ĐÀO MỘNG NAM — Giảng Sư Viện Đại Học Huế
Đề tài diễn thuyết đã trình bày tại giảng đường Viện Đại Học Vạn Hạnh, ngày 13 tháng 11 năm 1966.
Claude AI chú thích: Mở đầu tập sách là một bức tranh trong khung viền đen bo góc: một vầng trăng lưỡi liềm ở góc trên, hai hình xoắn ốc đối xứng đỡ lấy một mái vòm gợn sóng, bên dưới là đôi trai gái đứng đối diện nhau, tay cùng nâng một chiếc chén chung ở giữa — hình ảnh cảnh thề nguyền dưới trăng giữa Kim Trọng và Thúy Kiều ("Vầng trăng vằng vặc giữa trời… Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương"). Bên cạnh là dòng chữ Hán viết dọc 誓海盟山 (Thệ Hải Minh Sơn — "thề biển hẹn non"), đúng điển tích lời thề của đôi trai gái trong truyện.
Mở Đầu
Nếu văn hóa là thân mình, văn tự phải là đôi chân vững mạnh thì nền văn hóa đó mới phát huy rộng lớn được. Hôm nay, nhìn lại tòa lâu đài văn hóa Việt Nam với bốn ngàn năm lịch sử oai hùng, ta không khỏi bùi ngùi, vì đáng lý ra nó phải được dựng đặt trên ba cột trụ: chữ Nho, chữ Nôm và chữ Abc để tạo thành thế chân vạc. Nhưng, cách đây ngót một thế kỷ, thực dân Pháp với dụng ý thâm độc, muốn hủ hóa dân tộc này, họ đã chặt đứt đôi chân chữ Nho và chữ Nôm, chỉ để lại chiếc chân gỗ là chữ Abc. Thành ra, nền văn hóa của ta gần một thế kỷ nay đi không được mà đứng cũng không vững. Còn dân tộc Nhật Bản, vì không từ bỏ chữ Nho, không đoạn tuyệt với truyền thống; văn minh của họ ngày nay đang xấp xỉ dẫn đầu thế giới. Ngược lại, dân tộc mình phải chịu cảnh nước mất, nhà tan, hiểm họa diệt vong chỉ còn treo trên đầu sợi tóc. Vậy, để cứu mình, cứu toàn thế giới khỏi bị tận diệt vì những mâu thuẫn lớn lao: giữa Đông và Tây, giữa vật chất với tinh thần mà ngòi nổ là dải đất hình chữ S này: người trí thức Việt Nam hôm nay, không thể không bắc lại nhịp cầu chữ Nho để làm phương tiện nối tiếp văn hóa truyền thống của mình. Ở đó ông cha ta đã để lại cả một gia tài qui báu mà không một dân tộc nào trên thế giới có được; đó là mớ kinh nghiệm về sự dung hóa hai nền văn minh cổ kính, vĩ đại và mâu thuẫn nhất của nhân loại là Trung Hoa thực tiễn với Ấn Độ siêu hình.
Vậy, hôm nay với ước vọng được đóng góp một viên gạch nhỏ bé vào công trình lớn lao bắc lại nhịp cầu chữ Nho của toàn dân tộc, chúng tôi xin mạn phép được cảo thơm lần dở..
Chữ Xuân (春)
XUÂN: mùa đầu năm. Chữ xuân ghép bởi tam (三) nhân (人) nhật (日).
三 tam: ba (nét trên chỉ Trời, nét giữa chỉ Người, nét dưới chỉ Đất, vậy Trời, Đất với Người cộng lại là ba).
人 nhân: người (vẽ hình người đi).
日 nhật: ngày, mặt trời (vẽ hình mặt trời tròn).
Trong Đoạn Trường Tân Thanh chữ nhật (日) này là ngày Xuân, còn tam nhân (三人) là ba chị em Thúy Kiều, Thúy Vân và Vương Quan đi dự hội Đạp Thanh — ba người sánh bước bên hai khóm hoa nở, người lớn nhất đi trước tay vung, hai người nhỏ hơn đi sau:
Ngày Xuân (日) con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh rợn chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp Thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em (三人) sắm sửa bộ hành chơi Xuân.
