Mời bạn đọc theo dõi "Featured Post":

Giáo Sư Đào Mộng Nam: Truyện Kiều Và Chữ Nho

9.14.2026

Dịch hai trang "Lời Nói Đầu" của "Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị" (Dictionarium Anamitico-Latinum)

Written by: Claude Sonnet AI.

Curator/Editor: Học Trò.


Bạn đọc thân mến,

Tiếp tục "pushing the boundary" của việc dùng Claude vào các ứng dụng trước kia không thể thực hiện được, Tôi bảo nó dịch hai trang đầu tiên của "Lời Nói Đầu" sách Dictionarium Anamitico-Latinum (Tự điển Hán/Nôm - Latin) mà Đức Ông Giám mục Jean Louis Taberd đã xuất bản năm 1838 . Tôi gửi các bạn cùng xem, và trang đầu của phần tự điển. Từ từ tôi sẽ gửi nốt các phần còn lại của lời giới thiệu này đến bạn đọc.

Thân mến,

Học Trò (9/14/2026)

Ghi chú: tôi chọn sách này vì nó là Hán-Nôm, như chữ "núi" sau đây, trang 379, Claude đã nói qua ờ bài viết trước.


i

MONITUM

(Trang in: i — page_016.jpg)

AMICE LECTOR,

Hoc opus fuit primò incœptum à viro in linguâ Cocincinensi doctissimo, nempè Illustrissimo et Reverendissimo Josepho Georgio Petro Pigneau Episcopo Adranensi nec non Vicario Apostolico Cocincinæ. Ipsius nomen in ævum celebrabitur, siquidem dignum laude virum fama vetat mori. Igitur non est mens nobis præconium ipsi tribuere, haud equidem arbitramur nos hoc posse dignè perficere. Opus majus non tàm mole quam re, idem Præsul Illustrissimus confecerat, sed codex autographus adeò desiderandus, anno 1778, evasit præda ignis in incendio collegii Anamitici, in Provinciâ Cà mau, tùnc constituti. Eximiæ etsi parvæ nobis supererant reliquiæ hujus operis, quas nos qui tanto viro, quamvis impares, in eodem Vicariatu Apostolico successimus, eas recolligere et recognitione factâ, plurimis vocibus, Grammaticâ, Tractatu particularum, Commentatione versificationis Anamiticæ, Horto florido, nec non Tabulâ Clavium Characterum, pro viribus adaugere et in lucem edere conati sumus. Animi nostri propositum fuit Missionarios Sancti Evangelii præcones in Imperio Anamitico, Alumnos indigenas, et viros litteraturæ extraneæ cupidos, in hujusce linguæ studio sublevare. In viatorum et mercatorum utilitatem adjecimus in supplementi modum, Vocabularium Anglicum, Gallicum, Latinum et Cocincinense, quod ad majorem convenientiam, ad calcem Dictionarii Latino-Anamitici, sicut et Tabulam Geographicam ejusdem Imperii, posuimus.

