:


La la la la la la
La la la la la la


khi kết thúc bản nhạc.


Sau Áo Lụa Hà Đông và Paris Có Gì Lạ Không Em, tôi đã phổ tiếp Tuổi 13. Cũng như "Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát. Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông", "Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường" là 2 câu thơ được bọn trẻ chúng tôi thuộc nằm lòng ngày đó. Tôi yêu cái ý thơ hồn nhiên, lời thơ trong sáng. Đọc bài thơ thấy hồn lâng lâng, như đang nhớ nhung, hẹn hò, đang đợi chờ, mơ ước. Ý nhạc đến thật nhanh:


Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng
Mưa tôi trả về bong bóng vỡ đầy tay…


Tôi đã vào đề với những nốt nhạc cao của cung Đô trưởng để diễn tả cái thắc mắc ngày mưa ngày nắng của mình. Khi chuyển qua điệp khúc tôi nhạc lại câu "Tôi phải van lơn ngoan nhé đừng ngờ…" 2 lần như một lời trấn an người tình nhỏ và kết thúc tôi nhạc lại câu "Nên đến trăm lần, nhất định mình chưa yêu" như một câu hỏi cho chính lòng mình. Tôi vẫn nghĩ bản nhạc với những niêm luật gò bó đã không thể nói lên hết được ý thơ của tác giả. Chỉ hy vọng bản nhạc đã không làm giảm giá trị của bài thơ.

Đầu năm 1974, khi quyết định cùng một nhóm bạn thực hiện cuốn băng Tình ca Ngô Thụy Miên, tôi đã đến gặp nhà thơ để xin phép thử 3 bản nhạc. Lần đầu tiên nói chuyện để lại ít nhiều kỷ niệm. Nhà thơ rất giản dị, dáng dấp xuề xoà. Ông rất vui khi biết tôi phổ thơ ông, và hỏi tôi sẽ nhờ ai hát ? Tôi nói nhạc sĩ Văn Phụng viết hoà âm, ca sĩ Duy Trác hát Áo Lụa Hà Đông, Thái Thanh hát 2 bài Paris Có Gì Lạ Không Em, Tuổi 13. Và từ đó, Áo Lụa Hà Đông, Paris Có Gì Lạ Không Em , Tuổi 13, đã trở thành một phần đời nhạc Ngô Thụy Miên.


Năm 1980 khi tôi đặt chân đến Cali, người đầu tiên tôi liên lạc để hỏi thăm tin tức sinh hoạt văn nghệ của cộng đồng chúng ta ở hải ngoại là nhà thơ Nguyên Sa. Ông có cho tôi biết về sự ưu ái của thính giả dành cho bài Áo Lụa Hà Đông, cũng như cuốn băng Tình ca Ngô Thụy Miên. Năm sau đó tôi đã rời Cali để lên miền Tây Bắc. Ông vẫn thỉnh thoảng liên lạc bằng điện thoại với tôi, và gửi lên tôi những bài thơ mới viết về sau.

Trong những tháng ngày đầu ở Cali, mặc dù bận rộn với đời sống mới, tôi vẫn tiếp tục sáng tác. Cùng với Em Còn Nhớ Mùa Xuân, Bản Tình Ca Cho Em, Dóc Mơ… Tôi đã phổ bài thơ "Paris" của Nguyên Sa:


Mai tôi đi chắc Paris sẽ buồn, Paris sẽ nhìn theo…


với tôi Paris lúc đó chính là Sàigòn, Sàigòn của những nỗi nhớ muộn màng, Sàigòn của những mất mát không nguôi. Ý nhạc không tuổi trẻ như Tuổi 13, hồn nhạc không dịu dàng như Áo Lụa Hà Đông. Tôi đã mượn thơ ông để gửi gắm tâm sự mình. Tôi biết khi tôi đi Sàigòn đã buồn, và Sàigòn đã nhìn theo.


Năm 1981, sau khi về cư ngụ tại thành phố Seattle, trong nỗi nhớ nhung con đường, những hàng quán thân quen của Sàigòn ngày nào, cùng với ám ảnh thương yêu về Áo Lụa Hà Đông, về Paris của một thời, tôi đã viết bài Nắng Paris Nắng Sàigòn:


Tôi đi giữa trời Paris mà nhớ thương Sàigòn
Nắng Sàigòn hôm nao dìu bước chân em
Qua phố phường vào quán chợ thân quen…


Tôi nghĩ đây là một kết hợp đẹp của một phần đời nhạc Ngô Thụy Miên và thơ Nguyên Sa.

Năm 1986, nhà thơ gọi lên tôi và nói sẽ thực hiện một cuốn cassette gồm một số bản nhạc phổ thơ mới của ông. Tôi gửi xuống ông "Tháng Giêng Và Anh", đã được Hải Ly hát, và sau đó là Vũ Khanh, Ý Lan, Khánh Hà… Ông rất thích bài hát này. Tiếc là bản nhạc đã không được phổ biến rộng rãi như ý ông muốn.


Đầu năm 1997, tôi về Cali ra mắt cuốn CD Riêng Một Góc Trời, trong đó có bài "Cần Thiết" phổ từ thơ ông do Thanh Hà hát. Gần đến phút cuối chương trình, tôi được biết có ông đến tham dự. Rất tiếc tôi đã không thể đến gặp ông để chào hỏi, cũng như ngỏ một lời cảm ơn.


Năm ngoái khi anh chị Duy Trác qua Seattle thăm bạn bè, chúng tôi đã có dịp gặp lại nhau. Anh em hàn huyên tâm sự, và anh tặng tôi một cuốn cassette có chương trình phát thanh giới thiệu chủû đề Thơ Nhạc Nguyên Sa/Ngô Thụy Miên do anh thực hiện tại Houston Texas. Trong chương trình này anh Duy Trác có nhắc lại:


Thi sĩ Nguyên Sa đã có lần nói rằng bài thơ Áo Lụa Hà Đông của ông có một số mệnh rất đặc biệt. Khi bài thơ được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ thành ca khúc, và ca sĩ Duy Trác trình bày, thì từ đó cái tên Áo Lụa Hà Đông đã gắn chặt tên tuổi của 3 người, thi sĩ, nhạc sĩ và ca sĩ. Nó đã trở thành một định mệnh. Mặc dù đây không phải là bài thơ hay nhất của Nguyên Sa, cũng như không phải là ca khúc tuyệt tác nhất của Ngô Thụy Miên, cũng như không phải là bài hát mà ca sĩ Duy Trác trình bày thành công nhất.


Một lần nào đó tôi đã nói "trong nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Nguyên Sa có một chỗ đứng rất đặc biệt.." Vâng, trong nhạc tôi ý thơ ông bàng bạc khắp nơi, đâu đó thấp thoáng một chút nắng Sàigòn, một chút lụa Hà Đông, đâu đó bâng khuâng mật chút trời Paris và người yêu rất nhỏ… Định mệnh đã cho tôi được đọc thơ Nguyên Sa, được nghe tiếng hát Duy Trác, được thưởng thức hoà âm của Văn Phụng, để ngày hôm nay, và mãi mãi sau này, dù các anh còn ở đây, hay đã đi rồi, tôi vẫn xin được gửi lời cám ơn chân thành nhất của một người viết nhạc tình ca đến các anh. Xin lần cuối gửi lời cầu chúc nhà thơ một chuyến đi xa về nơi an lành, vĩnh cữu.


Nguồn: www.honque.net

Ngô Thụy Miên, lụy khúc hôm nay

Phạm Quang Ngọc

Âm nhạc tự nó đã gắn bó thiết tha với đời sống, với những vui buồn vây quanh.

Người yêu nhạc chới với chỉ Gợi Giấc Mơ Xưa của Lê Hoàng Long đã trở thành một tình khúc bất tử. Không biết, hãy nghe sẽ biết. Không thấm, hãy nghe nhiều lần để thấy cõi tình dằng dặc muôn vết chân đau phiền muộn. Nỗi thở than chót vót tận cùng của âm vực.

Tôi biết nữa kìa: Văn Phụng với Suối Tóc để tặng riêng cho Châu Hà, người yêu trong mộng của ông. Còn nữa, như Nguyễn văn Khánh với Nỗi Lòng, gởi người-không-yêu-lại-mình. Nhạc ông quằn quại đau đớn, lẻ loi lạ kỳ. Người con gái phố Hàng Đào năm xưa cũng đã đi vào dòng nhạc Tô Vũ với tác phẩm bất hủ Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa với cái quay quắt tự hỏi lòng:

Lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh
Ta ước mơ một chiều thêu nắng
Em đến chơi quên niềm cay đắng
Và quên đường về...

Âm-nhạc-hôm-nay với tình yêu thánh hóa qua Lời Buồn Thánh của Trịnh Công Sơn. Những Bài Không Tên trong tình-yêu-dấu-mặt của Vũ Thành An. Gần nhất là cuộc tình nát tan, bít lối của Từ Công Phụng gửi Từ Dung qua Mắt Lệ Cho Người:

Đời nhau đã khép đi vội vàng
Tình ta cũng lấp lối thiên đàng
Như cánh chim khuất ngàn
Như cánh chim khuất ngàn
Còn mong, còn ngóng chi ngày yêu dấu
Thời nào đã hết trái tim buồn
Lời nào đã hết trái tim buồn
Xin giữ trong mắt lệ
Xin giữ trong mắt lệ
Nhòa theo từng bước chân người trông vời...

Nhưng với tôi, Ngô Thụy Miên mới chính là người viết những lụy khúc ngày hôm nay. Bản thân, ông là một nhạc sĩ sử dụng vĩ cầm tài hoa. Một phần, ông được đào tạo ở môi trường thuận lợi mà bốn vách tường được đan bằng cung bậc, mái vươn cao lên đỉnh bình yêu quấn quýt ánh tơ trời. Thầy trò quên hết. Quên mình. Quên đời. Tất cả dành cho nét đắm say của nghệ thuật.

Hồn nhạc nơi ông, do đó, lãng đãng, mênh mang trải dài. Dịu dàng, êm ả của đôi tay tình ái. Thanh thoát vượt qua sự ầm ĩ thường hằng. Hơn thế, âm nhạc Ngô Thụy Miên là chất mật quấn chặt tình yêu, tô thắm lên môi nụ cười. Tình yêu hôm nay thành giọt lệ ngày mai. Tình yêu chỉ còn là tiếng thở than trầm buồn, trải dài nghiệt ngã trên những thang âm réo rắt, thích hợp với tiếng vĩ cầm vốn là sở trường của ông.

Tôi thích thứ lụy khúc nồng nàn, tiếng thở than trong hoan lạc hòa vào chăn nệm ấm êm: đó, Niệm Khúc Cuối đó! Hãy nghe, hãy hát, hãy đàn, sẽ thấy đôi vai nhẹ bớt gánh đời. Tuyệt vời lắm bạn ạ!

Đó là biểu tượng của sự độc đáo qua âm-nhạc-giao-thoa cùng xác thịt nồng-cháy-uyên-ương đã đưa tên tuổi ông ngự trị trong thứ lụy khúc ông viết tiếp theo sau này:

Xin cho tôi, tôi như con ngủ. Ru em, đưa em một lần, ru em vào mộng, đưa em vào đời, một thời yêu đương. Cho tôi xin em như gối mộng. Cho tôi ôm em vào lòng. Xin cho một lần, cho đêm mặn nồng, yêu thương vợ chồng...

Ở một tình khúc khác viết trong cung thứ, điệu Slow rải buồn, lụy khúc tìm lại những dấu chân xưa đan bằng kỷ niệm. Đó là Dấu Tình Sầu của những lần hò hẹn bên nhau. Anh có em là anh có tất cả. Ông thầm khổ đau cũng phải méo miệng ngậm tăm. Thần chết xa xa vẫy tay chào thua, chìm khuất. Bóng vĩnh cửu như làn mây trắng về trời. Ở đó có tình yêu của chúng ta thăng hoa như từng mảng nuột nà của trời xanh bát ngát. Niêàm hoan lạc chói lòa ngất ngây.

Anh có em là anh có tất cả. Ngọc dát ở dưới chân. Trăng kề bên gối mộng. Da thịt em thơm hương hoàng lan khiến anh chao đảo thành cánh bướm tình si.

Sao hôm nay em chẳng còn là của anh?

Cái báu vật anh ôm, anh giữ, trộn lẫn trong hơi thở, thôi rồi chẳng còn! Anh mất em là anh mất tất cả. Hạnh phúc xa bay. Nỗi chết cận kề. Anh đang gọi em thảng thốt khi bóng chiều tà bủa cháy từng lỗ chân lông để anh thành thể xác trơn trụi.

Có phải em hiện hình là Dấu Tình Sầu trải nhớ nhung đan bằng kỷ niệm, để anh thấy cuộc đời chỉ đáng sống khi anh còn hiện hữu, lân la trong niềm nhức nhối thân yêu đó?

Chiều còn vương nắng để gió đi tìm
Vết bước chân xưa qua bao nhiêu lần
Lời ru đan ngón tay buồn
Ngàn năm cho giá băng sầu
Giận hờn xin ngập lối đi...

Ngô Thụy Miên oán trách cả mùa thu sao vẫn chưa phai để ông cố quên đi những lần “chung bước yêu đương” trên con đường tình:

Và rồi mùa thu về trong mắt em
Hàng cây lá úa xanh xao nhiều
Vòng tay khép kín đôi mi nồng
Chuyện mình ngày xưa đành xin lãng quên
Cuộc tình đã chết theo sau thu tàn
Người về đây xin tròn giấc mơ

Những lụy khúc của Ngô Thụy Miên là nỗi dằn vặt khôn nguôi. Giòng âm thanh bay bổng, xuống trầm một cách kỳ diệu, xoáy vào lòng người những cảm giác lâng lâng mịt mờ. Ông là số rất ít các nhạc sĩ thành danh ngày hôm nay. Nhạc ông có một sắc thái độc đáo, cao sang. Lời ca ông viết bằng nhịp đập trái tim bão nổi. Đôi khi chan hòa, đôi lúc cuồng nhiệt như mạch nước vỡ bờ.

Người viết không đủ khả năng phân tích cặn kẽ những lụy khúc mang mang, dàn trải trong hầu hết những nhạc phẩm ông viết cho đời, cho người, cho cuộc tình không lối thoát...

Ông giống Trịnh Công Sơn mang chất thơ quyện trong lời nhạc. Ông không trăn trở, dằn vặt, thống trách tình yêu... như những Bài Không Tên của Vũ Thành An.

Ông cũng không thể như Từ Công Phụng gieo nhân, hái quả trên Ngọn Tình Sầu để biến tình yêu thành Giọt Lệ Cho Ngàn Sau.

Ở khía cạnh thơ phổ nhạc, nhắc đến Phạm Duy, Phạm Đình Chương... không thể không nhắc đến Ngô Thụy Miên.

Tên ông đã gắn bó với những vần thơ thoát khuôn sáo, nhưng đầy diễm ảo của Nguyên Sa. Hai nhạc sĩ mang họ Phạm đã sừng sững như bóng núi cản lối những tài năng muốn phổ-thơ-thành-ca-khúc. Điều rất khó nuốt và hiếm hoi. Hãy thử đếm trên mười đầu ngón tay rồi xem!

Họ Trịnh với Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu phổ thơ Trịnh Cung tuyệt đấy, nhưng là thứ con so. Từ quân với Trên Ngọn Tình Sầu, Ơn Em... bắt cái tài hoa từ thơ Du Tử Lê vào chất nhạc rạt rào của mình vẫn chỉ là cơn nắng ửng hồng sớm mai, nhưng lịm dần trong thứ nắng quái chiều hôm.

Phạm Duy, ôi vô số kể. Ông đã là ông vua không ngai từ lâu mất rồi. Ngậm Ngùi, dòng lục bát của Huy Cận phổ thành ca khúc nghe hoài không chán. Và còn nữa. Và dài dài theo nhịp rung cảm bất tận của ông. Lại nữa như Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng của nhà-thơ-phá-giới Phạm Thiên Thư đấy. Đó là kết quả của sự chọn lựa từng câu thơ trong nguyên cả một tập thật bắt ý. Tên tuổi Nguyễn Tất Nhiên qua nhạc Phạm Duy đã trở thành bất tử.

Ngoài Phạm Duy, chúng ta không thể quên Phạm Đình Chương, cũng đã để lại cho đời những bài thơ phổ nhạc tuyệt vời: Mộng Dưới Hoa, thơ Đinh Hùng là một điển hình. Và còn nữa như: Khi Cuộc Tình Đã Chết, thơ Du Tử Lê, Dạ Tâm Khúc, Đêm Màu Hồng, thơ Thanh Tâm Tuyền, Đôi Mắt Người Sơn Tây, thơ Quang Dũng...

Đó là những tài năng điển hình đã tô điểm một cách hài hòa độc đáo giữa hai yếu tố THƠ-NHẠC. Người ta thường nhận xét qua thơ đã có nhạc điệu tiềm ẩn trong đó. Không phải bàn tay phù thủy khó phổ thành một ca khúc thoát hẳn khuôn sáo của thơ. Có nhiều nhạc sĩ phổ thơ, nhưng mấy ai thành công?

Với Ngô Thụy Miên, ông đã đem thơ Nguyên Sa vào trong âm điệu một cách biến hóa tài tình. Dưới cái nhìn của ông, thơ Nguyên Sa nói riêng, đầy nhạc tính, như đã xóa nhòa biên giới giữa thơ và nhạc. Ông có công đổi-mới ngôn-ngữ tình-yêu-hôm-nay. Ngô Thụy Miên rất tài hoa đã đem thứ ngôn ngữ đó giao hoan, dập vùi, nhún nhảy... thành những tấu khúc hài hòa lạ thường.

Thơ Nguyên Sa của tuổi trẻ mới biết yêu. Những cô nàng thích ô-mai. Những anh chàng như con gà trống vừa đủ lông cánh. Cô nàng ngậm ô-mai nhăn nhó, xuýt xoa, nhưng vẫn thích của độc. Anh chàng gà tồ nhắm mắt gáy líu lo, nhưng cũng biết dụ khị những nàng gà tơ bằng một thứ-mồi-tình-yêu vớ vẩn...

Cái độc đáo, mật ngọt của thơ Nguyên Sa là ở chỗ “nhân gian có thể đặt chân tới đó” tha hồ vung vít, yêu nhau, đấu hót tưng bừng!

Nhạc Ngô Thụy Miên là nỗi réo than của sự trở về. Là nét nồng nàn của đêm sâu ân ái. Là cái buồn vời vợi theo sự xoay vần của con tạo. Là nỗi đau thương vô bờ của tình-yêu lấp-lối.

Thơ đó, nhạc đó, quyện vào nhau chỉ biết à ới mà thôi! Vừa đủ cho các đôi tình nhân hát mãi bên nhau không chán! Những vòng tay ôm, ôm mãi không vừa! Những nụ hôn đắm đuối, nồng nàn không thưa!

Những Aó Lụa Hà Đông, Tuổi Mười Ba, Paris Có Gì Lạ Không Em?... là những bến bờ neo tình để rồi ngày mai lại lênh đênh trên giòng năm tháng phiền muộn không bến đỗ.

Cám ơn Ngô Thụy Miên đã viết dâng đời những giòng nhạc châu báu, ngời sáng mãi trong mỗi trái tim biết thổn thức, quằn quại bằng hương vị của nước-mắt-tình-yêu...


Nguồn: Dactrung

Ngô Thụy Miên: 38 năm viết nhạc tình

Trường Kỳ


Ngô Thụy Miên có lẽ là một trong số rất ít nhạc sĩ sáng tác có một cuộc sống nhàn nhã, như một ẩn sĩ ở riêng một góc trời tại thành phố tĩnh mịch và hiền hòa có tên Olympia, tiểu bang Washington. Mỗi ngày một ly rượu vang vào bữa cơm tối, cuối tuần quây quần quanh bàn "mà chược" với vài ba người bạn thân, ngày thường đi làm đều đặn tại một nơi đã 20 năm. Bên cạnh anh luôn có bóng dáng người bạn đời đã cùng anh chung sống trong niềm hạnh phúc từ 24 năm qua. Góc trời của Ngô Thụy Miên là như vậy. Nơi đó, anh sống để viết nhạc bằng tất cả sự rung cảm sau 38 năm cống hiến những tình khúc đã in sâu trong trí nhớ mọi người, kể từ ca khúc đầu tiên "Chiều Nay Không Có Em" vào năm 1965.

Ngô Thụy Miên tên thật là Ngô Quang Bình, sinh năm 1948 tại Hải Phòng, trong một gia đình 7 người con mà anh là người con thứ nhì. Bốn trong năm người em gái cùng người anh cả của anh hiện cư ngụ tại Canada. Một người em gái khác còn ở lại Việt Nam. Ngô Thụy Miên lớn lên trong sự gần gủi với sách vở, thơ văn (gia đình anh điều hành nhà sách Thanh Bình ở Hải Phòng, và sau đó ở Sài Gòn, trên đường Phan Ðình Phùng) và do đó tâm hồn anh đã sớm có cơ hội phát triển về lãnh vực nghệ thuật đặc biệt là âm nhạc. Anh bắt đầu học nhạc dưới sự chỉ dẫn của các nhạc sĩ Hùng Lân và Ðỗ Thế Phiệt. Thời gian kế tiếp, song song với việc theo học ở trường Nguyễn Trãi và Ðại học Khoa Học, anh thi vào trường Quốc Gia Âm Nhạc. Tám năm sau anh tốt nghiệp về violon và nhạc pháp. Chính trong môi trường âm nhạc đó, anh đã quen với Ðoàn Thanh Vân - sau này trở thành vợ anh - khi hai người cùng theo học tại đây vào những năm đầu của thập niên 60.

Ðoàn Thanh Vân là con gái của nam tài tử lão thành Ðoàn Châu Mậu, với những anh chị em đều là những người hoạt động về âm nhạc như Ðoàn Châu Nhi, Ðoàn Châu Bào, Ðoàn Thanh Sâm, Ðoàn Thanh Tuyền.

Sự quen biết giữa Ngô Thụy Miên và Ðoàn Thanh Vân bị ngắt quãng một thời gian để sau đó họ gặp lại nhau vào năm 1973, đưa đến quyết định cùng nhau thành hôn. Nhưng biến cố tháng Tư 75 đã xẩy ra khiến dự định của hai người không được thành tựu tại Việt Nam, khi Ðoàn Thanh Vân cùng với toàn gia đình di tản sang Mỹ trong ngày đầu tiên, để lại Ngô Thụy Miên quay quắt với niềm nhớ thương vô hạn. Chính niềm thương nhớ đó đã giúp anh sáng tác nên ca khúc "Em Còn Nhớ Mùa Xuân". Ðây là nhạc phẩm duy nhất Ngô Thụy Miên sáng tác tại Việt Nam sau tháng Tư, 1975, được hoàn tất vào cuối năm 1978 khi anh vượt biên đến được Pulau Bidong cùng một số nghệ sĩ trong ban văn nghệ của công ty Ðại Dương. Sau sáu tháng ở trại tỵ nạn, Ngô Thụy Miên sang Montreal, Canada vào tháng Tư năm 1979 đoàn tụ với gia đình. Từ San Diego, được tin người yêu đã đến được Montreal, Ðoàn Thanh Vân đã tức tốc bay sang nối lại cuộc tình.

Cùng năm 79, hai người qua San Diego cư ngụ một thời gian ngắn, trước khi dời lên Orange County vào cuối năm. Qua năm 80, Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho UCLA. Vì vấn đề di chuyển bất tiện, anh đã nghỉ việc sáu tháng sau để cuối cùng hai vợ chồng quyết định dọn lên Seattle, Washington, cư ngụ. Tại đây, anh cho ra đời sáng tác đầu tiên tại hải ngoại của mình là "Bài Tình Ca Cho Em".

Những ngày đầu ở Seattle, Ngô Thụy Miên thường trình diễn vào dịp cuối tuần trước khi được thu nhận vào làm việc về ngành điện toán cho một cơ quan chính phủ của tiểu bang Washington. Sau khi trụ sở của cơ quan này dời về thành phố Olympia (thủ đô của tiểu bang Washington), vợ chồng anh một lần nữa lại di chuyển theo và cư ngụ tại thành phố nhỏ êm đềm và rất ít người Việt này từ năm 1983 cho đến nay. Từ góc trời nhỏ bé đó, Ngô Thụy Miên đã tìm lại được nguồn cảm hứng bị trì trệ bởi những biến cố liên tiếp xẩy ra trong cuộc sống của anh. Từ sự căng thẳng trong khi còn kẹt lại Việt Nam, niềm thương nhớ người yêu, sự hồi hộp phập phồng khi vượt biên đến những ngày đầu tiên tiếp xúc với cuộc sống mới cùng những lo toan về công ăn việc làm trong khi chờ đợi một nơi cư trú ổn định. Những ca khúc quen thuộc khác được liên tiếp tung ra sau đó như: "Nắng Paris Nắng Sài Gòn", "Mùa Thu Xa Em", Tháng Giêng Và Anh", "Dốc Mơ"…

Trong thập niên 90, Ngô Thụy Miên được nhắc nhở đến nhiều với những "Cần Thiết", "Em Về Mùa Thu", "Trong Nỗi Nhớ Muộn Màng"… và nhất là "Riêng Một Góc Trời", được coi là một trong vài tình khúc tiêu biểu của thập niên qua, được sáng tác vào năm 1997. Năm 2000, nhạc phẩm "Mưa Trên Cuộc Tình Tôi" của anh cũng được thính giả đón nhận một cách đặc biệt.

Tổng cộng cho đến nay, Ngô Thụy Miên đã sáng tác được trên 60 ca khúc, với khoảng 20 bài sáng tác ở trong nước. Tại hải ngoại vào năm 1982, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã đứng ra thực hiện băng nhạc "Tình Khúc Ngô Thụy Miên 2" gồm một số nhạc phẩm chọn lọc được anh viết trong thập niên 80 như "Bài Tình Ca Cho Em", "Dốc Mơ"… và bài tình ca duy nhất anh viết sau năm 1975 tại Sài Gòn "Em Còn Nhớ Mùa Xuân".

Vào năm 1993, trung tâm Thúy Nga đã dành riêng cho anh một chương trình video đặc biệt và sau đó phát hành một CD gồm những sáng tác mới của anh tại hải ngoại, chưa kể đến nhiều ca khúc của anh được thu thanh rải rác trên rất nhiều sản phẩm audio và video.

Gần đây hơn, cũng trung tâm Thúy Nga đã mời anh xuất hiện trên chương trình video số 66 "Người Tình và Quê Hương", phát hành trong năm 2002. Trong đó có tám ca khúc, gồm ba bài mới là "Nỗi Ðau Muộn Màng" và "Biển và Em", sáng tác vào năm 2001, "Nỗi Ðau Từ Ðấy" (sáng tác từ năm 97). Những nhạc phẩm này với tám nhạc phẩm khác cùng "Liên Khúc Ngô Thụy Miên" cũng đã được đưa vào CD của trung tâm Thúy Nga, mang tựa đề "Nỗi Ðau Muộn Màng".

Vào tháng Tư vừa qua, trung tâm Asia cũng đã mời anh xuất hiện trên một chương trình "Tác Giả và Tác Phẩm" với phần giới thiệu một nhạc phẩm mới nhất của anh là "Một Cõi Tình Phai", viết vào năm 2002 do Thanh Hà trình bầy.

Người ta nhận thấy có sự khác biệt giữa dòng nhạc của Ngô Thụy Miên tại hải ngoại khi so sánh với dòng nhạc của anh thời kỳ còn ở trong nước. Ngô Thụy Miên nói: "Trong hai thập niên 60, 70 thì ảnh hưởng nơi nhạc của tôi là nhạc tiền chiến. Luôn luôn tôi muốn viết nhạc vui mặc dầu là một chuyện buồn. Cái đẹp của cuộc tình là có đổ vỡ nhưng mình vẫn thấy đẹp". Anh cho biết những ca khúc ở hải ngoại của anh: "ngay cả những lời từ và dòng nhạc cũng vậy, chậm hơn và buồn bã hơn. Lời có vẻ bi quan hơn, không đẹp như những năm 60, 70 nữa". Ngô Thụy Miên giải thích: "Tôi nghĩ là âm nhạc cũng như đời sống. Qua tới đây tất cả không gian và thời gian đều biến đổi, thành ra con người mình cũng biến đổi theo. Có những lúc tình cảm của mình trùng xuống, không còn được vui vì chung quanh mình, cái ambiance không còn như ở quê hương nữa. Thời gian 60, 70 là đẹp nhất của mình. Bây giờ làm sao tìm lại được những đêm đi lang thang ngoài phố, gặp gỡ bạn bè để chơi nhạc hay tổ chức những buổi trình diễn?".

Những năm gần đây, thỉnh thoảng Ngô Thụy Miên vẫn nhận lời xuất hiện trước khán thính giả khắp nơi để giới thiệu về dòng nhạc của mình dù anh thành thật công nhận là "vẫn còn nguồn cảm hứng, tuy nhiên không cách gì viết được nhiều như trước. Bây giờ cần có cảm hứng thật mạnh, thật lớn mới có thể viết được. Lý do là đầu óc mình nó cũng không còn nhặm lẹ như trước. Có thể do hoàn cảnh sinh sống, cách suy nghĩ và số tuổi tương đối khá cao". Nhưng dù sao anh vẫn mang trong lòng một ý định thực hiện một CD cho chính mình, với những sáng tác mới và một hai ca khúc quen thuộc ưng ý nhất của anh. Nhưng không phải trong thời gian này vì công việc anh đang làm đòi hỏi quá nhiều thời gian, khi mới chuyển qua thêm về lãnh vực "net-working", cần phải làm quen với những "platforms" và ngôn ngữ mới trong ngành điện toán. Ngoài ra anh cũng rất tích cực trong những công tác từ thiện như đã cùng với Từ Công Phụng và Vũ Thành An xuất hiện trong một chương trình video thực hiện tại Portland, Oregon để giúp các trẻ em bị bệnh cùi tại Cao Nguyên hoặc cùng với Ðức Huy và Nam Lộc tham gia một buổi văn nghệ tại Nam Cali để gây quỹ giúp một số giáo sư trường Nguyễn Trãi - là nơi anh theo học trước kia - đang trong tình trạng khó khăn.

Vào ngày 18 tháng Năm, 2003 anh lại sẽ có mặt tại San Jose trong một chương trình "Hát Cho Tuổi Thơ" do tổâ chức ICAN thực hiện tại Mexican Heritage Center, với Khánh Ly, Ái Vân, Anh Dũng, Quang Tuấn, Diễm Liên và dàn nhạc thính phòng do nhạc trưởng Thomas Ngô điều khiển.

Việt Mercury
Trường Kỳ 05/2003

Dear readers,

The following is a pinned post. Hoctro's Place (Góc Học Trò) is a place for me to deliver my past, present, and future thoughts about music and about my "vibe-coding" experiences with Claude Code, tips and tricks, so to speak. It's also a place to post my collaboration with Claude Code, ranging from supervising it to write analysis essays about prominent Vietnamese musicians such as Phạm Duy and Trịnh Công Sơn, to everything else that I find interesting.

For me, Claude AI's analysis essays are so in-depth and showing many new perspectives, it would be wasteful not to share with the world. It is a collaboration, because just like "vibe-coding", I might have not written the words, but I was the one whom conceived the original ideas, supplied the documents for Claude to research from, read and corrected hallucinations, and gave final approval for it to be published.

I sometimes print transcripts of interesting videos from other places, in order to share with others whom are more comfortable in reading and thinking things through. I don't have adsense as a side source income, so again if anything it's just helping the original video owners to gain more potential viewers, and readers to have readable material to learn.


Bạn đọc thân ái,

Sau đây là vài dòng tự sự. Hoctro's Place (Góc Học Trò) là chỗ để tôi chia sẻ những suy nghĩ của mình về âm nhạc và về những trải nghiệm "vibe-coding" với Claude Code, mấy mẹo hay ho mà tôi học được. Đây cũng là chỗ để tôi đăng những bài làm chung với Claude Code, từ việc tôi hướng dẫn nó viết bài phân tích về những nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng như Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, cho tới đủ thứ khác mà tôi thấy hay.

Với tôi, những bài phân tích của Claude AI rất sâu sắc, chỉ ra nhiều góc nhìn mới, không chia sẻ với bạn đọc thì rất uổng phí. Nói là làm chung, bởi vì giống như "vibe-coding" vậy đó, tôi có thể không phải là người viết ra từng chữ, nhưng tôi là người nghĩ ra ý tưởng ban đầu, cung cấp tài liệu cho Claude nghiên cứu, đọc lại rồi sửa mấy chỗ nó viết sai, và quyết định cuối cùng có đăng hay không.

Thỉnh thoảng tôi cũng in lại nội dung mấy video hay từ chỗ khác, để chia sẻ cho những bạn nào thích đọc và suy ngẫm hơn là coi video. Tôi không có chạy quảng cáo kiếm tiền gì hết, nên nếu có gì thì cũng chỉ là giúp mấy chủ video gốc có thêm người xem, và giúp bạn đọc có thêm tài liệu để học thôi. Chào bạn và mong bạn tìm thấy những khoảnh khắc vui khi đọc trang này.