Ngoài ra, xã hội nông nghiệp xưa, ngày (日) Xuân là ngày được rảnh rang việc đồng áng, nông dân cũng tụ họp nhau đông đảo (三人: chỉ số người đông) để hội hè, đình đám:
Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Chữ Tử, Chữ Nữ
Có trai (子) tài, có gái (女) sắc, có cỏ non xanh rợn chân trời. Đã là người Việt Nam không nói quí vị cũng thừa hiểu rằng: đây là cảnh hội Đạp Thanh trong truyện Kiều. Và, ta thấy hiển hiện một chàng Kim Trọng hào hoa phong nhã, đang hài văn lần bước dặm xanh, và một Thúy Kiều đang e lệ nép vào dưới hoa.
子 — TỬ: con trai (vẽ hình người trai tài).
女 — NỮ: con gái (vẽ hình người gái sắc).
Chữ Hiếu (好)
好 (ghép từ 女 + 子) — HIẾU: ham thích. Có câu: «Gái ham tài, trai ham sắc». Vậy chữ nữ (女) ở đây là người gái sắc; chữ tử (子) ở đây là người trai tài. Trai tài, gái sắc gặp nhau thì ham thích nhau.
Trong truyện Kiều sau buổi hội Đạp Thanh trở về phòng khuê, vì tương tư Kim Trọng, Thúy Kiều băn khoăn:
Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không?
Còn chàng Kim từ lại thư song thì cũng:
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng khuây.
Sầu đong càng khắc càng đầy,
Để rồi cuối cùng cả hai vì không chịu đựng nổi đớn đau của ly cách, một Thúy Kiều đã:
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mái tường.
một Kim Trọng đã:
Thang mây dón bước ngọn tường,
và, ta thấy đôi mái đầu xanh ấy đã được cùng nhau:
Sánh vai về chốn thư hiên,
Góp lời phong nguyệt, nặng nguyền non sông.
Chữ Mẫu (母)
MẪU: mẹ. Chữ mẫu vốn từ hình cổ thể 女 (hình thiếu nữ) mà thêm vào hai chấm ở ngực (o o) để thành hình thiếu phụ — hai chấm ấy chính là hình hai bầu sữa.
Trong truyện Kiều chữ mẫu này là hình ảnh Thúy Vân sau khi đã thành Kim Trọng phu nhân với tay bồng, tay mang nên thân hình nàng không còn thanh tú (母) như lúc còn là con gái (女) phong gấm rủ là. Và, đôi khi vì phải cho con bú nàng đã để cả hai bầu sữa (o o) ra ngoài cho người ta thấy. Ngoài ra, hẳn mọi người cũng không quên kinh nghiệm dưới đây của một cô thôn nữ trong ca dao:
Con gái chơi với con trai (好)
Rồi sau hai vú như hai trái dừa (o o)
Chữ An (安), Chữ Tự (字)
安 — AN: yên ổn. 字 — TỰ: chữ. 宀 là hình mái nhà. Ý là trong nhà (宀) có bàn tay của người con gái (女) tứ đức công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn thu xếp thì cảnh gia đình được hạnh phúc, yên ổn. Gái thêu thùa, trai đọc sách, do đó nhà (宀) nào sinh được con trai (子) là nhà có nhiều chữ nghĩa.
Trong truyện Kiều hình ảnh chữ an chữ tự này là cảnh gia đình nhà họ Vương êm ấm với:
Một trai (子) con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia (宀)
với Thúy Kiều, Thúy Vân về tứ đức công, dung, ngôn hạnh:
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Ngoài ra tinh thần truyền thống giáo dục tầm truyền này, ta còn thấy bàng bạc trong ca dao, qua giọng hát, lời ru của các thế hệ mẹ Việt Nam:
Con ơi! muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.
Gái (女) thời giữ việc trong nhà (宀)
Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa.
Trai (子) thời đọc sách, ngâm thơ,
Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa.
Mai sau nối được nghiệp nhà (宀)
Trước là đẹp mặt, sau là ấm thân.
Chữ Hại (害)
害 — HẠI: tai họa. 宀 là hình mái nhà; 丰 (hình cổ thể, dạng cây có nhánh) là hình cây cỏ mọc; 口 (hình cổ thể, một nét cong nhỏ) là hình lỗ hổng vách tường. Ý chữ là gặp cơn tai họa người lưu lạc nơi xa, còn lại căn nhà (宀) hoang vắng, với cỏ (丰) mọc đầy, với tường đổ nát (口).
Trong truyện Kiều chữ hại này là cảnh nhà Vương Viên Ngoại sau cơn gia biến mà Kim Trọng đã có dịp chứng kiến khi chàng:
Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Vội sang vườn Thúy dò la,
Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Xập xòe én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy
Đi về này những lối này ngày xưa.