Công trình này trước tiên được khởi xướng bởi một vị rất am tường tiếng Nam Kỳ, đó là Đức Cha khả kính Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau), Giám mục hiệu tòa Adran kiêm Đại diện Tông tòa xứ Nam Kỳ. Danh tiếng ngài sẽ còn lưu truyền mãi mãi, vì tiếng thơm không cho phép một người xứng đáng được ca ngợi phải bị lãng quên. Vì vậy chúng tôi không có ý định nhận công về mình, vì thật ra chúng tôi không nghĩ mình có thể hoàn thành việc này một cách xứng đáng như ngài. Công trình này — lớn về nội dung hơn là về khối lượng — chính vị Giám mục khả kính ấy đã hoàn thành, nhưng bản thảo gốc, vốn rất đáng tiếc, đã trở thành mồi lửa trong vụ cháy trường (chủng viện) An Nam, khi đó đặt tại tỉnh Cà Mau, vào năm 1778. Chỉ còn lại một ít, tuy quý giá, di sản của công trình này đến tay chúng tôi — những người kế nhiệm vị đại nhân ấy, dù không xứng tầm, trong cùng địa phận Đại diện Tông tòa — và chúng tôi đã cố gắng hết sức thu thập lại, rồi sau khi rà soát, bổ sung thêm rất nhiều từ ngữ, một cuốn Văn phạm, một Khảo luận về các tiểu từ, một bài bình giải về cách làm thơ An Nam, một tuyển tập "Vườn Hoa", cùng một Bảng Chìa Khóa Chữ Viết, và cố gắng cho ra mắt công trình này. Ý định của chúng tôi là để giúp đỡ các nhà truyền giáo rao giảng Phúc Âm tại đế quốc An Nam, các chủng sinh bản xứ, và những người ham học ngoại ngữ, trong việc học thứ tiếng này. Để tiện lợi cho khách lữ hành và thương nhân, chúng tôi đã thêm vào, như một phần phụ lục, một cuốn Từ Vựng Anh, Pháp, La Tinh và Nam Kỳ, mà để tiện hơn, chúng tôi đặt ở cuối cuốn Tự Điển La Tinh - An Nam, cùng với một Bảng Địa Lý của đế quốc ấy.

Præcipuum nùnc nobis incumbit pauca de characteribus nec non de linguâ Anamiticâ delibare. Dubium non est quin Anamitarum lingua à Sinensi ortum ducat. Ipsorum enim characteres non tantùm magnam habent affinitatem cum Sinensibus, sed vel integrè vel particulatìm ab ipsis mutuantur. Attamen utriusque gentis characteres seu hieroglyphi talem subiere commutationem, ut neque legendo, neque loquendo se invicem intelligant. Qui ex honestâ oriuntur familiâ Sinensibus characteribus dant operam, illi enim characteres in usu sunt apud Anamitas tùm in legibus tùm in supplicibus libellis et aliis. Qui magna spectant, vel honoribus dignitatibusque inhiant, toto pectore animique impetu in characterum Sinensium studium incumbere debent, et hos scribendo characteres cum Sinensibus colloqui possunt, adeò diversus est pronunciationis modus inter utramque gentem, ut aliter sermonem mutuum habere nequeant. Undè duæ linguæ usurpantur in Cocincinâ; scilicet, lingua Doctorum, seu lingua Sinensis, et lingua communis quæ in usu quotidiano ab omnibus adhibetur et de quâ nùnc sermonem habemus.

Điều quan trọng bây giờ chúng tôi cần trình bày đôi điều về chữ viết cũng như về tiếng An Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa, tiếng An Nam có nguồn gốc từ chữ Hán. Chữ viết của người An Nam không những có sự gần gũi lớn với chữ Hán, mà còn được vay mượn từ chữ Hán, hoặc toàn bộ hoặc từng phần. Tuy nhiên chữ viết hay chữ tượng hình của hai dân tộc đã trải qua một sự biến đổi đến mức họ không thể hiểu nhau được, dù là qua đọc hay qua nói. Những người xuất thân từ gia đình khá giả thì chuyên tâm học chữ Hán, vì chữ Hán được dùng trong luật pháp, đơn từ và các loại văn bản khác của người An Nam. Những ai muốn đạt được điều lớn lao, hoặc khao khát chức tước danh vọng, thì phải dốc hết tâm sức vào việc học chữ Hán, và nhờ viết được những chữ này mà họ có thể trò chuyện được với người Tàu — vì cách phát âm giữa hai dân tộc khác nhau đến mức họ không thể trò chuyện với nhau bằng lời nói. Do đó có hai thứ tiếng được dùng ở xứ Nam Kỳ: đó là tiếng của các nhà nho (chữ Nho), tức tiếng Hán, và tiếng phổ thông được mọi người dùng hằng ngày, chính là thứ tiếng chúng tôi đang bàn tới ở đây.