Chung quanh lặng ngắt như tờ,
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
Chữ Tòng (从)
从 — TÒNG: theo sau. 人 nhân: người (vẽ hình người đi). Chữ Tòng là hình người nọ đi theo người kia.
Trong truyện Kiều khi Từ Hải lên đường nàng Kiều có bày tỏ:
Nàng rằng: "Phận gái chữ tòng,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin theo".
và, Từ Hải đã nhủ nàng rằng:
Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
Còn các thiếu nữ nào mà tuổi đẹp hãy còn đang độ "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê" thì có thể hiểu chữ nhân đằng sau này là một chàng trai si-tình, đẹp trai nào đó đang theo dõi bóng mình và lời chàng văng vẳng:
Em nghèo, ta có giàu đâu,
Tịch dương đổ xuống đôi đầu ngẩn ngơ.
Hoe đôi mắt em vơ tà áo,
Áo trắng bong đo não hồn trinh
Lòng ta gợn gió ngây tình,
Theo em nào biết chúng mình về đâu.
Lý Quốc Sinh
Chữ Giới (介)
介 — GIỚI: người đứng giữa. Hình người (人) đứng giữa làm mai mối cho hai kẻ xa lạ này (丨丨) quen biết nhau.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh chữ giới này là bối cảnh Thúy Kiều bán mình. Chữ nhân (人) này là nhà băng đưa mối, nét sổ bên trái (丿) là Mã Giám Sinh (男), nét sổ bên phải (丨) là Thúy Kiều (女).
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ xôn xao,
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng bước ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng.
Chữ Lai (來)
來 — LAI: lại, đến. 木 mộc: cây (vẽ hình cái cây có cành lá). Chữ lai vẽ hình hai người (人人) đang đi lại gốc cây (木).
Trong Đoạn Trường Tân Thanh chữ mộc (木) này là cội hoàng lan nơi vườn Thúy mà ngày xưa Kim Kiều (人人) đã bao lần đến nơi đây hò hẹn:
Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng,
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.
Vội vàng lá rụng hoa rơi,
Chàng về viện sách, nàng về lầu trang.
Chữ Tù (囚)
囚 — TÙ: giam giữ. Hình kẻ phạm nhân (人) bị giam giữ trong bốn bức tường (口) nhà giam kín mít.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh chữ tù này là hình ảnh Thúy Kiều sau khi đã bị Tú Bà đày ra lầu Ngưng Bích:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh, như chia tấm lòng.
Chữ Bằng (朋)
朋 — BẰNG: bạn bè. 月 nguyệt: mặt trăng (vẽ hình mặt trăng). Với thi ca trăng còn là biểu tượng một mảnh hồn cô đơn. Vậy, chữ bằng này ghép bởi hai chữ nguyệt. Ý là hai mảnh hồn cô đơn gặp gỡ đã trở thành đôi bạn.
Thi sĩ Lý Bạch đời Đường thuở xưa vì quá cô đơn và mong có bạn đã lao mình xuống dòng sông mà ôm lấy vầng trăng đáy nước — 李白撈月 (Lý Bạch vớt trăng). Trong Tây Sương Ký Thôi Oanh Oanh lúc nhớ thương Trương Quân Thụy có tự ví mình là:
Ả Hằng chiếc bóng lưng không,
Lặn tây rồi lại mọc đông một mình.
Nào ai là bạn chung tình,
Nào ai là kẻ mối manh đi về.
Nhượng Tống dịch
Ngoài ra Hồng Khắc Kim Mai qua bài thi hứng ta thấy tác giả cũng cùng chung một cảnh ngộ với Oanh Oanh:
Nửa vời trang giấy còn bay,
Trăng rơi nghiên mực vung đầy giọt thơ.
Hình ai khi tỏ, khi mờ,
Nghe như tâm khảm thức chờ cố nhân.
Mối tình đầu trong trắng mong manh, tác giả cụ thể hóa thành trang giấy trắng rung rinh. Và, trái tim tình yêu ắp ắp máu hồng mà tác giả cụ thể hóa thành nghiên son đỏ thắm đã bị trái sầu vạn thuở là vầng trăng cô đơn trong chữ bằng này rụng xuống làm cho nứt rạn. Và, những giọt máu đào ứa ra, từ trái tim nứt rạn ấy đã làm hoen ố cả trang giấy trắng tinh. Cuối cùng tác giả có thú nhận rằng: đối tượng tình yêu chỉ là những bóng mơ hạnh phúc chập chờn, mà sao trong suốt đêm dài trần gian tăm tối, tác giả vẫn còn đỏ mắt trông chờ? Phải chăng niềm hy vọng về người mình yêu sẽ đến đã là lẽ sống duy nhất ở đời của một Hồng Khắc Kim Mai.