Lingua communis, equidem characteribus scribitur Sinensibus, sed sæpè evenit, ut isti characteres neque pronunciationem neque sensum linguæ Sinensis servent. Ex iis alii quandòque servant significationem Sinensem, sed modo diverso pronunciantur; ut, v. g. 人 (người) homo, Sinenses pronunciant Jîn, alii Jen, Anamitæ verò pronunciant Nhơn. Alii pronunciationem fermè retinent; ut, 吧† (cha) pater, cha; qui etiam chá à Sinensibus enunciatur, sed non indicat eamdem rem ac Sinenses, siquidem chá in linguâ Sinicâ significat (giận dữ) irasci, et in linguâ Anamiticâ ipsius sensus est (cha) pater. Ex iis alii et ferè eamdem pronunciationem et sensum retinent, sed illo etiam utuntur ad sensum longè diversum cum pronunciatione longè diversâ à charactere Sinensi, ut 明 (sáng, rõ) clarum, qui ab Anamitis enunciatur Minh, et à Sinensibus Ming vel Mim, pro modo diverso scribendi ab Europæis usurpato, et (sáng, rõ) clarum significat apud utramque gentem. Sed etiam idem character 明 ab Anamitis ad– (câu bị cắt cuối trang, tiếp tục sang page_017.jpg, chưa dịch ở đây)

Tiếng phổ thông, tuy được viết bằng chữ Hán, nhưng lại thường xảy ra việc những chữ ấy không giữ được cách đọc lẫn nghĩa gốc của tiếng Hán. Trong số đó, có chữ đôi khi vẫn giữ đúng nghĩa Hán nhưng lại đọc theo cách khác — ví dụ chữ 人, nghĩa là "người": người Tàu đọc là Jîn, có người đọc Jen, còn người An Nam thì đọc là Nhơn. Có chữ gần như giữ nguyên cách đọc — như chữ 吧†, nghĩa là "cha", đọc là "cha"; chữ này cũng được người Tàu đọc là "chá", nhưng lại không mang cùng nghĩa như bên Tàu, vì "chá" trong tiếng Hán có nghĩa là "giận dữ", còn trong tiếng An Nam nghĩa của nó lại là "cha". Lại có chữ vừa giữ gần như nguyên cách đọc lẫn nghĩa, nhưng đồng thời cũng được dùng với một nghĩa khác hẳn, đi kèm cách đọc khác hẳn so với chữ Hán gốc — như chữ 明, nghĩa là "sáng/rõ", người An Nam đọc là Minh, còn người Tàu đọc là Ming hoặc Mim, tùy theo cách phiên âm mà người Âu châu dùng, và cả hai dân tộc đều hiểu "sáng/rõ" là nghĩa của chữ ấy. Nhưng cũng chính chữ 明 này còn được người An Nam dùng để– (câu bị cắt ở cuối trang, tiếp tục sang trang sau, chưa dịch ở đây).

Ghi chú OCR (giữ nguyên từ cặp latin-viet-016): chữ Hán 吧 đánh dấu † — không chắc chắn 100%, xem chú thích ở latin-viet-016.md. Không mở lại câu hỏi này ở đây, chỉ dịch nghĩa La Tinh đã cho ("pater" = "cha").


MONITUM (tiếp theo)

(Trang in: ii — page_017.jpg)

hibetur ad indicandam vocem mâng vel mừng, gratulari, gratulatio, undè ipsius sensus et pronunciatio cognosci nequit nisi ex contextu et sensu orationis. Si scribant, v. g. 明鏡 (cái gương) speculum, Minh Kính, vox kính posita post vocem minh, ipsis sat benè indicat ipsius primitivam pronunciationem sensumque genuinum esse servanda; si verò scribant in epistolâ; v. g. 敬明 (lời chào kính trọng), Tùnc usus et consuetudo vult ut ipsi intelligant sensum et pronunciationem non esse Kính minh, sed Kính mừng, salutatio reverentiæ et gratulationis. Sæpissimè accidit ut ad scribendum aliquod verbum Anamiticum duo characteres adjungantur, et illos characteres nos vocamus verè et propriè Anamiticos, ut potè ab ipsis conflatos ad indicandas quasdam voces vel pronunciationes ab ipsis usurpatas; hos characteres asterico * notavimus in Tabulâ clavium characterum ad calcem Dictionarii positâ. Ex his duobus characteribus, unus decernit verbi significationem, alter autem ipsius pronunciationem. Character verbi potestatem indicans aliquandò hoc efficit circumscriptè et modo perspicuo, quia in Sinensi linguâ eamdem habet significationem ac ea quæ intenditur in verbo Anamitico, v. g. ad scribendum verbum Anamiticum miệng, os significans, ponitur ab unâ parte character Sinensis 口 (miệng) os indicans, et prope illum adjicitur alius character 皿† (thành phần biểu âm, đọc "minh") mịnh, sonum indicans; prior ostendit rem seu os, et posterior statuit sonum seu pronunciationem miệng, quam producere intendunt per utriusque chracteris conjunctionem 口皿† (chữ ghép liền hai thành phần). Sed quandòque character usurpatus ad statuendam vocis potestatem, non indicat illam nisi modo vaguo, quia in Sinensi linguâ non significat idem objectum, sed indicat tantùm istud objectum ad talem ordinem vel tale genus pertinere; v. g. ad delineandum characterem Sẻ, passerem significans, ponitur primò character avium in genere 鳥 (chim) prope litteram seu characterem 仕 (thành phần biểu âm, đọc "sĩ") Sĩ pronunciationis indicativum; in illo casu, neminem inter eos fugit, avem illo charactere 仕鳥† (chữ ghép liền, dùng cho "sẻ") designatam esse Sẻ, seu passerem.

[tiếp nối câu bị ngắt ở cuối trang 016:] …nhưng cũng chính chữ 明 ấy còn được người An Nam dùng để chỉ tiếng mâng hay mừng, nghĩa là "chúc mừng, lời chúc mừng," mà nghĩa và cách đọc của nó chỉ có thể biết được qua văn cảnh và ý câu văn. Nếu họ viết, chẳng hạn, 明鏡 ("cái gương"), tiếng La Tinh speculum, đọc Minh Kính — chữ kính đặt sau chữ minh đủ để cho biết rằng cách đọc gốc và nghĩa đúng của nó cần được giữ nguyên; nhưng nếu họ viết trong một bức thư, chẳng hạn 敬明 ("lời chào kính trọng"), thì theo thói quen và tập tục, người đọc phải hiểu nghĩa và cách đọc không phải là Kính minh, mà là Kính mừng, nghĩa là "lời chào kính trọng và chúc mừng." Rất thường xảy ra việc để viết một tiếng An Nam nào đó, hai chữ được ghép lại với nhau, và những chữ ấy chúng tôi gọi đúng và riêng là chữ An Nam, vì chính người An Nam đã tự ghép chúng lại để chỉ một số tiếng hay cách đọc riêng của họ; những chữ này chúng tôi đã đánh dấu bằng dấu sao * trong Bảng Các Chữ Khoá đặt ở cuối cuốn Từ Điển. Trong hai chữ ghép ấy, một chữ quyết định nghĩa của tiếng, chữ kia quyết định cách đọc của nó. Chữ chỉ nghĩa đôi khi làm việc này một cách rõ ràng, dễ hiểu, vì trong tiếng Hán nó cũng mang đúng nghĩa như nghĩa muốn nói trong tiếng An Nam — chẳng hạn, để viết tiếng An Nam miệng, nghĩa là "cái miệng," người ta đặt một bên chữ Hán 口 ("miệng"), chỉ nghĩa "miệng," rồi gần đó thêm một chữ khác 皿† (thành phần biểu âm, đọc "minh"), chỉ âm đọc; chữ trước chỉ sự vật, tức "miệng," chữ sau định âm hay cách đọc "miệng," mà người ta muốn tạo ra qua việc ghép hai chữ ấy lại, tức 口皿† (chữ ghép liền hai thành phần). Nhưng đôi khi chữ dùng để định nghĩa của tiếng chỉ cho biết một cách mơ hồ, vì trong tiếng Hán nó không mang đúng nghĩa của sự vật ấy, mà chỉ cho biết rằng sự vật ấy thuộc về một loại hay một hạng nào đó — chẳng hạn, để vẽ chữ Sẻ, nghĩa là "chim sẻ," trước hết người ta đặt chữ chỉ loài chim nói chung, 鳥 ("chim"), gần chữ hay ký tự 仕 (thành phần biểu âm, đọc "sĩ"), Sĩ, chỉ cách đọc; trong trường hợp đó, không ai không nhận ra rằng con chim được chỉ bằng chữ ấy 仕鳥† (chữ ghép liền, dùng cho "sẻ") chính là Sẻ, tức "chim sẻ."