Sau đây chúng tôi xin kể tiếp những vầng trăng cô đơn ở chữ bằng này đã theo dõi đời Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh:
1. — Thuở Thúy Kiều yêu thương Kim Trọng
Gương nga chênh chếch dòm song,
Vàng gieo ngấn nước, cây lồng bóng sân.
△
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.
△
Chênh chênh bóng nguyệt xế mành,
Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu.
△
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
2. — Thuở Thúy Kiều đường xa luân lạc
Khi bị đày ở lầu Ngưng Bích:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung.
Khi hẹn cùng Sở Khanh đi trốn:
Chim hôm thoi thóp về rừng,
Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành.
Khi đi trốn cùng Sở Khanh:
Đêm thu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương.
Khi tiếp khách ở Thanh Lâu:
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu.
Khi xa cách Thúc Sinh:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.
Đêm thu gió lọt song đào
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.
Khi ở Quan Âm các nhà Hoạn Thư:
Nâu sồng từ trở màu thuyền,
Sân thu trăng đã mấy phen đứng đầu.
Khi trốn khỏi nhà Hoạn Thư:
Cất mình qua ngọn tường hoa,
Lần đường theo bóng trăng tà về tây.
Mịt mù dặm cát đồi cây,
Tiếng gà điểm nguyệt, dấu giày cầu sương.
Khi ở Chiêu Ẩn am:
Sớm khuya lá bối phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chầy nện sương.
Khi tuyệt vọng ở bến sông Tiền Đường:
Mảnh trăng đã gác non đoài,
Chữ Minh (盟)
盟 — MINH: thề ước. Chữ ghép qua nhiều tầng: 日 (nhật, mặt trời) → 明 (nhật + nguyệt) → 盟 (minh + mãnh). 皿 mãnh: cái chén (vẽ hình cái chén). 日, 月: minh tinh cầu chứng giám cho lời thề. 皿: chén thề.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh khi dẫn Thúy Kiều ra đi, trước sự băn khoăn của Vương Ông, Vương Bà, Mã Giám Sinh đã không ngần ngại mà thề rằng:
Mai sau dẫu có thế nào,
Kìa gương nhật (日) nguyệt (月) nọ dao quỷ thần.
Còn Tú Bà khi dụ dỗ Thúy Kiều mụ cũng:
Mai sau ở chẳng như lời,
Trên đầu có bóng mặt trời (日) rạng soi.
Trong đêm Kim Trọng thề thốt với Thúy Kiều ở dưới hiên Lãm Thúy, hai người đứng đối diện nhau, cùng hai tay nâng chung một cái chén nhỏ ở giữa, ta thấy có:
Vàng trăng (月) vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song,
Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà (皿) sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.
Để rồi sau này đôi mái đầu xanh ấy phải biệt ly nhau thì hình ảnh trăng thề, chén thề đó vẫn còn mãi mãi vò xé hai người. Một Kim Trọng trên bước đường hồi hương hộ tang chú:
Trăng (月) thề còn đó trơ trơ,
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.
Một Thúy Kiều từ sau khi nàng luân lạc:
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề (皿),
△
Thề hoa chưa ráo chén (皿) vàng,
Lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa.
△
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,
Thấy trăng (月) mà thẹn những lời non sông.
△
Tưởng người dưới nguyệt (月) chén (皿) đồng,
Tin sương luống những rày trông, mai chờ.
Tới hồi tái hợp trong bữa tiệc đoàn viên, để gắn bó Thúy Kiều với Kim Trọng, Thúy Vân cũng không quên nhắc nhở:
Còn duyên may lại còn người,
Còn vầng trăng bạc (月) còn lời nguyền xưa.
Chữ Phẩm (品)
品 — PHẨM: cân nhắc khen chê. 口 khẩu: cái miệng (vẽ hình cái miệng). Chữ phẩm hai miệng (口口) ở dưới cãi lý, miệng thứ ba (口) đứng ở trên làm trọng tài bình phẩm giá trị.
Trong truyện Kiều chữ khẩu bên trái (口) là miệng Sở Khanh, chữ khẩu bên phải (口) là miệng Thúy Kiều, và chữ khẩu ở trên (口) là miệng những người đông mặt trong ngoài:
Sở Khanh lên tiếng rêu rao:
« Nọ nghe rằng có con nào ở đây,
Phao cho quyến gió rủ mây,
Hãy xem cho biết mặt này là ai? »
Nàng rằng: « Thôi thế thì thôi,
Rằng không thì cũng vâng lời rằng không. »
Sở Khanh quát mắng đùng đùng,
Bước vào vừa rắp thị hùng ra tay.
Nàng rằng: « Trời nhé có hay!
Quyến anh, rủ yến sự này tại ai?
Đem người giày xuống giếng khơi,
Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay.
Còn tiền tích việt ở tay,
Rõ ràng mặt ấy, mặt này chứ ai? »
Lời ngay đông mặt trong ngoài,
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương.
Chữ Khúc (曲)
曲 — KHÚC: cong, không ngay thẳng. 曰 viết: nói (vẽ hình cái lưỡi ở trong miệng khi ta mở mồm nói). Vậy chữ khúc ghép bởi chữ nhị viết thẳng dọc (II) để tượng trưng cho số hai và chữ viết (曰) là nói.
Trong truyện Kiều chữ khúc này là thứ quân tử nhị (II) ngôn (曰) kiều Sở Khanh không ngay thẳng, đã nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay. Ngoài ra, trong ca dao ta cũng thấy:
Cái lưỡi (曰) không xương, nhiều đường (II) lắt léo
Chữ Tam (三)
三 — TAM: ba. Nét ngang trên tượng trưng cho tầng Trời, nét ngang giữa tượng trưng cho Người, nét ngang dưới cùng tượng trưng cho mặt Đất. Vậy ba nét ngang trong chữ tam này có ý chỉ ba ngôi Thiên Địa Nhân tức Tam Tài.
Trong truyện Kiều nét ngang giữa trong chữ Tam này có thể hiểu là một Từ Hải đội trời, đạp đất:
Râu hùm hàm én mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao,
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.
Giang hồ quen thú vẫy vùng,
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Chữ Tâm (心)
心 — TÂM: trái tim, lòng. Chữ tâm vẽ hình trái tim (♡). Ngoài hình trái tim ra ta còn thấy ba chấm ở trên giống hình ba ngôi sao, nét cong ở dưới giống hình vành trăng khuyết.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh để diễn tả sự tưởng nhớ của Thúy Kiều đối với người chồng tên Tâm (Thúc Sinh: Thúc Kỳ Tâm) không mấy xứng đáng để nàng tin tưởng ở ngày mai, Nguyễn Du viết:
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.
Cuộc đời nàng hiện tại là một đêm dài thê lương, lộng gió, phải có một vì Thái Dương chói lòa chiếu rọi mới đủ sưởi ấm lòng nàng. Còn Thúc Kỳ Tâm chỉ là nửa vành trăng non lạnh lẽo, là ba đốm sao mong manh hấp hối ở mũi tận trời xa thì làm sao nàng không khỏi bàng hoàng, chỗi dậy và cung kính:
Nén hương đến trước Thiên đài.
Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân.
Chữ Hằng (恆)
恆 — HẰNG: mãi mãi. 二: hình từng trời và hình mặt đất. 月: nguyệt, mặt trăng. Hình ảnh vầng trăng hiện hữu giữa khoảng đất trời (二 : 亙) tượng trưng cho sự lâu dài trường cửu vì trăng có bao giờ mất được, duy chỉ có kiếp người là phải chịu hủy diệt mà thôi! Nên người thôn nữ trong ca dao, đêm đêm ngẩng mặt nhìn trời, rồi cúi xuống nghĩ đến thân phận mình, nàng không khỏi thở than:
Ông trăng khuyết rồi ông trăng lại tròn,
Con gái tơ quá lứa mất dòn kém xinh.
Vậy chữ hằng ghép chữ tâm (心) bên vầng trăng vĩnh cửu (亙) có ý chỉ chữ tâm này là lòng chung thủy, là dạ sắt son. Để diễn tả hình ảnh này, trong bài « Tiếng gọi bên sông » Thế Lữ viết:
Em có yêu ta thì gắng đợi,
Đem lòng (心) mà gởi lên cung trăng (亙)
Ở chốn đường khơi ta nhớ em,
Thì lòng (心) ta sẽ hóa ra chim,
Bay lên lưu luyến bên cung nguyệt (亙)
Sẽ tỏ cho nhau thấu nỗi niềm.
Trong bài Trường Tương Tư Lương Ý Nương viết:
Ngã hữu nhất thốn tâm
Vô do đối quân thuyết
Nguyện phong xuy tán vân
Tố dữ thiên biên nguyệt
Nghĩa là:
Thiếp có một tấc lòng (心)
Chẳng thể cùng chàng nói.
Xin gió thổi tan mây,
Được với vầng trăng (亙) tỏ.
Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc Đặng Trần Côn viết:
Thiếp tâm tùy quân tự minh nguyệt,
Quân tâm vạn lý Thiên Sơn tiễn.
Đoàn Thị Điểm dịch:
Lòng (心) thiếp tựa bóng trăng (亙) theo dõi,
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San.
Trong truyện Kiều Nguyễn Du đã dịch thoát câu thơ cổ:
Nguyệt ký tâm vu nguyệt cung.
Nghĩa là:
Trọn tháng gửi lòng (心) ở cung trăng (亙)
thành lời Kim Trọng kể lể sự chung tình của mình với Thúy Kiều ở chương tỏ tình rằng:
Tháng tròn như gửi cung mây.
Chữ Muộn (悶)
悶 — MUỘN: buồn rầu. 門 môn: cửa (vẽ hình cái cửa có hai cánh). Trong Nho tự chữ muộn này diễn tả cái hận sinh ly của con người. Chữ tâm (心) ở đây là lòng kẻ ở thương nhớ người đi.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh chữ tâm (心) này là lòng của Vương Bà thương nhớ Thúy Kiều, ngày ngày tựa cửa (門) trông ngóng đợi con về:
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng, ấp lạnh những ai đó giờ.
Ngoài ra, trong Chinh Phụ Ngâm Khúc lúc chinh phu ra đi vì sông núi thì:
Lòng (心) lão thân buồn khi tựa cửa (門)
thì chinh phụ:
Trời hôm tựa cửa (門) ngẩn ngơ (心),
Trăng khuya nương gối, bơ phờ tóc mai.
Nỗi lòng (心) biết ngỏ cùng ai,
Thiếp trong cánh cửa (門), chàng ngoài chân mây.
Chữ Nhàn (閒)
閒 — NHÀN: được rảnh rang. Chữ ghép bộ Môn (cửa hai cánh) bao lấy chữ Nguyệt (trăng) ở giữa.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh sau khi đã từ bỏ mọi ham muốn của cuộc sống, Thúy Kiều không còn bận rộn với những ràng buộc ở thế gian. Nếp sống của nàng thành thảnh thơi nhàn hạ, nên ta thấy nàng cũng ngâm hoa trong vườn và vịnh nguyệt (月) trước cửa (門) như nếp sống của các nghệ sĩ hoặc đạo sĩ mà tâm hồn đã được giải thoát vậy:
Khi chén rượu, khi cuộc cờ,
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
Ngoài ra, trong bài Cảnh Nhàn Nguyễn Công Trứ cũng viết:
Thị tại môn tiền náo,
Nguyệt (月) lai môn (門) hạ nhàn (閒)
Chữ Yến (宴)
宴 — YẾN: tiệc rượu. 宀: hình mái nhà. 日: nhật, ngày, mặt trời. 女: nữ, người con gái. Ý chữ là ngày (日) người con gái (女) về nhà (宀) chồng người ta thường mở tiệc để khoản đãi họ hàng. Và, thiết tưởng trên đời này, không còn cái tiệc nào vui hơn là cái tiệc vu qui trong đời người con gái.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh ngày (日) mà toàn gia đón được Thúy Kiều (女) về mái quan đường (宀) của Kim Trọng ta cũng thấy có:
Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy.
Chữ Canh (更), Chữ Sinh (生)
更 — CANH: sửa đổi. 一: hình cái roi. 乂: hình hai cánh tay bắt chéo. 曰: hình cái lưỡi ở trong miệng khi mở mồm nói. Ý chữ là muốn sửa đổi tính hư, tật xấu của một đứa trẻ ta phải dùng lời nói (曰) để khuyên nhủ hoặc dùng hình phạt tay (乂) cầm roi (一) đánh đập chúng.
生 — SINH: đời sống. 屮: hình cọng cỏ. 二: hình những lớp đất. Ý chữ là mầm cỏ (屮) bắt rễ được vào lòng đất (二) thì sinh sống tốt tươi.
Chữ Tô (甦), Chữ Huệ (惠)
甦 (ghép 更 trên + 生 dưới) — TÔ: hồi sinh, gặp nguy khốn được thư bớt. Vì cuộc đời là định mệnh, nên số kiếp con người phải « sống đọa thác đày ». Song ngược lại, nếu ta biết đem cái tâm mà tu sửa (更) mệnh thì những nỗi nguy khốn đó cũng thư bớt đi để đời sống (生) của ta được hồi hoàn trở lại, bởi:
« Đức năng thắng mệnh »
惠 — HUỆ: lòng nhân ái, tấm lòng bao la không biên giới. 車 xa: xe (hình cái xe có hai bánh). Xe là phương tiện để chuyên chở đi những nơi xa xôi, ở đây tượng trưng cho sự mở rộng. Vậy ý chữ là một tấm lòng (心) mở rộng bao la.
Thành Ngữ "Tô Huệ"
Nếu ví chữ Tô (甦) với cái quả, chữ Huệ (惠) với cái nhân thì thành ngữ Tô Huệ này quả có gói ghém cả một triết lý giải thoát đoạn trường: cuộc đời vốn là sự khổ đau không nói hết. Song muốn được thư bớt (甦) người ta không thể đem tài trí ra phấn đấu mà thắng được, trái lại phải bằng cả một tấm lòng bao la không biên giới (惠) của mình, vì:
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Trong Đoạn Trường Tân Thanh Thúy Kiều đã được hồi sinh, được sạch nợ ở bến sông Tiền Đường, bởi nàng đã:
.... phận mỏng đức dày,
Kiếp xưa đã vậy, lòng này để ai.
Tâm thành đã thấu đến trời,
Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
Một niềm vì nước, vì dân,
Ẵm công cất một đồng cân đã già.
Đoạn trường sổ rút tên ra,
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau.
Còn nhiều hưởng thụ về lâu,
Duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào.
Ngoài ra, trong truyện « Mai Vàng » người con gái hồng nhan một đóa hoa định mệnh giữa thời đại chúng ta. Tên nàng là Nguyễn Tô Huệ, thuở ấu thơ năm lên mười tuổi, chị giáo dạy nàng có lần rưng rưng nói bằng nước mắt: « Em là gái miền Nam, mùa chiến chinh qua đi, em mất tất cả, em chỉ còn có một dòng tên đẹp, vì hiểu được hết ý nghĩa của tên em nên chị đã cảm thông được nỗi lo lắng ước mong của ba em đối với em khi người còn sống ».
Nỗi lo lắng: với kinh nghiệm sống trải của đời mình, người cha đã ý thức được rằng cuộc đời là bể khổ! Nên khi con gái mình chào đời ông không khỏi băn khoăn lo sợ về những nỗi gian nan, trên suốt dọc quãng đường đời mai hậu của nàng.
Niềm ước mong: cũng như bao linh hồn Việt đã khuất hay đang còn, ước vọng giải thoát đoạn trường của ông cho con gái mình mà ông đã gửi gấm qua dòng tên Tô Huệ của nàng ta thấy không phải bằng óc thông minh tài trí, mà bằng lòng tự nhủ chân thành:
Ở hiền (惠) gặp lành (甦)
Cây xanh cành lá cũng xanh
△
Người trồng cây cảnh người chơi,
Ta trồng cây Huệ (蕙) vun chồi cho con.
Chữ Huệ (蕙, hoa huệ)
蕙 — HUỆ: Hoa huệ. 艹 thảo: cỏ hoa (vẽ hình cây cỏ). 車 xa: xe (vẽ hình cái xe có hai bánh). Xe vốn là phương tiện để chuyên chở đi những nơi xa xôi, ở đây tượng trưng cho sự mở rộng. 心 tâm: lòng.
Theo cổ nhân mỗi loài hoa đều có một linh hồn. Hoa Huệ là đóa hoa (艹) của tấm lòng (心) rộng mở (叀). Trong tình sử Trung Hoa, Huệ còn là loài hoa định mệnh, tượng trưng cho người con gái còn trong trắng mà phải thác oan vì một chuyện gia đình. Nàng đã khước từ cuộc sống nhớp nhơ ô nhục của định mệnh an bài, để cho tinh thần được trong sáng thanh cao, dù phải nhận chịu sự chết đi của thể xác này.
Trong truyện Kiều đóa Huệ Tâm của người em gái Thúy Vân cũng hàm tiếu từ lâu. nhưng cho mãi tới hồi tái hợp, trong bữa tiệc đoàn viên, nó mới có dịp nở bung cánh trắng trong việc nàng mạnh dạn đứng ra xô đổ bức trường thành kiên cố vốn có từ khi có trái đất này là :
Ớt nào là ớt chẳng cay,
để được nói lên những tiếng nói thiết tha chân thành nhất mong gắn bó Thúy Kiều với Kim Trọng nên duyên cầm sắt.
Tiếp đến Thúy Kiều để cho hạnh phúc của người em gái Thúy Vân yêu dấu được vẹn toàn, nàng đã nhất mực chối từ một người chồng tương lai yêu quí nhất đời thì quả thực đóa Huệ Tâm Nhị Đế của nàng vốn sẵn có, nay lại trổ thêm bông nữa, để trở thành đóa Huệ Tâm Tam Đế huy hoàng.
Còn Kim Trọng sau mười năm bằng máu và nước mắt đi tìm người yêu, giây phút trùng phùng chàng đã gặp một thực tế phũ phàng :
Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa,
Mười phần xuân có gãy ba bốn phần.
Với Kim Trọng thần tượng Thúy Kiều vàng son diễm lệ tới đây đã xụp đổ tan tành. Nhưng sao trên đống tro tàn tình yêu hoang vắng ấy ta lại thấy một bông Huệ trắng trong hé nở :
Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi,
Phải chăng khi thần tượng Thúy Kiều xụp đổ, thứ tình yêu vị kỷ với mục đích chiếm hữu đối tượng tình yêu trong tâm hồn Kim Trọng cũng đổ vỡ theo để chừa chỗ cho thứ tình yêu vô tư quên mình đằm màu thánh thiện dâng lên, dâng lên, mà :
Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm.
Và, đối lại Thúy Kiều cũng từ từ, từ từ quỳ xuống mà :
Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng.
Tóm lại, vậy thì những bông Huệ ở câu :
Huệ lan sực nức một nhà,
Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa.
của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh hẳn không phải là những bông Huệ vô hồn như ta thường thấy, mà là những đóa Huệ lòng nồng thắm sắc hương, của Kim Trọng của Thúy Kiều của Thúy Vân tưng bừng đua nở ở bữa tiệc đoàn viên.
Huệ Tâm Tam Đế
Chữ Nho gọi hoa một cuống nở hai bông là hoa tịnh đế, ba bốn bông là tam đế, tứ đế. Vậy đóa Huệ Tâm Tam Đế của Thúy Kiều bao hàm ba ý nghĩa :
Đệ Nhất Đế : HOA CỦA TÌNH YÊU.
Được ngồi bên Kim Trọng lần thứ nhất Thúy Kiều làm thơ :
Tay tiên gió táp mưa sa
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu.
được ngồi bên Kim Trọng lần thứ hai Thúy Kiều đánh đàn :
So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Thúy Kiều đến với Kim Trọng lần thứ nhất khiến chàng đã :
Đài sen nối sáp, song đào thêm hương.
Thúy Kiều đến với Kim Trọng lần thứ hai khiến chàng phải :
Thêm nến giá nối hương bình.
Tóm lại Thúy Kiều đã biết đem tinh thần nghệ thuật để đè nén vật dục đê hèn, biết cùng người yêu thắp sáng ngọn đuốc tâm linh để thăng hoa tình ái.
Đệ Nhị Đế : HOA CỦA ĐẠI GIA ĐÌNH.
Phải chọn lựa giữa hạnh phúc cá nhân là mối tình đầu cao quí với Kim Trọng và hạnh phúc của đại gia đình Thúy Kiều đã :
Duyên hội ngộ, đức cù lao,
Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng hơn.
Để lời thệ hải minh sơn,
Làm con phải biết đền ơn sinh thành.
Quyết tình nàng mới hạ tình :
« Rẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha ».
Đệ Tam Đế : HOA CỦA TỔ QUỐC.
Vì yêu nước nồng nàn, Thúy Kiều lại một lần nữa hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình mà khuyên Từ Hải ra hàng, mong sự chiến đấu của chàng trở thành có lý tưởng vì quốc gia dân tộc :
Một niềm vì nước, vì dân,
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
Kết
— Ngày xưa bàn về truyện Kiều học giả Phạm Quỳnh có viết :
« Truyện Kiều còn, tiếng ta còn,
tiếng ta còn, nước ta còn »
— Hôm nay để thay cho lời kết của bài này chúng tôi xin thêm :
« Chữ Nho còn thì truyện Kiều còn,
truyện Kiều còn thì tinh thần
truyền thống của chúng ta còn,
tinh thần truyền thống của
chúng ta còn thì nước ta còn. »
Sài thành, mùa thu tháng 9, 1966
ĐÀO MỘNG NAM
OCRed from "Chữ Nho Tự Học - Quyển 1" by: Claude AI, August, 2026.
Curator and Editor: Học Trò.
Để kỷ niệm 60 năm khi:
"Xuân trong tôi, đã khơi trong một đêm vui
Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về..."

No comments:
Post a Comment