Magna extat irregularitas in ipso usu characterum quos adhibent Cocincinenses ad statuendam pronunciationem vocum compositarum. Cùm enim ipsi utuntur characteribus Sinensibus ad suam linguam scribendam, eos ferè semper pronunciant aliter ac Sinenses, et unus idemque character sæpè pronunciatur quatuor aut quinque modis variis, pro ut varias res exprimit vel variis objectis jungitur; exempli gratiâ 吝 (keo kiệt) Lẫn, Tenax, Avarus, in ipsorum pronunciatione et more Sinico, quamvis Lín vel Lin ab ipsis Sinensibus enuncietur. Idem character ab ipsis Anamitis usurpatur in vocibus Lận, decipere; Lấn, superare; Lân, vices, et in Lẫn, Lẫn, &c. ut videre est ad calcem. Cùm eidem characteri jungitur alia clavis; ut, v. g. 洛† (bộ "thuỷ" + thành phần biểu âm "lạc") tùnc vocatur Lặn, mergere; Lẫn, levigatus. Insuper cum in Sinensi linguâ reperiantur characteres multi, eâdem pronunciatione gaudentes, plerùmque evenit, ut duo Anamitæ non eumdem usurpent characterem ad eumdem sonum exprimendum, vel ut idem scriptor utatur modò uno, modò alio charactere ad eumdem sonum indicandum, ut 汶†, 没, 蔑† (ba chữ khác nhau cùng đọc "một") một, unusquisque ex illis characteribus quandòque ab illis usurpatur ad vocem unus, una, unum, exprimendam. 巴† vel 巴 (hai dạng viết khác nhau, đọc "ba") ba, ad indicandum numerum, tres, tria; alii utuntur charactere 拖 ("đi") ad indicandum verbum Đi, ire, alii 帝 (chữ khác dùng thay cho "đi") ad significandum idem verbum. Sic etiam littera sâm 參 (sâm / tham) addere, interjicere, pronunciatur tham, et tam; Indè opus, indè labor.

Có một sự thiếu nhất quán lớn trong chính cách dùng các chữ mà người Nam Kỳ áp dụng để định cách đọc của các tiếng ghép. Vì khi họ dùng chữ Hán để viết tiếng của mình, họ hầu như luôn đọc khác với người Tàu, và cùng một chữ thường được đọc theo bốn hay năm cách khác nhau, tuỳ theo nó diễn tả sự vật gì hay được ghép với vật gì khác — chẳng hạn, 吝 ("keo kiệt") [đọc] Lẫn, nghĩa là "keo kiệt, bủn xỉn," theo cách đọc của họ và theo lối Tàu, dù chính người Tàu đọc chữ này là Lín hay Lin. Cùng chữ ấy được người An Nam dùng trong các tiếng Lận, "lừa gạt"; Lấn, "lấn át, hơn"; Lân, "lần, lượt"; và cả Lẫn, Lẫn, v.v., như có thể thấy ở phần cuối [từ điển]. Khi một bộ khác được ghép thêm vào cùng chữ ấy — chẳng hạn 洛† (bộ "thuỷ" + thành phần biểu âm "lạc") — thì nó được gọi là Lặn, nghĩa là "lặn, chìm xuống"; Lẫn, nghĩa là "nhẵn, trơn láng." Hơn nữa, vì trong tiếng Hán có nhiều chữ cùng chung một cách đọc, nên thường xảy ra việc hai người An Nam không dùng cùng một chữ để diễn tả cùng một âm, hay chính một người viết lúc thì dùng chữ này, lúc thì dùng chữ khác để chỉ cùng một âm — như 汶†, 没, 蔑† (ba chữ khác nhau cùng đọc "một"), đều đọc là một, mỗi chữ trong số đó đôi khi được người này hay người kia dùng để diễn tả tiếng "một" (ở ba dạng ngữ pháp của nó). 巴† hay 巴 (hai dạng viết khác nhau, đọc "ba") [được dùng] để chỉ số "ba"; có người dùng chữ 拖 ("đi") để chỉ động từ Đi, "đi"; có người dùng 帝 (chữ khác dùng thay cho "đi") để chỉ cùng động từ ấy. Cũng vậy, chữ sâm 參 (sâm / tham), nghĩa là "thêm vào, chen vào," được đọc là tham, và tam; từ đó có "việc," có "công việc nặng nhọc."

Etsi characteres seu hieroglyphi huic Dictionario conjungantur, ipsorum nihilominùs enucleatio datur ope litterarum Romanarum. Sed nequit modus iste scribendi pronunciationem Anamiticam clarè indicare. Sunt enim in hâc linguâ soni plurimi à linguis Europæis alieni, necessè igitur fuit de quibusdam signis pactionem facere, et ipsis uti ad sonos vel pronunciationem indicandum, ut videre est in serie et contextu litterarum infrà positarum, quæ omnia sunt enucleanda.

Dù các chữ, hay chữ tượng hình, có được ghép kèm vào cuốn Từ Điển này, thì nghĩa của chúng vẫn được làm sáng tỏ nhờ các mẫu tự La Tinh. Nhưng lối viết này không thể chỉ rõ cách đọc tiếng An Nam được. Vì trong ngôn ngữ này có rất nhiều âm xa lạ với các ngôn ngữ châu Âu, nên cần phải quy ước một số ký hiệu nào đó, và dùng chúng để chỉ âm hay cách đọc, như sẽ thấy trong chuỗi và văn cảnh các mẫu tự trình bày dưới đây, tất cả đều sẽ được giải thích.

Ghi chú OCR (giữ nguyên từ cặp latin-viet-017): xem latin-viet-017.md để biết chi tiết các chữ Hán đánh dấu † (皿, 口皿, 仕鳥, 洛, 汶, 蔑, 巴-đầu tiên). Không mở lại câu hỏi đọc chữ ở đây, chỉ dịch nghĩa La Tinh đã cho.



Còn đây là hình nó đã OCR thành HTML trang đầu tự điển, nhìn rất giống bản gốc, vì tôi bảo nó theo sát cách trình bày.

DICTIONARIUM

ANAMITICO-LATINUM.


A
ÁC
A, Interjectio exclamantis.
一主碎
— chúa tôi, O Deus meus !
一諛碎
— dua, assentari.
一困碎
— khốn tôi, me miserum.
陀一
伓弥
— di đà phật, precatiuncula sectatorum
phật.
再一
cái —, radula.
一容
— dong, adamus.
一魏
— ngùy, assafœtida.
一膠
— giao, gluten ex pelle asininâ.
Á, secundus.
一聖
— thánh, secundus à sanctô.
, soror natu major.
姉一
chị —, soror primogenita.
Ác, malus, molestus.
一業
— nghiệp, malè agere.
一業
— nghiệp, lusor.
一制
— chơi, nugari.
制一
chơi —, immodestè ludere.
泊一
bạc —, crudelis.
一寅
— dẫn, importunè nugari.
制昆一
con chơi —, filius illegitimus, cantatrix.
Ác, corvus.
一鑞
— vàng, sol.
俸一
bóng —, decursus dièi, umbra.
一羅
— là, genus corvi, pica.
一鵡
— mó, psittacus.
一喋
mỏ —, stomachus, rostrum corvi.
某一
— mỗ, dira precatio.
Ách, jugum.
一難
— nạn, infortunium.
一殃
ương —, calamitas.
一送
tống —, depellere miserias.
一莫
mắc —, circumventus miseriis.
A

Hình gốc từ bản in 1838, cách nay gần 200 năm!

No comments: