Mời bạn đọc theo dõi "Featured Post":

Giáo Sư Đào Mộng Nam: Truyện Kiều Và Chữ Nho

8.23.2026

Xem Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật Online lần nữa

Tác giả: Claude Sonnet 5, dưới sự dẫn dắt và chỉnh sửa của Học Trò. Để xem các tạp chí đã số hóa, mời bạn đọc vào trang https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/TapChiVanHoc.php.

Bạn cũng có thể tới ngay báo nếu ấn vào số ấy, nằm ngay sau bộ "", "Mới", hoặc số báo.

Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ)

Xem Online Nội Dung Số Báo
1 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 1 (4-1978)

Phạm Duy — nhạc Việt trên đất Mỹ
Võ Phiến — đọc thơ Cao Tần
Mặc Đỗ — kế hoạch chống đàn bà (truyện)
Lê Tất Điều — nắng biển (truyện)
Phạm Tăng — một chuyến đi (thơ)
Thợ Vườn — bữa tiệc linh đình (thơ vui)
Nguyễn Nhất Thanh Tâm — nụ cười buổi chiều -- bây giờ đã mất (thơ)
Hoàng Dung — chàng Từ Thức Phú Yên (truyện)
Pearl Buck — ba người con gái bà Lương (truyện dài rút ngắn)
Lê Tất Điều (Bùi Tố Loan dịch) — the 492nd day of the cease-fire (truyện)
† (không tên) — xem phim "Close Encounters of the 3rd Kind"
† (không tên) — văn nghệ khắp nơi
2 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 2 (5-1978)

Kim Định — triết Việt trên đất Mỹ
Mặc Đỗ — làm văn học nghệ thuật trong hoàn cảnh tị nạn
Võ Phiến — cuối mắt đầu mày
Trúc Chi — màu áo cũ
Võ Đình — chiếc vòng
Xuân Hiến — nô tiên sinh
Xuân Hiến & Trúc Chi & Lê Xuân Giao — thơ
Trần Kiến Hòa — Kontinent, tờ báo của trí thức Nga tị nạn
Thư Trung — một ông cụ trẻ
Alberto Moravia — khinh bỉ
Linh Bảo — the noble man
† (không tên) — sách Việt ngữ ở hải ngoại
† (không tên) — văn nghệ khắp nơi
3 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 3 (6-1978)

Nghiêm Xuân Hồng — người Việt trên đất Mỹ
Võ Phiến — nụ cười Á đông
Phan Lạc Tiếp — người đàn bà xa lạ
Hoàng Dung — hũ gạo Đồng Tâm
Đăng Khoa — tình khúc buồn
† Xuân Hiến & Trúc Chi & TN-V2 — thơ
Hoàng Minh Kính — tân triết học Ba-Lê
Ilya Ehrenbourg — con hẻm Mạc-tư-khoa
Võ Phiến — the neighbor across the garden
Lâm Chi — sách Việt ngữ hải ngoại
Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi
4 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 4 (7-1978)

Mặc Đỗ — văn nghệ Việt Nam ở hải ngoại
Trúc Chi — ven trời một lứa
Lê Tất Điều — viện dưỡng lão
Hoàng Dung — bạn bè dăm bảy đứa
Nguyễn Thị Ngọc Liên — và nắng có phai
Ngh. L. & Huy Lực & Xuân Hiến — thơ
X.X. — Xuân Diệu, Huy Cận đến Đà Lạt
† (không tên) — di chúc của những người tù yêu nước
Constant-Virgil Gheorghiu — kẻ ra đi một mình
Thạch Tâm & Nguyễn Phúc — văn nghệ khắp nơi
† Nguyễn Văn Mộch — (phụ bản) tranh
5 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 5 (8-1978)

Võ Đình — hội họa Việt Nam ở hải ngoại
Trúc Chi — chiếc vòng ngọc
Đăng Khoa — cơn mê
Nguyễn Xuân Quang — tô
Đặng Ty & Ngọc Đức — thơ
Ngô Trung — thư viện lớn nhất hoàn cầu
André Maurois — bóng hồng tháng chín
Hà Xuân — sách Việt hải ngoại
Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi
Võ Đình — (phụ bản) tranh
6 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 6 (9-1978)

Mai Thảo — văn nghệ Việt Nam trong và ngoài nước
Nghiêm Xuân Hồng — triết lý nhận thức và nhân sinh của cộng đồng tha hương Việt
Lôi Tam — chuyện viết cho con trai
Huy Lực — khóc cha (thơ)
Đặng Hải Âu — companion
Ngô Đức Diễm — triền dốc (thơ)
Vô Danh — một chút hương sen
Nguyễn Thị Ngọc Liên — vì một ngày mưa bắt đầu
Trần Thế Du — tôi đi Liên Xô
Milan Kundera — vũ điệu tù ly
Nam Chi — sách Việt hải ngoại
Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi
Lâm Triết — (phụ bản) tranh
7 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 7 (10-1978)

Võ Phiến — cái gốc
Mặc Đỗ (dịch) — con người Nga trong khuôn đúc cộng sản
Đăng Khoa — tiếng chim giữa trời
Cao Tiêu — lưu lạc
Nguyễn Thị Mưa Sa — nhớ người
Võ Đình — xứ sấm sét
Ngh. L. — cũng vì em
Trần Thế Du — một ngày tại Kiev
Xuân Hiến — khung trời tháng tư
Yukio Mishima — ầm ầm tiếng sóng
Ngọc Liên — cách mạng Pháp đi về đâu
Thu Dung — du học sinh Việt Nam thế kỷ thứ XVIII
Phạm Kim Vinh — tàn sát văn hóa và tự sát văn hóa
Phan Lạc Tiếp — những nốt đàn kỳ diệu của Lưu Danh Bình
Nam Chi — sách Việt ở hải ngoại
Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi
Nguyễn Văn Mộch — (phụ bản) tranh
8 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 8 (Giáng Sinh-1978)

Nguyễn Đình Hòa — bút, văn, tiền và liêm sỉ
Bùi Vĩnh Phúc — kỷ niệm như một bông hoa huệ trong ngày Giáng Sinh
Lôi Tam — lan
Trúc Chi — chập chờn
Cao Tần — mùa đông
Hoàng Tiểu Bồ — bài thơ trong bình bát
Nguyễn Thị Ngọc Liên — bến này đất nước
Lê Ngọc Hồ — thu
Tuệ Nga — bước sầu
Ngh. L. — nhớ về con sông Thị Nại
Phan Tùng Nguyên — buổi học tập
Thụy Thùy Châu — lại một nỗi buồn
Vĩnh Liêm — tình cờ
Yên Vũ — những con sóc nhỏ của tôi
Trần Thế Du — bên kia bức tường ô nhục
Doãn Quốc Sỹ — the rat
Thạch Tâm & Liên Hải — văn nghệ khắp nơi
9 † Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 9 † (Xuân Kỷ Mùi-1979)
Xuân Kỷ Mùi

Lâm Chi — tình hình sách báo Việt ngữ năm qua
Nguyễn Đăng Diệm — văn hào Isaac Singer
(không tên) — một bài thơ xuân bảy trăm năm trước
(không tên) — những câu thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương
Ảnh Nguyễn Tán — (phụ bản) người đẹp bên nét bút đẹp
Linh Bảo — văn nghệ trốn đâu rồi
Xuân Hiến — thơ chúc xuân
Xuân Hiến — thiệp xuân
Nguyên Vũ — ngày sinh nhật thứ ba mươi tám
† (không tên) — tình hình tị nạn đến cuối năm 1978
Hoàng Dung — từ lúc đưa em về
Huy Lực — xóm nghèo
Hà Mai Kim — dang dở
Thạch Tâm — các tác phẩm hay nhất trong năm 1978
Võ Phiến — tân niên tâm sự
Trần Thế Du — Roma-ni for you for dollars
Henrich Böll — làm con của người quá cố
Phan Lạc Tiếp — một buổi với nhà văn Mai Thảo
Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi
10 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 10 (1979)

Võ Phiến — người Mỹ cô đơn
Trần Phong Vũ — một buổi sáng buồn
Trúc Chi — dịch - Hải sao
Đăng Khoa — ngày mù sương
Phạm Tăng — cùng một nước cờ
Phạm Tăng — nửa đêm
Cao Thiên Lương — loài chim trốn lạnh
Cao Tiêu — thả
Cao Nhật Quang — góp gom kỷ niệm
Ngô Đức Diễm — ru thai
Nguyễn Văn Mộch — một vài thú chơi ngày Tết qua tranh dân gian
Xuân Hiến — xẩm xoan di tản
B.s. Nguyễn Xuân Quang — ngứa, buồn hay vui
Thu Dung — những thành đạt về học vấn
Phan Lạc Tiếp — sách Việt hải ngoại
Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi
Trần Thế Du — từ Lỗ sang Bảo
Cao Tần & N.N.B. — thơ Cao Tần
Nam Chi — chiến tranh Hoa Việt
Lê Văn Khoa — (phụ bản) bến nước
Trần Chí Trung — (phụ bản) đóng khung
11 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 11 (1979)

Ngũ Đại Hồ — một thủ đoạn văn hóa
Nguyễn Thị Ngọc Liên — một chút xanh loang trời
Phạm Tăng — tình quê
Hồ Trường An — say chiều nắng hạ
Nghi — tiêu dao
Vĩnh Liêm — gã tị nạn
Ng. Đ. L. — ảo ảnh
Xuân Hiến — khóc một người điên
Trúc Chi — vườn cũ
Võ Đình — g.
Ngọc Đức — dấu chân cát bụi
Nam Cao — cái chết của con Mực
Huyền Quang — xuân nhật tức cảnh
Ngô Trung — triết học và đời sống ở Mỹ
Hà Xuân — sách Việt hải ngoại
Thạch Tâm & Tống Quân — văn nghệ khắp nơi
Hồ Bạch Vân — tình hình đây đó
Võ Đình — (phụ bản) tranh (trang 53, 63)
12 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 12 (1979)

Võ Đình — trường hợp Kuniyoshi
Nguyễn Phương — kẻ không chịu làm bù nhìn
Nguyễn Vũ — ngày rời Eau Claire
Tịnh Cơ — tưởng như
Lê Ngọc Hồ — trùng dương nỗi nhớ
Lê Thị Huệ — cánh hoa trước gió
Nguyễn Lương — tu hú trên rừng sim
Nguyễn Qui Nhơn — ngày ta thành mây
Đăng Khoa — ảo mơ
Huy Lực — tà áo Việt Nam
Văn Chương — chữ nôm
Trần Bích Tiên — nói với em lớp sáu
Hoàng Vũ Đ.V. — sách Việt hải ngoại
Thạch Tâm & Tống Quân — thời sự văn hóa
Hồ Bạch Vân — thời sự chính trị
13 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 13 (1979)

Hoàng Minh Kính — triết lý và thời cuộc
Lôi Tam — là biết xa ngăn trùng
Hoàng Ngọc Ẩn — xóm nghèo
Trúc Chi — phục vấn
Thi Vũ — ngậm ngùi
Nguyễn Thị Ngọc Liên — bây giờ tháng mấy
† Cao Tiêu — nhập
Võ Đình Tuyết — đêm ta nằm mộng
Lê Phục An — gia đình
Lê Thị Huệ — nhà trọ
Đào Nguyên — nắng vàng quê hương
Nguyễn Qui Nhơn — mai ta xuống núi
Xuân Hiến — tình thơ giao cảm
L. Trần — bài mưa cho mấy Hạ
Nguyễn Diễm — văn học dân gian truyền khẩu
† Võ Phiến — ế ị
Nguyễn Bính — bài hành phương Nam
Nguyễn Mộng Giác — tuổi thơ u ẩn
† Võ Phiến (Võ Đình dịch) — ế ị (bản Anh ngữ)
Thạch Tâm — thời sự văn hóa
Ngọc Dũng — (phụ bản) tranh

Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới)

Xem Online Nội Dung Số Báo
1 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 1 (5-1985)

Võ Phiến — nền văn học giữa hai cuộc di cư
Nguyễn Mộng Giác — sự phản kháng của văn nghệ sĩ VN dưới chế độ cộng sản
Bùi Vĩnh Phúc — kinh cầu nguyện cho nhà văn lưu vong
Kiều Phong — bôi bẩn dân tộc
Nhật Tiến — chân dung người nữ diễn viên
Võ Đình — cũng thư gửi bạn
Trần Diệu Hằng — trong gương
Hoàng Dung — bà Tám Tồn
Vô Ngã — người thời xưa, người hôm nay
Nguyễn Bá Trạc — thung lũng nở hoa quince
Phạm Quốc Bảo — đường về gian nan
Hà Tiểu Thạch — một chốn xinh tươi
Trúc Chi — thơ Trúc Chi
Mai Thảo — tĩnh tọa
† Chu Vương Miện — góc Yên Đổ, cuối 67
Thái Tú Hạp — phương xa, về thiếu thất
Nguyễn Mạnh Trinh — thơ lục bát
Phạm Cao Dương — hai tài liệu mới về Tôn Thọ Tường
Hồ Dzếnh — thủ bút thi sĩ
(không tên) — điểm sách Việt Nam
(không tên) — thời sự văn học nghệ thuật quốc tế
Võ Đình — (phụ bản) hai bức tranh
2 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 2 (6-1985)
Đặc biệt về Hội họa

Nguyễn Quỳnh — nhận định về hội họa
V.H.N.T. — phỏng vấn họa sĩ Thái Tuấn
V.H.N.T. — phỏng vấn họa sĩ Nguyên Khai
Nguyễn Văn Bảy — tiếng Việt, văn Việt
Bùi Vĩnh Phúc — tân biểu hiện: trường phái của những người phản kháng
Minh Đức Hoài Trinh — nghiệp
Phan Thị Trọng Tuyến — mùa đông vô tận
Trần Diệu Hằng — mưa đất lạ
Nguyễn Bá Trạc — hoa dủ dẻ
Nguyễn Giạ Viên — chút ân huệ
Thạch Hãn — đọc "No more Vietnams"
Nguyễn Văn — thời sự văn học nghệ thuật
Hồ Đắc Ngọc — thi họa Hồ Đắc Ngọc
Nguyễn Tất Nhiên — tự do
Lê Mỹ Hương — nghĩ thầm
Đoàn Thêm — xưa và nay
Bắc Phong — muốn thở phải chặt gông
Huỳnh Liễu Ngạn — tiếng khoan tiếng nhặt ngậm ngùi tiếng em
Hồ Trường An — đề tranh Tứ Mỹ
Ngọc Dũng — (phụ bản) tranh Ngọc Dũng
Nguyễn Văn Ngà — (phụ bản) gặt lúa (trang bìa)
Nguyễn Khai — (phụ bản) giọt sương
Nguyễn Khai — (phụ bản) thiếu nữ
3 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 3 (7-1985)
Số đặc biệt về Nhất Linh

Võ Phiến — Nhất Linh hậu chiến
V.H.N.T. — phỏng vấn nhà văn Linh Bảo
Nguyễn Tường Thiết — Nhất Linh, cha tôi
Võ Phiến — Nhất Linh, siêu hình
Phạm Duy — đi tìm một nhạc ngữ mới
Nhất Linh — đời làm báo
Nhất Linh — đời thi sĩ
Nhất Linh — ký trình
Nhất Linh — thư gửi Linh Bảo
Nhất Linh & Diệu Viên — giấy giao kèo xuất bản
Nguyễn Đình Thẩm — chân tình
Hoàng Xuân Sơn — đời mấy thuở yên vui?
Phạm Công Thiện — triều ngưỡng xa xưa
Nguyễn Tất Nhiên — rào nhân bản
Trúc Chi — thơ Trúc Chi
Luân Hoán — thơ cho vợ
Mịch La Phong — một giòng chia hai
Hà Tiểu Thạch — thơ Hà Tiểu Thạch
Phan Lạc Tiếp — mắt lưới
Lafcadio Hearn — Mimi-Nashi-Hoichi
Võ Ngã — đêm Linh Thành
Phan Thị Trọng Tuyến — xóm nhỏ buổi trưa
Quyên Di — hoa hồng nhà kín
V.H.N.T. — điểm sách
Nguyễn Văn — thời sự V.H.N.T.
4 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 4 (8-1985)

Lê Hữu Mục — Nhất Linh và tôi
Phạm Duy — thời kỳ thành lập: những thử thách và thành quả đầu tiên
Tưởng Năng Tiến — đọc truyện Nước Xuống
Phạm Văn Kỳ Thanh — hành trình vào âm nhạc Việt
Nhất Linh — con cá vàng
Kiệt Tấn — em điên xõa tóc
Lê Mỹ Hương — lỡ lầm
Nguyễn Văn Sâm — nói với khoảng không
Nguyễn Thị Ngọc Nhung — yêu một người
Hoàng Xuân Sơn — bỗng dưng một ngày
Hồ Công Tâm — sống trong cõi chết
Đoàn Thêm — ra đi - đến nơi - lạc đường
Ngu Yên — thơ Ngu Yên
Thanh Nhung — tiêu hao
Nguyễn Mai Thạch — trường hận
Hoàng Xuân Sơn — điều ghi nhận ở một nơi đến
Như Chi — an phận
Trịnh Y Thư — thảo vấn
(không tên) — vườn thơ văn cũ: thơ Tô Thùy Yên
Nguyễn Đình Hòa — tự điển hay tự điển?
Nguyễn Văn — thời sự văn học nghệ thuật
V.H.N.T. — điểm sách, sách mới nhận được
5 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 5 (9-1985)
Số đặc biệt về Âm nhạc

Cung Tiến — chất liệu và kỹ thuật tạo thanh mới trong âm nhạc Tây phương hiện đại
Bùi Vĩnh Phúc — nhạc Rock 'n' Roll bên kia bức màn sắt
Phạm Duy — thời kỳ thành lập xu hướng nhạc tình
Nguyễn Ngọc Bích — hai năm qua, nhạc Việt có gì mới
Phạm Văn Kỳ Thanh — hành trình vào âm nhạc Việt
Võ Phiến — nghĩ về Nguyễn Mạnh Côn
Nguyễn Bá Trạc — việc mới
Phan Thị Trọng Tuyến — tình Thiên Thu
Ludmila Shtern — đường Dostoevsky
Nguyễn Mạnh Côn — bút mực mơ màng
Đinh Tuấn — thơ Đinh Tuấn
Nghiêm Xuân Hồng — hình hài vô lượng
Đỗ Quý Toàn — ở xa mừng đám cưới Lộc Chu
Định Nguyên — trăng xưa
Hà Thúc Sinh — tứ tuyệt
Phan Cung Nghiệp — buồn ơi vẫn buồn
Bùi Vĩnh Phúc — cỏ bồng và trái tim lưu vong
Nguyễn Văn — thời sự V.H.N.T.
Ngô Đình Sở — điểm sách
Phạm Duy — (phụ bản) thủ bút: vài lời về tổ khúc "Bầy Chim Bỏ Xứ"
Cung Tiến — (phụ bản) nhạc bản: chiều cuối năm qua xóm nghèo
6 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 6 (10-1985)

Võ Phiến — chúng ta đọc có ít chăng?
Cung Tiến — chất liệu và kỹ thuật tạo thanh mới (bài kỳ hai)
Nguyễn Bá Trạc — văn chương và chối bỏ
Phạm Duy — Dương Thiệu Tước. Nhóm Myosotis Hà Nội
Vũ Huy Quang — giới thiệu Go Rin No Sho (Kỳ thư Ngũ Đại)
Đào Trung Đạo — chủ thể văn chương
Mai Thảo — nghe đất
Hồ Trường An — trường hợp của Nhượng
Võ Đình — Paris có gì lạ đâu em?
Kiệt Tấn — chú tiểu bìm bịp
Hoàng Liên — ánh sáng và bóng tối
Lê Tâm — nhìn một mắt
Đoàn Thêm — vầng trăng xứ lạnh
Đào Trường Phúc — chiều nắng vàng phương xa
Đào Trường Phúc — mưa trên quê hương tôi
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — đôi ngả
Ngu Yên — chiều nhậu chả giò ở Houston
Vi Khuê — đọc thơ Ngu Yên
Định Tuấn — nhập cuộc tử sinh
Định Nguyên — cho nhau
V H N T — thời sự văn học nghệ thuật
Nguyễn Đình Sở — sách mới nhận, điểm sách
Nguyễn Đình Hòa — hai kiệt tác VN dịch sang tiếng Nhật
7 Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 7 (11-1985)
Số đặc biệt: Ngôn ngữ học

Nhật Tiến — một suy nghĩ của người cầm bút lưu vong
Nguyễn Ngọc Bích — ngôn ngữ học Việt Nam đang đi về đâu?
Nguyễn Đình Hòa — kiểm điểm những công trình nghiên cứu chữ nôm
Huỳnh Hữu Cửu — nhận xét về vài trường hợp chính tả
Phạm Văn Kỳ Thanh — hành trình vào âm nhạc Việt
Hồ Trường An — trên dải tâm hồi
Hoàng Liên — ánh sáng và bóng tối (2)
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — mặt trận dài
Nguyễn Phước Nguyên — mảnh vườn
Võ Phiến — thác đổ sau nhà
Định Nguyên — tháng 10 Cali, bốn mùa ta
Luân Hoán — một mình uống rượu, ngày qua ngày
Trần Khải Đường — đọc Bão Nổi
Nguyễn Văn — thời sự văn học nghệ thuật
Văn Nghệ — tâm thư của nhà xuất bản

Báo Văn Học

Xem Online Nội Dung Số Báo
1 Báo Văn Học — Số 1 (2-1986)
ĐẶC BIỆT VỀ THI CA

BÙI VĨNH PHÚC — Đi vào cõi thơ
ĐỖ QUÍ TOÀN — Nói chuyện thơ
NGUYỄN BÁ TRẠC — Tình hoang mang gợi tứ hoang mang
QUYÊN DI — Thiên nga phi mình và và cô nhạn xuất quần †
BÙI VĨNH PHÚC — Thơ, hình như trái tim
VÕ ĐÌNH — Trường hợp ông Kim
ĐỊNH NGUYÊN — Trăm năm chợt nhớ...
NGUYỄN MAI THẠCH — Cùng chung chiến tuyến...
HOÀNG XUÂN SƠN — Mùa đông ...
LUÂN HOÁN — Hạnh phúc ta
VÔ NGÃ — Tiểu muội lớn rồi...
NGUYỄN ĐỨC LẬP — Ngựa Đông phương...
THÁI TÚ HẠP — Cảm khái Đường thi
CHU VƯƠNG MIỆN — Tương lai...
LÊ THỊ HIỀN — Mời ...
THANH NHUNG — Lên đường
CUNG VŨ — Giang hồ vặt
NGU YÊN — Đi về đâu hỡi kẻ mù
NGUYỄN BAN SƠ — Ngủ say từ độ mây bay
HUỲNH LIỄU NGẠN — Viễn mộng
NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN — Phương tây...
LÊ GIANG TRẦN — Dù em như sao khuất
KIỆT TẤN — Đoãn khúc cho hình say rượu
NGUYỄN TẤT NHIÊN — Cũng cần cho hạnh phúc
NHẬT TIẾN — Cánh cửa
HOÀNG LIÊN — Ánh sáng và bóng tối (kỳ 4)
2 Báo Văn Học — Số 2 (3-1986)
NHỮNG CÂY BÚT NỮ HẢI NGOẠI

NGUYỄN MỘNG GIÁC — Nghĩ về một số nhà văn nữ hải ngoại hiện nay
NGUYỄN ĐÌNH HOÀ — Sự diễn biến của chữ nôm
PHẠM DUY — Thời kỳ thành lập xu hướng nhạc tình: Lê Thương
BÙI VĨNH PHÚC — Đọc Lớp Sóng Phế Hưng
TRẦN DIỆU HẰNG — Bữa Tiệc
PHAN THỊ TRỌNG TUYẾN — Đêm Trăng
VI KHUÊ — Ngựa hồng trên đồi cỏ
NGUYỄN THỊ HOÀNG BẮC — Trên triền dốc
NGUYỄN THỊ NGỌC NHUNG — Lỗi thời gian
PHẠM THỊ NGỌC — Trên con đường tìm về nhà
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN — Ngày xót xa đưa
ĐỊNH NGUYÊN — Thủy Mạc (lục bát)
VŨ THÙY HẠNH — Cỏ Mùa Đông, Thủy Mạc
VÕ ĐÌNH — Chuông đồng ba tiếng gióng thênh thang
TRẦM HƯƠNG — Trái yêu thương
NGUYỄN NGỌC THUẬN — Nhà đâu ta về (truyền kỳ)
HOÀNG LIÊN — Ánh sáng và bóng tối (5)
NGUYỄN VĂN — Thời sự văn học nghệ thuật
3 Báo Văn Học — Số 3 (4-1986)
SỐ ĐẶC BIỆT VỀ TIỂU THUYẾT

BÌNH NGUYÊN LỘC — Vài ý nghĩ về truyện ngắn
STEPHEN O. LESSER & THẠCH HÃN — Văn học Trung quốc sau Mao Trạch Đông
KIÊM ĐẠT — Tiểu thuyết Mỹ hiện đại
PHẠM DUY — Thời kỳ thành lập xu hướng nhạc tình: Đặng Thế Phong
PHẠM VĂN HẢI — Chữ viết của người Việt trước thời bị Tàu đô hộ
VÕ PHIẾN — Rụp rụp (tùy bút)
NHẬT TIẾN — Một buổi diễn kịch
VÕ ĐÌNH — Lô cấu
HỒ TRƯỜNG AN — Tạp chủng
NGUYỄN ĐỨC LẬP — Cũng còn cơ hội
NGUYỄN THANH QUANG — Guitar
NGUYỄN TẤT NHIÊN — Trời đất yêu thương
ĐỊNH NGUYÊN — Ngày tháng Hạ
VÔ NGÃ — Qua muôn ngàn ức kiếp
BÙI VĨNH PHÚC — Ba mươi ba tuổi
LÊ THỊ HIỀN — Kính lễ
TRẦM HƯƠNG — Dấu mộng tiền thân
NGUYỄN VĂN — Thời sự văn học
HÀ QUÂN — Điểm sách Đáy Địa Ngục (điểm sách)
4 Báo Văn Học — Số 4 (5-1986)
KỶ NIỆM 11 NĂM QUỐC HẬN

Brancusi — Chim không gian (tượng)
Tạ Tỵ — Biết đến bao giờ (tùy bút)
Hoàng Xuân Sơn — Tay trái (thơ)
Thái Tuấn — Tranh
Xuân Vũ & Văn Học — Thực trạng giới nhà văn cộng sản Miền Bắc trước 1975
Ngọc Dũng — Tranh
Bùi Bảo Trúc — Xa nhà đọc thơ Hạ Tri Chương (thơ)
Stephen O. Lesser & Thạch Hãn — Văn học Trung quốc sau Mao Trạch Đông
Định Nguyên — Ru người tháng Tư (thơ)
Kiệt Tấn — Một người rất bận (tùy bút)
Nguyễn văn Sâm — Ngày tháng bồng bềnh (truyện ngắn)
Võ Đình — Tranh
Đỗ Quí Toàn — Tiếng nói thơ
Nguyên Khai — Tranh
Như Chi — Sinh nhật yêu thương (thơ)
Phan Ni Tấn — Hôn Lễ (thơ)
Bình Nguyên Lộc — Với cái giá phải chết (truyện ngắn)
Nguyễn Ban Sơ — Cuối cùng chỉ toàn là mây bay (thơ)
Nguyễn thị Ngọc Lan — Một chút hạnh phúc nhỏ (truyện ngắn)
Hạ Quốc Huy — Từ nước mắt em xa (thơ)
Phạm Duy — Xu hướng nhạc hùng
Thái Tú Hạp — Những chặng đường quê hương (thơ)
Trần văn Tích — Vài nét về Nguyễn Hiến Lê sau 1975
Vũ Huy Quang — Bèo nước (truyện ngắn)
Nguyễn Phước Nguyên — Trận chiến (truyện ngắn)
Lê Diệp Cẩm — Cây hoa giấy và trái xoài (tùy bút)
Phan Cung Nghiệp — Xuân về nào có hay (thơ)
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Nguyễn Xuân Hoàng — Giới thiệu Tháng Ba Gãy Súng (điểm sách)
Nguyễn Bá Trạc — Thư gửi bạn từ San Jose
Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật
5 Báo Văn Học — Số 5 (6-1986)
TƯỞNG NIỆM THANH NAM

Cung Vũ — Tống tửu thi
Di ảnh Thanh Nam †
Túy Hồng — Đến khi mất tiếng nói
Nguyễn Mạnh Trinh — Riêng một cõi tôi
Bình Nguyên Lộc — Vài kinh nghiệm viết lách với Thanh Nam
Nguyễn Mai Thạch — Sáng tạo (thơ)
Mai Thảo — Lần thăm cuối cùng
Võ Phiến — Một trang thư về Hai mươi năm viết văn làm báo
Trần thị Lai Hồng — Hồn xưa tiếng xưa
Nguyễn Mộng Giác — Đất Khách: Khúc ngâm trên đất tạm dung
Thanh Nam — Thơ Thanh Nam
Thanh Nam — Tháng Tư Phú Quốc và thơ Cao Tần
Phạm Quang Ngọc — Gửi bạn; Hai dòng sông (thơ)
Tôn Thất Tuệ — Gói măng khô (truyện ngắn)
Bắc Phong — Chỉ vì nhục (thơ)
Phạm Duy — Thanh niên lịch sử ca
Thế Giang — Cay đắng nở hoa (truyện ngắn)
Ngu Yên — Nếu mai anh chết lời này là di chúc (thơ)
Kiệt Tấn — Giờ tay ngoặc nguyệt (truyện ngắn)
Trầm Hương — Bài thơ của Mai
Vân Yên — Người con gái Việt Nam da vàng (truyện ngắn)
Trầm Hương — Lệ trắng (thơ)
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Nguyễn văn Sâm — Về Bình Minh Câm của Nguyễn Đức Bạt Ngàn (điểm sách)
Nguyễn Mộng Giác — Thư từ Quận Cam
Nguyễn Văn — Thời sự văn nghệ
Nguyễn Đình Hoà — Lục Vân Tiên dịch ra tiếng Nhật bản
6 Báo Văn Học — Số 6 (7-1986)
TÂM CẢNH LƯU VONG

Magazine littéraire — Tâm trạng các nhà văn lưu vong Nga
Nguyễn Bá Trạc — Chị Quỳnh thân mến: Ông Võ Phiến, tháng ngày ở Mỹ và tôi
Đặng Phùng Quân — Đưa người đi (thơ)
Nguyễn Đình Hoà — Kiểm điểm những công trình nghiên cứu chữ nôm
Định Nguyên — Chỗ tạm (truyện ngắn)
Nguyễn Tất Nhiên — Trời đất yêu thương (thơ)
Nguyễn Đăng Diệm — Thanh Nam và Đất Khách
Huỳnh Liễu Ngạn — Một cuộc tình sớm mai (thơ)
Như Chi — Thơ đêm (thơ)
Phạm Duy — Hoàng Quý và Đồng Vọng
Vũ Quỳnh Hương — Trăng ở Halfmoon Bay (thơ)
Nguyễn Xuân Hoàng — Bạn bè ở Sài gòn năm 1973 (truyện)
Bùi Bảo Trúc — Tình khúc mới (thơ)
Hồ Trường An — Bèo bọt (truyện ngắn)
Luân Hoán — Giặt áo quần cho vợ (thơ)
Nguyễn Trần Việt — Đọc Đời viết văn của tôi
Nguyễn Mai Thạch — Chiều hoàng cung, Mộng và Thực (thơ)
Bùi Quang Triết — Mạng tù (truyện)
Trịnh Gia Mỹ — Cõi riêng (truyện)
Nguyễn thị Hoàng Bắc — Nương dâu (truyện)
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Nguyễn Hữu Nghĩa — Sinh hoạt văn nghệ tại Canada
7 Báo Văn Học — Số 7 (8-1986)

Võ Phiến — Thi ca Miền Nam từ 1954 đến 1975
Nguyễn Hiến Lê — Kết quả sau 5 năm
Định Nguyên — Như là mây trắng (thơ)
Lỗ Tấn - Vụ Bản — Con diều giấy (truyện)
Luân Hoán — Khiêng nước (thơ)
Phạm Duy — Thời kỳ thành lập xu hướng nhạc hùng
Đào Trường Phúc — Dạ Khúc (thơ)
Hồ Trường An — Hai khuôn mặt (truyện)
Lê thị Hiền — Bãi cát vàng mộ ta, Thắc Mắc (thơ)
Phạm văn Hải — Hạnh (truyện)
Vũ Quỳnh Hương — Thư gửi người yêu cũ (thơ)
Lê Diệp Cẩm — Thằng Cuội (tùy bút)
Hàn Song Tường — Trong cơn lốc vỡ (thơ)
Hồ Đình Nghiêm — Ảo mộng (truyện)
Ngu Yên — Nhất định không khóc. Những dư thừa nào bất hạnh (thơ)
Bùi Vĩnh Phúc — Cho đi lại từ đầu (tùy bút)
Nguyễn thị Bạch Yến — Hai người đàn bà không quê hương (truyện)
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Ngọc Hân — Vào cõi Hồng trần với thơ Cung Vũ (điểm sách)
Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật
8-9 Báo Văn Học — Số 8-9 (10-1986)

Văn Học — Nhà văn Vũ khắc Khoan đã từ trần
Tạ chí Đại Trường — Một trú sở Việt của Thần linh
Nghiêm Xuân Hồng — Bội tâm hành (thơ)
Bình Nguyên Lộc — Tìm hiểu truyện Kiều
Định Nguyên — Đợi em ta đợi đến bao giờ? (thơ)
Mai Kim Ngọc — Vợ chồng (truyện ngắn)
Nguyễn Huy Chương — Thơ
Phạm Quốc Bảo — Ngã rẽ (truyện ngắn)
Đặng Phùng Quân — Sinh nhật (thơ)
Cung Tiến — Hoà âm và âm nhạc Tây phương thế kỷ thứ 20
Minh Khánh — Thuyền (thơ)
Nguyễn Đức Bạt Ngàn — Thơ
Vũ Quỳnh Hương — Miền vĩnh phúc (truyện)
Nguyễn Bá Trạc — Bản nháp vài trang tiểu thuyết của một người di cư nhức đầu vừa phải (tùy bút)
Thế Giang — Chỗ nước đọng (truyện)
Tôn Nữ Ngộ Khê — Giọt lệ này (thơ)
Thế Giang — Ba thằng cuối giời (truyện)
Bắc Phong — Nhục nước, Ý thơ
Phạm Duy — Thời kỳ thành lập: Xu hướng nhạc hùng
Ngô Nguyên Dũng — Chia nhau những tờ thư phong (thơ)
Vũ Huy Quang — Trưa nắng, thưa các anh (tùy bút)
Ngu Yên — Thuật ký pháp của thơ
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
10 Báo Văn Học — Số 10 (11-1986)

Bùi Vĩnh Phúc — Vấn đề thẩm thức một tác phẩm nghệ thuật
Nguyễn văn Sâm — Một ngôi sao nữa rụng
Đặng Phùng Quân — Về Vũ Khắc Khoan
Thạch Mai — Nắng thu phong (thơ)
Mai Kim Ngọc — Nước mắt chảy xuôi (truyện ngắn)
Tagore — Bùi Bảo Trúc — Tặng vật của tình nhân (thơ dịch)
Tạ Chí Đại Trường — Một trú sở Việt của thần linh: Cái đình làng
Định Nguyên — Tự hỏi, Giọt lệ bất ngờ, Rất xa (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — Bên kia rừng (truyện ngắn)
Thái Tú Hạp — Vầng trăng huyền thoại (thơ)
Phạm văn Hải - Vũ thị Dung — Dạy quốc ngữ theo phương pháp tự nhiên
Phạm thị Ngọc — Cái nhà trong một cái nhà (truyện ngắn)
Ngu Yên — Trong khi chờ phi cơ (thơ)
Phạm Duy — Nhạc cách mạng lãng mạn (2)
Hồ Đình Nghiêm — Thoáng mây (truyện ngắn)
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Bùi Vĩnh Phúc — Đọc Màu Cỏ Úa của Nguyễn Ngọc Ngạn
Nguyễn Văn — Thời sự văn học
11 Báo Văn Học — Số 11 (12-1986)

Văn nghệ sĩ hải ngoại — Lên tiếng chung
Nguyễn Mộng Giác — Thư gửi một người bạn trẻ
Nguyễn thị Sông Hương — Đọc Văn học Miền Nam: Tổng quan, của Võ Phiến
Đỗ Quí Toàn — Buổi trưa ra đường, Ước chi (thơ)
Nguyễn văn Sâm — Sống đời trôi giạt (truyện)
Nghiêm Xuân Hồng — Gửi họ Vũ (thơ)
Thái Tuấn — Một mùa thu không buồn
Nguyễn Ngọc Thuận — Thánh giá oan khiên buổi phế thần (thơ)
Võ Đình — Thư cho một hoạ sĩ trẻ
Nguyễn Đức Bạt Ngàn — Huế (thơ)
Nguyễn Xuân Hoàng — Chiếc mặt nạ (truyện)
Đặng thị Quế Phượng — Hoá kiếp... (thơ)
Nguyễn thị Ngọc Lan — Bước chân chim (truyện)
Phạm Việt Cường — Hoá thạch (thơ)
Kiệt Tấn — Vườn chanh miệt biển (truyện)
Phạm Duy — Thời kỳ phát triển nhạc tình
Trịnh Gia Mỹ — Bóng núi (truyện)
Triều Khê — Tìm hiểu truyện Kiều
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Nguyễn Nam Anh — Đọc Dấu Bể của Phạm Quốc Bảo
Nguyễn Mộng Giác — Đọc Mưa đất lạ, Thơ Hiền, Hoá ra nét chữ lên đàng quấn quanh, Đời sống và Cây bút chì
Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật
12-13 Báo Văn Học — Số 12-13 (1&2-1987)
XUÂN ĐINH MÃO

Võ Đình — Phụ bản tranh bìa
Nguyễn thị Hợp — Phụ bản tranh Tết; Lời chúc Tết của Văn Học †
Cao Tiêu — Tùng (thơ)
Đan Quế — Xuân Thanh (thơ)
Kiệt Tấn — Em vịt vàng nhỏ của tôi (truyện)
Thái Tuấn — Phụ bản tranh
Nguyễn Mạnh Trinh — Ngày mồng Một Tết, Mùa xuân em anh (thơ)
Bình Nguyên Lộc — Tết là gì?
Đỗ Quí Toàn — Mở cửa ra em, Chân dung (thơ)
Nguyễn Mộng Giác — Thư mùa Xuân gửi người bạn trẻ
Tạ Tỵ — Lại mùa Xuân
Ngọc Dũng — Phụ bản tranh
Mai Thảo — Trả lời phỏng vấn của Văn Học
Bùi Vĩnh Phúc — Trăng vỡ anh ra, Mưa-hương của đoá hoa giữa khuya (thơ)
Nhật Tiến — Trả lời phỏng vấn của Văn Học
Nghiêm Xuân Hồng — Hư tình khúc (thơ)
Hoàng Khởi Phong — Thư gửi người vừa tới
Nguyễn Bá Trạc — Mưa ở góc đường O'Farell và Larkin... (thơ)
Nhật Tiến — Nhóm lửa (truyện)
Đặng thị Quế Phượng — Tấu hoà nhập ma (thơ)
Nguyễn văn Sâm — Mùa Xuân lọt qua kẽ hở (truyện)
Nguyễn Đồng — Phụ bản tranh
Như Chi — Chiều (thơ)
Phạm Quốc Bảo — Trong nắng ấm cuối Đông bước sang Xuân
Ngô Nguyên Dũng — Về một mùa Xuân năm xưa (truyện)
Ngu Yên — Sáu ngày nghiêm chỉnh một ngày ngây ngô (thơ)
Thế Giang — Tình yêu của những con ma (truyện)
Hoàng Xuân Sơn — Vô kỳ, Ơ không (thơ)
Nguyễn Xuân Hoàng — Bọc điều (truyện)
Nguyễn Khai — Phụ bản tranh
Vũ Huy Quang — Giòng lương thức (kịch)
Nguyễn thị Hợp — Phụ bản tranh
Nguyễn Đức Bạt Ngàn — Nỗi niềm đã xanh (thơ)
Vi Khuê — Một lần ăn Tết ở đây (truyện)
Như Chi — Tiêu Phong (thơ)
Nguyễn Ngọc Thuận — Phát lưu ca (thơ)
Mai Kim Ngọc — Một chút riêng tư (truyện)
Uyên Nguyên — Đợi Xuân (thơ)
Nguyễn thị Hoàng Bắc — Điều còn lại (truyện)
Vũ Nam — Góp ý về vấn đề những cây bút trẻ
Cao Bình Minh — Vườn bạn (truyện)
Nguyễn Ban Sơ — Như một ngày mây bay (thơ)
Hoàng Đỗ — Vợ Mỹ (truyện)
Võ Đình — Ngày Xuân lại tìm hiểu truyện Kiều
14 Báo Văn Học — Số 14 (3-1987)

Nguyễn Bá Trạc — Thoại Châu tôi biết trời chưa sáng (thơ)
Thế Giang — Vũng lầy (truyện ngắn)
Tạ Tỵ — Bài thơ cuối năm
Nguyễn Thanh Hùng — Thư gửi Chú Võ Đình
Phạm thị Ngọc — Tình truyện (truyện ngắn)
Phạm Duy — Nhạc tình
Ngô Nguyên Dũng — Đóng lại giùm tôi cánh cửa sau cùng (truyện ngắn)
Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký)
Bình Nguyên Lộc — Không lơ-là với Lơ-láo
Kim Y Phạm Lệ Oanh — Góp ý về truyện Kiều
Nguyễn Quỳnh — Mấy ý kiến về truyện Kiều
Đào Trung Đạo — Đọc "Mùa hè một nơi khác"
Nguyễn Ngọc Bích — Đọc "Văn học Miền Nam Tổng quan" của Võ Phiến
Kiệt Tấn — Vườn chanh miệt biển (truyện ngắn)
Nguyễn Ban Sơ — Còn có bao ngày (thơ)
15 Báo Văn Học — Số 15 (4-1987)

Văn Học — Nhà văn Bình Nguyên Lộc đã từ trần
Nghiêm Xuân Hồng — Lạc nẻo cố nhân (thơ)
Nguyên Sa — Hoa sen và Hoa đào (thơ)
Nguyễn Xuân Hoàng — Bình Nguyên Lộc ở rừng U Minh (tùy bút)
Nguyễn Bá Trạc — Thơ đứng xoa râu, Bến sông xanh (thơ)
Bình Nguyên Lộc — Chiều hồn nước (truyện ngắn)
Như Chi — Tận khúc (thơ)
Nguyễn văn Sâm — Nước mắt ly rượu (thơ)
Sơn Nam xử sĩ — Tìm hiểu truyện Kiều
Vũ Thùy Hạnh — Thơ ngày nghỉ bệnh
Văn Học — Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Đức Lập
Hoàng Xuân Sơn — Vô cầu, Về, Tuyết (thơ)
Lê Tâm — Như màu đêm (truyện ngắn)
Hồ Trường An — Mưa trên Lạc de la forêt d'Orient (thơ)
Bùi Bảo Trúc — Người con gái có móng tay sơn đỏ gắt (truyện ngắn)
Hạ Quốc Huy — Thư gửi người học trò đã đi xa (thơ)
Nguyễn Mộng Giác — Đàm thoại với nhóm Thế Hệ ở Houston
Diệu Tần — Đại bại mùa Thu (truyện ngắn)
Phạm Duy — Nhạc tình: Văn Cao
Bùi Vĩnh Phúc — Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy
Nguyên Lương — Đọc thơ Ngu Yên
Ngu Yên — Nguyền yêu em dù cuộc sống hoang đường (thơ)
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Đại học UCI — Thư gửi cộng đồng Việt Nam
16 Báo Văn Học — Số 16 (5-1987)
KỶ NIỆM ĐỆ NHỊ CHU NIÊN

Thái Tuấn — Mơ về nguồn cội
Tạ Chí Đại Trường — Phổ hệ và chế độ nội hôn của nhà Trần
Trần Nghi Hoàng — Viết cho Mây (thơ)
Nguyễn Duy — Mưa San Jose nhớ Santa Barbara (thơ)
Phan Ni Tấn — Em, Đi mưa (thơ)
Đặng Phùng Quân — Hành trạng, Cõi tạm (thơ)
Phố Tịnh — Nhân một vài hiện tượng văn học mới
Huy Lực — Sinh nhật năm mươi trên đất người (thơ)
Nguyễn Bá Trạc — Trời mưa ở Berkeley (tùy bút)
Phan Ni Tấn — Thơ
Hàn Song Tường — Vấn đề giải phóng phụ nữ trong văn chương nữ giới
Đoàn văn Xuyên — Sau ngày bom nổ tìm hồn em trong vũ trụ vô cùng (thơ)
Nguyễn Xuân Quang — Cô nàng Tô thị (truyện)
Nguyễn Ban Sơ — Bài thơ cho con đầu lòng (thơ)
Quyên Di — Hương ngâu (truyện)
Lê Mỹ Hương — Cái rác (truyện phim)
Thường Quán — Manh áo cũ (thơ)
Phạm Duy — Nhạc tình Văn Cao (2)
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Bảo Lâm — Đọc Ngựa nản chân bon
Đào Huy Đán — Đọc Cỏ biếc
Phạm Vũ — Đôi khi (thơ)
Nguyễn Văn — Thời sự văn học
Một nhóm làm văn hoá — Tâm thư gửi đồng bào Việt Nam
17 Báo Văn Học — Số 17 (6-1987)
SỐ ĐẶC BIỆT VỀ THI CA

Nguyễn Hưng Quốc — Nhà thơ và cảm xúc thơ, Cấu trúc một bài thơ
Cung Vũ — Lên non hái trái (thơ)
Nguyễn Bá Trạc — Thư gửi người bạn thơ
Nguyễn Lý — Không đảo, Cánh chim (thơ)
Đoàn Xuân Kiên — Về vấn đề dịch thơ
Đặng thị Quế Phượng — 49, Đinh Tiên Hoàng Ban mê thuột (thơ)
Ngu Yên — Tạp ghi về thơ
Nghiêm Xuân Hồng — Say vào Hoa tạng (thơ)
Vũ Thùy Hạnh — Mùa Xuân trong vườn (thơ)
Như Chi — Giữ giùm em (thơ)
Hàn Song Tường — Lưu đầy (thơ)
Bùi Vĩnh Phúc — Tôi là bọt sóng...
Thường Quán — Xưa thơ (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — Câu chuyện của thầy Hương quản (truyện)
Tuấn Huy — Quán tưởng (thơ)
Nguyễn Tất Nhiên — Một nụ vô thường, Như là hôm qua (thơ)
Ngu Yên — Đề nghị tái lập thời Địa đàng (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh — Ở Tân thủy, 1980 (thơ)
Nguyễn Hiền Thảo — Giữa trưa, những bông hoa (truyện)
Tạ Chí Đại Trường — Vấn đề loạn luân của họ Trần
Nguyễn Xuân Quang — Cô nàng Tô thị (truyện)
Phạm Duy — Nhạc tình Văn Cao
Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký)
Đào Trường Phúc — Đọc Cậu bé và Hoa mai
Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật
18 Báo Văn Học — Số 18 (7-1987)
VĂN NGHIỆP BÌNH NGUYÊN LỘC

Văn Học — Tiểu sử Bình Nguyên Lộc
Hồ Trường An — Tổng quan về sự nghiệp Bình Nguyên Lộc
Mai Thảo — Bên kia, Vẫn hoa, Đứng lên, Chân dung (thơ)
Sơn Nam xử sĩ — Bình Nguyên Lộc tìm nguồn gốc dân tộc Việt Nam bằng phương pháp đối chiếu ngôn ngữ
Phạm Công Thiện — Trở về sa mạc vùng Tây vực... (thơ)
Nguyễn Bá Trạc — Rừng thiên nga (thơ)
Diệu Tần — Bóng dáng người đàn bà Tàu và Bình Nguyên Lộc
Nghiêm Xuân Hồng — Chiều tâm lượng (thơ)
Phạm Duy — Gặp Bình Nguyên Lộc ở "Quán bên đường"
Võ Phiến — Cá tính địa phương
Hoàng Xuân Sơn — Mười mấy năm... (thơ)
Cao Huy Khanh — Bình Nguyên Lộc, nhà văn của đời sống hàng ngày
Thường Quán — Trưa tháng năm (thơ)
Nguyễn văn Sâm — Xin được lần cuối gọi bằng Anh
Luân Hoán — Lững thững theo đời (thơ)
Nguyễn Ban Sơ — Vịnh người đồng hương (thơ)
Triều Khê — Cái méo chuyên môn đáng yêu của Bình Nguyên Lộc
Tuấn Huy — Bình Nguyên Lộc, cuống rún còn dính liền với đất nước
Nguyễn Xuân Hoàng — Phỏng vấn nhà văn Bình Nguyên Lộc
Trần Hoài Thư — Nam Ô (truyện)
Huyền Châu — Bóng chiều tàn (truyện)
Nguyễn thị Hoàng Bắc — Hương nồng đá nát (truyện)
Lê Tâm — Cảnh tượng
Nguyễn Hưng Quốc — Cảm xúc trong thơ (tản mạn về thơ 3)
Họa sĩ Nguyễn thị Hợp — Bìa: Chân dung Bình Nguyên Lộc
19 Báo Văn Học — Số 19 (8-1987)

Đỗ Quí Toàn — Đọc thơ
Hoàng Xuân Sơn — Nhật, Vũ... (thơ)
Nguyễn Hưng Quốc — Hình tượng thơ
Như Chi — Nguyên sơ (thơ)
Trần thị Núi Sông — Niềm mơ ước lặng thầm (thơ)
Ngu Yên — Thơ Hài cú và Tân hài cú
Thái Tú Hạp — Nghe suốt đời ta một núi sông (thơ)
Trầm Phục Khắc — Đêm ta ghìm thép nổ (thơ)
Lê Mỹ Hương — Trận địa lún (truyện)
Nguyễn Mộng Giác — Tìm hiểu thế giới nhân vật của Võ Phiến
Phan Bích Lâm Quân — Thèm có một quê hương (thơ)
Trần Hoài Thư — Cái chết của người bạn văn (truyện)
Nguyễn Ý Thuần — Nhắc nhau một thuở ấu thời (thơ)
Vũ Huy Quang — Chuyện tình (truyện)
Đặng Phùng Quân — Cõi ngoài (truyện)
Phạm Duy — Nhạc tình (tiếp theo)
Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký)
Thụy Khuê — Đọc Tiếng Kèn của Nhật Tiến
Bùi Bảo Trúc — Đọc Người Đi Trên Mây của Nguyễn Xuân Hoàng
Nguyễn Mạnh Trinh — Đọc Ngày Tháng Bềnh Bồng của Nguyễn văn Sâm
Nguyễn Văn — Thời sự văn học
20 Báo Văn Học — Số 20 (9-1987)
VĂN NGHIỆP VŨ KHẮC KHOAN

Bùi Vĩnh Phúc — Vũ Khắc Khoan và Samuel Beckett: Nghệ thuật, như một cái cớ
Phan Ni Tấn (ND) — Tưởng Tiếc (thơ)
Viên Linh — Ký hoạ: Cái bàn năm chân
Tuấn Huy — Tưởng niệm "Thần Tháp Rùa"
Nghiêm Xuân Hồng — Giấc ngủ chiều (thơ)
Thanh Tâm Tuyền — Nghĩ về Thành Cát Tư Hãn: Cái cớ của Vũ Khắc Khoan
Định Nguyên — Người dưng (thơ)
Kiệt Tấn — Em áo chim (thơ)
Văn Học — Phỏng vấn nhà thơ Viên Linh
Nguyễn Nhật Duật — Quan điểm nghệ thuật của Vũ Khắc Khoan qua Thần Tháp Rùa
Cao Huy Khanh — Vũ Khắc Khoan: Huyền truyện của những năm 50 Việt Nam
Nguyễn Mạnh Trinh — Thơ gửi chàng lãng tử Nguyễn Bắc Sơn, Trăng Núi (thơ)
Đặng Phùng Quân — Lộng Ngôn, như một cách nói
Lê Huy Oanh — Một công trình sưu tầm của Vũ Khắc Khoan: vở chèo Quan Âm Thị Kính
Điệp Mỹ Linh — Câu chuyện đứt ngang (truyện ngắn)
Nguyễn Bá Trạc — Thơ tháng Sáu 1987
Nguyễn Phước Nguyên — Lối về (truyện ngắn)
Diệu Tần — Thà đừng thương (truyện ngắn)
Nguyễn Quỳng — Mai Ly, một tài năng mới
Bùi Bảo Trúc — Đọc "Thằng Người Có Đuôi" của Thế Giang
Nguyễn Văn — Thời sự văn học
21 Báo Văn Học — Số 21 (10-1987)
SỰ NGHIỆP VĂN NGHỆ PHẠM DUY

Phạm Văn Kỳ Thanh — Thế giới ca khúc Phạm Duy
Phạm Duy — Tuổi thơ (hồi ký)
Nguyễn Mộng Giác — Tạ ơn Đời, Tạ ơn Anh
Hồ Trường An — Những giọng hát làm nổi bật nhạc Phạm Duy
Duyên Anh — Phạm Duy còn đó Việt Nam
Quỳnh Giao — Thư gửi Anh
Bùi Vĩnh Phúc — Phạm-Duy-Tâm-ca, một Thi sĩ đắm đuối và phẫn nộ
Lê Mỹ Hương — Nhạc trung hữu Hoạ
Trần Văn Ân — Phạm Duy, nòi tình
Hàn Vĩ — Nhạc kháng chiến của Phạm Duy
Bùi Bảo Trúc — Phạm Duy, một Nguyễn Du giữa chúng ta
Đỗ Ngọc Yến — Tâm ca Phạm Duy và Phong trào Du ca
Ngu Yên — Thơ trong dòng nhạc Phạm Duy
Tuấn Huy — Phạm Duy trọn đời khóc cười theo vận nước
Hà Y — Ngục ca chấn động thế giới
Phạm Duy — Tác phẩm đã phổ biến từ trước tới nay; Sơ đồ sáng tác
22 Báo Văn Học — Số 22 (11-1987)
GIỚI THIỆU 9 NGƯỜI VIẾT TRẺ

Nguyễn Thanh Hùng — Xuôi Nam (truyện)
Nguyễn Ý Thuần — Westminster, một góc café và 4 cô casher (thơ)
Tạ Thái — Mây xa (truyện)
Tạ Thái — Gương, Tôi và Thiếu phụ (thơ)
Chân Phương — Một chỗ cho người (truyện)
Tiểu San — Thơ
Nguyễn Phước Nguyên — Chuyến đi (truyện)
Nguyễn Hoàng Nam — Ngày nghỉ (truyện)
Nguyễn Hoàng Nam — Tự tình (thơ)
Huỳnh Liễu Ngạn — Lục bát
Hoàng Mai Đạt — Khu vườn của ông (truyện)
Trần Trúc Giang — Con đường âm phủ (truyện)
Thái Tuấn — Em hãy đi (thơ)
Nguyễn Hiền Thảo — Ánh sáng trong căn phòng mù (truyện)
Phạm Quang — Suy tư trong đêm (truyện)
Nguyễn Tất Nhiên — Cảm người 9 năm (thơ)
Thái Tuấn — Màu ánh sáng
Võ Đình — Tranh thơ
Nguyễn Bá Trạc — Chuyện một ngày, chuyện một ngày khác
Đoàn Xuân Kiên — Tiếng lóng ở Sài Gòn
Trần Hoài Thư — Cho con, mùa tựu trường
Nguyễn Bá Trạc — Thơ cuối tháng 8.87
Đặng thị Quế Phượng — Dâu bể (truyện)
Triều Khê — Văn chương, cách thể diễn tả hay phương tiện đấu tranh chính trị?
Ngu Yên — Thở dưới những bàn chân (thơ)
Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký, tiếp theo)
Thụy Khuê — Điểm sách: Thằng Người Có Đuôi của Thế Giang & Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác (điểm sách)
23 Báo Văn Học — Số 23 (12-1987)

Bùi Bảo Trúc — Brodsky, nhà thơ đoạt Nobel văn chương năm 1987
Ngu Yên — Joseph Brodsky, nhà thơ lưu vong tiêu biểu
Hoàng Dương — Lời nguyện đêm Giáng sinh (thơ)
Võ Phiến — Mười giờ (tùy bút)
Võ Phiến — Đêm (thơ)
Nguyễn Tất Nhiên — Dung khúc (thơ)
Tạ Chí Đại Trường — Tiền giấy ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 14 - nửa đầu thế kỷ 15
Nguyễn văn Sâm — Đọc thư người tình cũ (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — Những vì sao (truyện)
Như Chi — Chiều (thơ)
Hoàng Xuân Sơn — Nuôi tóc (thơ)
Nguyễn Ý Thuần — Số độc đắc (truyện)
Nguyễn Mạnh Trinh — Rượu tiễn (thơ)
Phạm Hiếu — Euclid, Lobachevsky và Bùi Vĩnh Phúc...
Trần Trúc Giang — Sức đồng hoá trong thế hệ văn chương lưu vong
Nguyễn thị Ngọc Lan — Được mùa yêu (truyện)
Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký)
Mai Kim Ngọc — Muôn kiếp cô liêu (truyện dài trích đăng)
Bảo Lâm — Đọc "Những Cơn Mưa Trở Về" của Bùi Vĩnh Phúc
Vũ Huy Quang — Đọc "Thép Đen" của Đặng Chí Bình
Nguyễn Văn — Thời sự Văn học Nghệ thuật
24-25 Báo Văn Học — Số 24-25 (1&2-1988)
TẾT MẬU THÌN

Nguyễn thị Hợp — Phụ bản tranh Xuân
Nguyễn Mạnh Trinh — Một năm văn học : Tác phẩm và Tác giả năm 1987
Nguyễn văn Sâm — Dịch thơ Lý Bạch
Cao Tiêu — Thủy Nguyệt (thơ)
Ngu Yên — Trong khi sắp viết về chủ đề Xuân
Mai Thảo — Cõi bờ, Gọi thức, Chỗ đặt, Lao động, Không tiếng (thơ)
Nguyên Sa — Thơ Xuân
Nguyên Khai — Phụ bản tranh Xuân Xanh
Nhật Tiến — Những sự thực cần được nói ra (truyện)
Định Nguyên — Những giọt pha lê (thơ)
Thái Tú Hạp — Trong vườn Xuân hạnh ngộ (thơ)
Nguyễn Đồng — Phụ bản tranh
Võ Đình — Một món Tết thật mặn mà (tùy bút)
Lê Giang Trần — Lời nói của đêm (thơ)
Nguyễn Hoàng Nam — Thơ đầu năm
Nguyễn Xuân Hoàng — Buổi tối, trong một quán ăn trên đường Beach (truyện)
Nguyễn Tất Nhiên — Tâm cảnh (thơ)
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — Xuân bất tận (truyện)
Luân Hoán — Bạc tóc (thơ)
Kiệt Tấn — Những đoá hạnh phúc không ngờ (truyện)
Hoàng Xuân Sơn — Mai thạch (thơ)
Như Chi — Mộ khúc (thơ)
Phạm Duy — Viết về thơ "Tâm sự đêm Giao thừa" của Hoàng Cầm
Bùi Bảo Trúc — K. khúc 1,2,3 (thơ)
Lê Tâm — Mùa Xuân qua đèo (truyện)
Phan Ni Tấn (ND) — Những bữa tiệc tù (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — Mùa Xuân xuôi Nam (truyện)
Ngô Nguyên Dũng — Hoa (thơ)
Bùi Vĩnh Phúc — Quá khứ (thơ)
Nguyễn Ngọc Thuận — Không một chỗ (truyện)
Thế Uyên — Bể dâu trong tiếng Việt
Nguyễn Ý Thuần — Cuối năm (truyện)
Hoàng Mai Đạt — Một mối tình đẹp tuyệt vời
Trần Trúc Giang — Người thả chim đại bàng (truyện)
Bùi Vĩnh Phúc — Góp ý với ông Phạm Hiếu...
26 Báo Văn Học — Số 26 (3-1988)

Minh Phú — Di ảnh nhạc sĩ Vũ Thành
Lê văn Khoa — Nhạc sĩ Vũ Thành và tôi
Quỳnh Giao — Vũ Thành, người nhạc sĩ khí khái và ngạo nghễ
Hồ Đình Nghiêm — Ở trạm cuối (truyện ngắn)
Thế Uyên — Vấn đề Cao Miên và cuộc tranh chấp giữa hai dân tộc Thái và Việt
Diệu Tần — Chuột và Người (truyện ngắn)
Nguyễn Quỳnh — Jacques Derrida và Thuyết Phê bình Cơ cấu
Nguyễn Thị Thanh Bình — Ở đời sống này (truyện ngắn)
Tạ Chí Đại Trường — Tiền giấy VN vào cuối thế kỷ 14 đến nửa đầu thế kỷ 15
Nguyễn Phước Nguyên — Hàng rào (truyện ngắn)
Vũ Đăng Khoa — Bước chân năm cũ (truyện ngắn)
Ngô Duy Chinh — Thảo luận : Cuộc tao phùng giữa Đông Tây và Sinh hoạt người Việt tị nạn
Thụy Khuê — Đọc Xứ Sấm Sét của Võ Đình
Nguyễn Đình Hoà — Thơ Nôm Nguyễn Trãi được dịch ra tiếng Pháp
Bùi Bảo Trúc — Đọc Tùy Bút II của Võ Phiến
Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký)
Mai Kim Ngọc — Muôn kiếp cô liêu (trích đoạn truyện dài)
Nguyễn Tấn Hưng — Mùa Xuân này ta nên làm đẹp
27 Báo Văn Học — Số 27 (4-1988)

Lê Tâm — Ba mươi năm sau bài "Phê bình lãnh đạo văn nghệ" của Phan Khôi
Trần Thị Kim Lan — Edna (truyện ngắn)
Thụy Khuê — Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm
Nguyễn Việt Thường — Thơ
Nguyễn Thị Tiêu Dao — Những cây bút phụ nữ phản kháng tại Liên bang Xô viết
Nguyễn Bá Trạc — Xuân về trên đảo Bidong (thơ)
Lê Mỹ Hương — Hai mảnh tim tươi của một nhà thơ
Như Chi — Cõi Chết (thơ)
Hồ Trường An — Trang sách thần tiên (truyện ngắn)
Trịnh Y Thư — Dịch ba bài thơ của Solzhenitsyn
Nguyễn Hiền Thảo — Ngủ không được (truyện ngắn)
Bùi Bảo Trúc — James Arthur Baldwin, Chấm dứt một bản blues
Nguyễn Mạnh Trinh — Buổi chiều ở phố núi (thơ)
Nguyễn Hoàng Nam — Mưa, nhớ người phía Bắc (thơ)
Võ Kỳ Điền — Bút pháp Kiệt Tấn qua "Nụ Cười Tre Trúc"
Thế Uyên — Vài nhận xét về cuốn "Lịch sử dân tộc Việt Nam" của Phạm Cao Dương
Đỗ Khiêm — Lỗi tại vì đêm (thơ)
Triều Khê — Góp ý về bài "Bể dâu trong tiếng Việt"
Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký)
Mai Kim Ngọc — Muôn Kiếp Cô Liêu (trích đoạn truyện dài)
28 Báo Văn Học — Số 28 (5-1988)
TUYỂN TẬP THƠ VĂN

Mai Thảo — Tin Xuân, Rừng câm, Có Lúc, Lẻ Một, Ảo Thuật (thơ)
Đỗ Kh. — Gaston (Alimad) Nhị truyện
Viên Linh — Bờ Tâm Hải (thơ)
Thế Uyên — Nhà văn các ông là đồ nhiều sự
Nguyễn Việt Thường — Chưa ra trường đã biết... (thơ)
Phan thị Trọng Tuyến — Chút gió còn lại (truyện)
Trần thị Kim Lan — Kẻ lạ người thân (truyện)
Trần Trúc Giang — Bài thơ tối thứ bảy
Nguyễn đức Lập — Nửa thức đất (truyện)
Thương Quân — Vườn Sương, Bóng Hình, Ga Chiều (thơ)
Nguyễn Ngọc Thuận — Phía dưới khẩu hiệu (truyện)
Vân Yên — Chi (truyện)
Bùi Thanh Liêm — Sư Phụ (truyện)
Mai kim Ngọc — Muôn kiếp Cô liêu (truyện dài)
29 Báo Văn Học — Số 29 (6-1988)
LẠI BÀN VỀ THƠ

Nguyễn Hưng Quốc — Tứ thơ
Nguyễn Mạnh Trinh — Khi tưởng lại núi rừng (thơ)
Ngu Yên — Tâm sự với người bạn thơ
Như Chi — Ối những dòng sông... (thơ)
Hoàng Xuân Sơn — Luân vũ (thơ)
Trần thị Kim Lan — Gió đêm (truyện ngắn)
Nguyễn Việt Thường — Mẹ, dòng cổ tích sầu (thơ)
Đỗ Kh. — Chẳng cần lan can ở Vérone (truyện ngắn)
Hà Trung — Một cành huệ mới đó đã gãy trong sân chùa (thơ)
Đào Trung Đạo — Junk Mail (truyện ngắn)
Thường Quán — Hương mùa ẩn tích (thơ)
Nguyễn thị Thanh Bình — Que diêm kỷ niệm (truyện ngắn)
Huỳnh Liễu Ngạn — Vòng hoa cho Hư vô, trơ†
Ngu Yên — Đôi chim Mai Hoa (đoản văn)
Xuân Vũ - Lê Mỹ Hương — Phạm Duy muốn nói gì với những trai gái của thế kỷ 21...
Nguyễn Tấn Hưng — Lại làm đẹp
Tranh bìa: Tranh dân gian Việt Nam đầu thế kỷ 20
30 Báo Văn Học — Số 30 (7-1988)

Trần văn Tích — Từ Pavlov đến Glasnot
Bùi Bảo Trúc — 1980, Trở về căn nhà cũ ở Sài Gòn (thơ)
Nguyễn Thanh Hùng — Thư gửi chú Võ Đình
Nguyễn văn Sâm — Gặp người bạn cũ (thơ)
Bùi Vĩnh Phúc — Một cách nhìn về 13 năm văn chương Việt ngoài nước
Hạ Quốc Huy — Gọi đời trên dâu bể (thơ)
Nguyễn thị Hoàng Bắc — Trăng biển (truyện)
Ngu Yên — Khi bằng hữu biết nói (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — Chốn tâm tình ẩn náu (truyện)
Ngô Nguyên Dũng — Mùa xanh vô cùng (thơ)
Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc ở Đàng Trong
Thường Quán — Đón đêm vào (thơ)
Đỗ Kh. — Hình chụp ở Đồng Đăng (truyện)
Đỗ Kh. — Thúy Lịch buổi sáng (thơ)
Hồ Đình Nghiêm — Đi thực tế (truyện)
Thế Uyên — Đọc "Việt Nam Quê Hương Tôi" của L.M. Dominici Đỗ Minh Trí
Nguyễn Thanh Hùng — Tranh bìa Văn Học số 30
31 Báo Văn Học — Số 31 (8-1988)
DOÃN QUỐC SỸ

Văn Học — Tiểu sử Doãn Quốc Sỹ
Doãn Quốc Sỹ — Trích lời viết của Doãn Quốc Sỹ
Đào Trường Phúc — Đằng sau vụ "xử" Doãn Quốc Sỹ
Hoàng Xuân Sơn — Tinh thần, Và Bạo lực (thơ)
Mai Thảo — Vài kỷ niệm với Ông Giáo
Thường Quán — Đọc Khu Rừng Lau (thơ)
Nhật Tiến — Vài kỷ niệm với nhà văn Doãn Quốc Sỹ
Nguyễn Mạnh Trinh — Gửi Dòng Sông Định Mệnh (thơ)
Võ Đình — Doãn Quốc Sỹ và Tiếng hát tự lòng đất
Nguyễn Ngọc Thuận — Vài ý nghĩ rời buổi sáng (thơ)
Nguyễn Mộng Giác — Doãn Quốc Sỹ người anh khả kính
Nguyễn Xuân Hoàng — Đi xa với Doãn Quốc Sỹ
Thế Uyên — Những khoảng đường chung với Doãn Quốc Sỹ
Phạm Quốc Bảo — Nhớ về một trường hợp
Nguyễn Nam Phong — Văn nghệ sĩ lại bị khủng bố
Quỳnh Giao — Nhạc trong văn Doãn Quốc Sỹ
T.V. — Điểm sách : "Những tên biệt kích cầm bút"
Cao Xuân Huy — Cửa Việt (bút ký đăng nhiều kỳ)
Văn Học — Học giả Hoàng văn Chí từ trần
Võ Đình — Tranh bìa : Phác hoạ chân dung Doãn Quốc Sỹ, Sài gòn 1974; Hai phụ bản tranh
32 Báo Văn Học — Số 32 (9-1988)

Mai Thảo — Thơ
Võ Phiến — Tiếng Việt và người Việt ở hải ngoại
Cao Đông Khánh — Di tản America (thơ)
Diệu Tần — Con vịt một chân (truyện)
Thụy Khuê — Hoạ sĩ Lê thị Lựu
Luân Hoán — Nghe tiếng chim xưa (thơ)
Hoàng Xuân Sơn — Trưa Sài gòn (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh — Đất khách đọc thơ Bùi Giáng và Tô Thùy Yên (thơ)
Nguyễn Tất Nhiên — Tâm hương (thơ)
Ngu Yên — Siêu vi khuẩn (truyện)
Đỗ Kh. — Một đêm ở Hamburg (truyện)
Hàn Song Tường — Như mây (thơ)
Đặng Phùng Quân — Sinh nhật của T. (thơ)
Vân Yên — Anh theo Tảo về (truyện)
Nguyễn Việt Thường — Thơ đẹp như kinh, Tinh tấn đạo đời
Nguyễn Hoàng Nam — Đánh dấu mùa hè thứ hai (thơ)
Lữ Mộc Sinh — Sống và Thơ (thơ)
Thường Quán — Mẹ-Đêm (thơ)
Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc ở Đàng Trong (kỳ 2)
Bùi Bảo Trúc — Đọc "Tiểu Thuyết" Võ Phiến
Ngô Ngọc Mỹ & Nguyễn Đạt — Làm đẹp chữ Việt
Bùi Ngọc Đường — Nhật Tiến : Một khuynh hướng sáng tác mới trong văn học hải ngoại (kỳ 1)
33 Báo Văn Học — Số 33 (10-1988)
THƠ VĂN CÁC CÂY BÚT NỮ

Tranh bìa: Tranh dân gian đầu thế kỷ 20
Nguyễn thị Hoàng Bắc — Máu se tàn lạnh (truyện)
Trân Sa — Thơ
Phạm thị Ngọc — Mưa đêm (truyện)
Vũ Thùy Hạnh — Thơ
Trần thị Kim Lan — Hoàng tử và Kẻ khờ (truyện)
Như Chi — Mây (thơ)
Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc Đàng Trong (kỳ 3)
Võ Đình — Ý nghĩa một lời giới thiệu
Nguyễn thị Thanh Bình — Người khách lạ (truyện)
Thụy Khuê — Đọc Bèo Giạt của N.M.G.
Nguyễn Tấn Hưng — Còn đâu thi vị
Bùi Ngọc Đường — Nhật Tiến : Một khuynh hướng sáng tác mới trong Văn học hải ngoại (tiếp kỳ trước)
34 Báo Văn Học — Số 34 (11-1988)
MỘT SỐ KHẢO CỨU VIỆT HỌC

Trung tâm Văn Bút Nam Cali — Tuyên cáo...
Phạm Công Thiện — Cộng sản Việt Nam vừa tuyên án tử hình hai thiền sư lỗi lạc...
Định Nguyên — Túy Hành khúc (thơ)
Đỗ Kh. — Nobel văn chương năm 1988
Nguyễn Mạnh Trinh — Một mình (thơ)
Nguyễn Hưng Quốc — Nghĩ về Thơ (bài 1 & 2)
Huy Lực — Thơ Huy Lực
Trần văn Tích — Diện mạo bộ Y Tông Tâm Lĩnh (kỳ 1)
Như Chi — Thí dụ, Thái dương (thơ)
Nguyễn Đông Thái — Những người Mỹ đầu tiên tới Việt Nam
Bùi Bảo Trúc — Lời gửi một mối tình 40 (thơ)
Thường Quán — Vào đêm (thơ)
Nguyễn Thuyết Phong — Thế giới âm nhạc Việt Nam
Trịnh Y Thư — Bài hài cú về Thu
Nguyễn Hiền Thảo — Ở một nơi toàn là đàn ông, Dọn sang nhà bên cạnh (truyện)
Ngô Nguyên Dũng — Tiếng núi (truyện)
Phan Ni Tấn (ND) — Nghĩ tội thơ
Nguyễn Kỳ Phong — Người con gái tập hát (truyện)
Nguyễn Thị Thanh Bình — Mù khơi (thơ)
Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc ở Đàng Trong (kỳ cuối, phụ bản tiền cổ)
35 Báo Văn Học — Số 35 (12-1988)
TUỆ SỸ & LÊ MẠNH THÁT

Lê Hậu — Trước án tử hình, bóng dáng Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát
Tuệ Sỹ — Thơ Tuệ Sỹ
Phạm Công Thiện — Một buổi sáng đọc thơ Tuệ Sỹ
Thích Mãn Giác — Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát và con đường của Phật giáo Việt Nam
Viên Linh — Trí, Tuệ (thơ)
Lê Mạnh Thát — Nghiên cứu tình trạng Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn chống xâm lăng
Tuệ Sỹ — Lô sơn Chân diện mục
Lê Mạnh Thát — Trao đổi ý kiến về tác giả bài "Xuân nhật tức sự"
Trân Sa — Bài ca năm 1986 : Không tuyệt vọng...
Văn Bút Nam Cali — Đọc thơ Tuệ Sỹ tại TTVB Hoa Kỳ
Nguyễn Hưng Quốc — Nghĩ về thơ (tiếp theo kỳ trước)
Phạm Duy — Trích Hồi ký
Trần thị Kim Lan — Đi trong giấc mơ (truyện ngắn)
Trần văn Tích — Nội dung Y Tông Tâm Lĩnh (tiếp kỳ trước)
Quỳnh Giao — Đọc truyện Thế Giang
Thụy Khuê — Đọc "Muôn kiếp cô liêu" của Mai Kim Ngọc
Viên Linh — Trình bày bìa Văn Học số 35
36-37 Báo Văn Học — Số 36-37 (1&2-1989)
TẾT KỶ TỴ

Khánh Trường — Tranh bìa
Võ Đình — Phụ bản tranh Năm Rắn
Bùi Bảo Trúc — Nhìn lại tình hình sách vở năm 1988
Mai Thảo — Thơ: Ngũ tạng, Thủy tận...
Luân Hoán — Thơ Xuân Kỷ Tỵ
Nguyễn Ngọc Bích — Một năm văn học nở rộ : Tiểu thuyết
Nguyên Sa — Bãi xa, Hậu giải phẫu (thơ)
Định Nguyên — Quê hương, ngày nào? (thơ)
Nguyễn Đồng — Tranh Tết, tìm lại những hình ảnh chưa bao giờ có thật
Nguyễn Đồng & Nguyễn thị Hợp — Phụ bản phỏng tranh dân gian
Nguyễn Bá Trạc — Kể chuyện (thơ)
Nguyễn Văn ghi — Vài suy nghĩ của người sáng tác
Nguyễn Mạnh Trinh — Xuân tận (thơ)
Trần thị Kim Lan — Ngày Xuân ra phố (truyện)
Trịnh Y Thư — Xuân tâm (thơ)
Hà Trung — Xuân thì (thơ)
Chân Phương — Thêm một mùa Xuân (truyện)
Hoàng Xuân Sơn — Thơ hồng
Nguyễn thị Ngọc Nhung — Trông vời quê mẹ (truyện)
Phạm Quốc Bảo — Cuối thu ở Washington D.C. (thơ)
Võ Đình — Xứ mây mù (truyện)
Đào Trung Đạo — Sinh nhật thơ tù ngục (thơ)
Thế Uyên — Kẻ sĩ và Thiền sư
Khoa Hữu — Trái tim người qua sông Cửu Long (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — Bắt đầu năm thứ 19 (truyện)
Nguyễn đức BạtNgàn — Lịch sử, Tổ quốc, Lên đường (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện — Phỏng vấn về Sinh hoạt văn nghệ hải ngoại
Nguyễn Ngọc Thuận — Thơ Xuân
Nguyễn thị Hoàng Bắc — Chi lạ rứa? (truyện)
Nguyễn Việt Thường — Tình sử (thơ)
Thụy Khuê — Các nhà văn viết về đàn bà
Hoàng Khởi Phong — Tùy bút
Nguyễn văn Sâm — Kẻ thua cuộc (truyện)
Diệu Tần — Thư ngỏ gửi nhà văn Nhật Tiến
Trần Diệu Hằng — Tháng bệnh của Bà Ngoại (truyện)
Trần Hoài Thư — Gió qua Thành Nội (truyện)
Nguyễn Ý Thuần — Rồi cũng yêu nhau (truyện)
Đỗ Khiêm — Chuyện tình trong đường hầm (truyện)
Bùi Vĩnh Phúc — Nhật ký lửa của một người thơ
Nguyễn Hưng Quốc — Trải bốn phần năm Mùa Biển Động, nhìn lại...
38 Báo Văn Học — Số 38 (3-1989)
SỐ TÂN NIÊN 1989

Trân Sa — Người làm nở hoa Quỳnh (truyện)
Trân Sa — Thơ
Hoàng Khởi Phong ghi — Vài suy nghĩ của người sáng tác (kỳ 2)
Phạm văn Kỳ Thanh — Lạc âm thiều
Phạm Duy — Hồi ký
Thế Uyên — Bể dâu trong tiếng Việt (3)
Thường Quán — Thơ
Như Chi — Thơ
Hàn Song Tường — Khu rừng cháy (thơ)
Trịnh Gia Mỹ — Xa quê, ngồi nhớ Nguyên đán xưa (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — Một đoá bất ngờ (thơ)
Nguyễn Tất Nhiên — Tâm chung (thơ)
Hoàng Xuân Sơn — Thơ
Tưởng Vũ Anh Thy — Mộng đắc tịnh liên tại hương thủy hải (thơ)
Ngu Yên — Biết làm sao bây giờ (thơ)
Nguyễn Ý Thuần — Tật nguyền (truyện)
Lưu Đình Vong — Bốn nét chân dung (thơ)
Bùi Vĩnh Phúc — Đêm và ngày, và Phạm công Thiện...
Nguyễn Hưng Quốc — Kiệt Tấn, nụ cười tre trúc
Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Nguyễn Xuân Hoàng — Những ý kiến về một bài báo đăng trên Đoàn Kết
Bùi Ngọc Đường — Quanh những sáng tác của nhà văn Nhật Tiến, chào mừng đối thoại
39 Báo Văn Học — Số 39 (4-1989)

Trần Ngọc Ninh — Câu Chuyện Danh Từ Khoa Học Và Danh Từ Y Khoa
Hồ Mộng Trần — Về Dallas (truyện)
Thường Quán — Ga Cuối Năm (thơ)
F.E.E.R. — Phỏng vấn Salman Rushdie: Sự Kiện, Niềm Tin Và Giả Tưởng
Nguyễn Xuân Hoàng — Tự Truyện Một Người Vô Tích Sự (truyện ngắn)
Hoàng Khởi Phong ghi — Mấy Suy Nghĩ Của Người Sáng Tác (thảo luận)
UCI Library Vietnam/Southeast Asia Archive — Thông báo
Nguyễn Mạnh Trinh — Gửi Bằng Hữu Miền Đông, Mưa Lụt Ở Thủ Thừa 1980 (thơ)
Nguyễn Hưng Quốc — Nghĩ Về Thơ: Cảnh trong thơ và màu sắc trong cảnh
Nguyễn Ý Thuần — Đâu Cần Đợi Hiệp Ba (truyện)
Nguyễn Tất Nhiên — Buồn Khúc (thơ)
Nguyễn Đức Lập — Từ Bốn Mươi Năm Trước (truyện)
Trần Sa — Giữa Những Hàng Ghế Trống (truyện)
Bùi Ngọc Đường — Chào Mừng Sự Đối Thoại (tiếp theo kỳ trước)
40 Báo Văn Học — Số 40 (5-1989)
BƯỚC QUA NĂM THỨ NĂM

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (đã thử ở #39, tốn quá nhiều thời gian giữa batch)
41 Báo Văn Học — Số 41 (6-1989)
GIỚI THIỆU NHỮNG CÂY VIẾT TRẺ Ở ÚC

Cheo Reo — Một vài mẫu đời với phần phụ chú (truyện)
Cao Huy — Bà Lão (truyện)
Uyên Nguyên — Ngộ nhận (thơ)
Cao Huy — Khách lạ trên bóng nước (thơ)
Hoàng Ngọc Tuấn — Những đêm không còn (nhạc)
Thường Quán — Thu, Cánh đồng (thơ)
Hoàng Tử Dương — Kìa, Ngôi sao (truyện)
Uyên Nguyên — Hát một mình (thơ)
Kiệt Tấn — Đi trong thành phố có nắng (truyện)
Nguyễn Mạnh Trinh — Phỏng vấn Nguyễn Ý Thuần
Nguyễn Đức An — Xuân tới một lần (truyện)
Nguyễn thị Thanh Bình — Những gặp gỡ bất ngờ (truyện)
Giáo sư Bùi Quang Tung — Đóng góp về vụ can thiệp hải quân Mỹ tại Đà Nẵng năm 1845
Nguyễn Lê Hồng Hương — Thư không viết
Võ Đình — Giới thiệu Long Lanh Hạt Bụi
Hoàng Khởi Phong — Giới thiệu sách mới
Nguyễn Thành Nhơn — Tranh bìa Văn Học số 41
42 Báo Văn Học — Số 42 (7-1989)

Trần Vũ — Ngôi nhà sau lưng văn miếu (truyện ngắn)
Mai Thảo — Em đã hoang đường từ cổ đại (thơ)
Nguyễn Mộng Giác — Lời cuối cho một bộ trường thiên
Hồ Đình Nghiêm — Gạch nối (truyện ngắn)
Lê Bi — Sử mai (thơ)
Nguyễn thị Hoàng Bắc — Mây lạc (truyện ngắn)
Chân Phương — Ứng khẩu giữa nhà bếp và phòng ngủ (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh — Mùa hè đỏ lửa Phan Nhật Nam (thơ)
Ngu Yên — Du phiếm (thơ)
Diệu Tần — Hóa thân (thơ)
Thụy Khuê — Kiệt Tấn, từ Nụ Cười Tre Trúc đến Thương Nàng Bấy Nhiêu (điểm sách)
Ngô Nguyên Dũng — Nhạc chuông trong thời băng phiến (truyện ngắn)
Lê Hoàng Minh — Cái quyền thứ tư (truyện ngắn)
Nguyễn Xuân Thu — Giảng dạy và nghiên cứu Việt học ở Úc châu
Thế Uyên — Hai mươi năm sau
Phạm Quốc Bảo — Mùa hè tới, ở đâu có tranh đấu dân chủ tự do?
Đỗ Kh. — Nói chuyện với Nguyễn Xuân Hoàng về cuốn Sa Mạc
43 Báo Văn Học — Số 43 (8-1989)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (đã thử ở #39, tốn quá nhiều thời gian giữa batch)
44 Báo Văn Học — Số 44 (9-1989)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (đã thử ở #39, tốn quá nhiều thời gian giữa batch)
45 Báo Văn Học — Số 45 (11-1989)

Nguyễn Mộng Giác — Nhìn Lại Một Chặng Đường
Trần Vũ — Hành Lang Tâm Thần (truyện ngắn)
Nhược Thủy — Dòng Sông Sa Mạc (truyện ngắn)
Nhược Thủy — Hoa Tháng Bảy (thơ)
Nhược Thủy — Trăm Năm Người Vẫn Gọi Về (thơ)
Văn Cũng Thường — Áng Mây Mê Ngủ (truyện ngắn)
Ngọc Khôi — Kẻ Thứ Ba (truyện ngắn)
Sĩ Liêm — Con Chim Thời Tiết (truyện ngắn)
Triều Hoa Đại — Cõi Trăng Xa (thơ)
Triều Hoa Đại — Có Kẻ Chợt Buồn (thơ)
Hoàng Xuân Sơn — Thiên Hương (thơ)
Thường Quán — Đêm Sen (thơ)
Nguyễn Việt Thường — Bài Ca Của Người Có Đôi Mắt Chim Sâu (thơ)
Nguyễn Tôn Nhan — Thèm Xưa (thơ)
Võ Đình — Cái Nét Bất Thường Trong Truyện Võ Phiến
Nguyễn Đức Lập — Phong Vũ Tiêu Tiêu, Lôi Vũ Động (truyện dài)
46 Báo Văn Học — Số 46 (12-1989)

Nguyễn Đức Lập — Đứa Con Tập Tàng
Đinh Thạch Trung — Suối Bãi Sông Hằng (thơ)
Bùi Giáng — (thơ, không đề tựa) †
Phạm Việt Cường — Một Vũ Trụ Tàn của Wolfgang Hildeseimer (truyện dịch)
Trần Vũ — Mưa Bên Chồng (truyện ngắn)
Khánh Trường — Có Yêu Em Không (truyện ngắn)
Quỳnh Giao — Những Người Chết Đuối Trên Cạn Trong Mùa Biển Động Của Nguyễn Mộng Giác (điểm sách)
Phạm Công Thiện — Giải Thưởng Văn Chương Nobel năm 1989 Tiểu Thuyết Gia Camilo José Cela Một Nền Văn Chương Đen Tối, Tàn Bạo, Hoang Trống, Khôi Dị, Điên Loạn, Khốc Liệt Và Vô Cùng Thơ Mộng (văn học nước ngoài)
Vũ Thùy Hạnh — Thu (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh — Sinh Nhật (thơ) †
Hoàng Xuân Sơn — Trăng Mùa (thơ)
Nguyễn Việt Thường — Đá Và Mặt Nạ (thơ)
Thường Quán — Trưa (thơ)
Thường Quán — Chiều Tận (thơ)
Phạm Việt Cường — Bảy Chấm (thơ)
Chân Phương — Sáu Đoạn Tứ Tuyệt (thơ)
Cao Đồng Khánh — Hoàng Hạc (thơ)
Nguyễn Xuân Hoàng — Tiếng Đàn Tự Do Bên Bức Tường Ô Nhục (sổ tay văn học)
Nguyễn Mộng Giác — Tạp Ghi
Nguyễn Đức Lập — Phong Vũ Tiêu Tiêu, Lôi Vũ Động (truyện dài)
Hoàng Khởi Phong — Trâu Đồng Ta Ăn Cỏ Đồng Ta (đất và người)
47-48 Báo Văn Học — Số 47-48 (1-1990)
XUÂN CANH NGỌ

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
49 Báo Văn Học — Số 49 (3-1990)
VĂN CHƯƠNG PHẢN KHÁNG?

Nguyễn Mộng Giác — đôi điều suy nghĩ
Nguyễn Đức Lập — cảm nghĩ rời
Nghiêm Xuân Hồng — gorbachev, bàn tay siêu bí ngạn
Nghiêm Xuân Hồng — qua sông ni liên (thơ)
Nguyễn Hưng Quốc — thơ mai thảo, tiếng mưa thầm
Trần Sa — dặn bàn tay phải (thơ)
Trần thị Kim Lan — điệp khúc (thơ)
Thường Quán — cửa tân niên (thơ)
Mai Thảo — mỹ không ăn liền (truyện ngắn)
MLP — hỏi trăng (thơ)
Huỳnh Liễu Ngạn — bài thơ xuân (thơ)
Chân Phương — vài nhận xét về thơ Đỗ Kh.
Ngọc Khôi — chỗ trọ trong rừng chuối (truyện ngắn)
Cao Xuân Huy — luật báo chí 1990
Trần Thiện Hiệp — (thơ, không đề tựa) †
Khế Iêm — rừng sâu (truyện ngắn)
Nguyễn Kỳ Anh — như câu hát ru em (truyện ngắn)
Phạm Việt Cường — phép lạ (thơ)
Luân Hoán — sáu tám vu vơ (thơ)
Chân Phương — bài thơ tân gia (thơ)
Trần văn Tích — một số vấn đề văn học...
Trần Văn Lệ — tìm một chỗ ngồi (thơ)
Hoàng Đỗ — tuổi trẻ việt nam và tiểu thuyết hiện đại
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lôi vũ động (truyện dài)
50 Báo Văn Học — Số 50 (4-1990)
VĂN CHƯƠNG PHẢN KHÁNG?

Thụy Khuê — đại hội nhà văn Việt nam lần thứ IV
Bửu Tiến — tham luận
Định Nguyên — những tưởng (thơ)
Trần Sa — họ chẳng có gì để tự vệ (thơ)
Trầm Phục Khắc — nuôi bền (thơ)
Hà Nguyên Thạch — lên đồi đón xuân (thơ)
Hoàng Khởi Phong — ly thân, một trường hợp điển hình...
Nhật Tiến — về dòng văn chương phản kháng
Vũ Huy Quang — vài cảm nghĩ nhân đọc vàng lửa
Vạn Giả — phôi pha (thơ)
Nguyễn Huy Thiệp — vàng lửa (truyện ngắn)
Nguyễn Ý Thuần — như diều đứt dây (truyện ngắn)
Nguyễn Xuân Hoàng — thư gửi T. đang ở Sàigòn (tạp ghi)
Lê Diệp Cẩm — trở lại biển, (thơ) †
Thập Lang — của hương hỏa... (truyện ngắn)
Tôn Thất Hưng — trăng (thơ)
Lê Giang Trần — nguyệt rơi (thơ)
Đông Nhân — nhật ký thiên an môn
Phạm Văn Hải — xem buổi sáng một mình
Hoàng Xuân Sơn — thủy thạch (thơ)
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
51 Báo Văn Học — Số 51 (5-1990)

Nghiêm Xuân Hồng — biện chứng của loài bò sát
Hoàng Xuân Sơn — nam phố (thơ)
Thụy Khuê — tiến trình văn học phản kháng từ 1980 đến 1990
Trịnh Y Thư — chiều đứng bên sông (thơ)
Trương Vũ — vài suy nghĩ liên quan đến văn chương phản kháng
Thập Lang — sĩ phu và sinh mệnh dân tộc
Triều Hoa Đại — kinh đêm (thơ)
Chân Phương — phía mặt trời lặn (truyện ngắn)
Ngữ An — (thơ, không đề tựa) †
Huy Lực Bùi Tiến Khôi — (thơ, không đề tựa) †
Ngô Nguyên Dũng — đêm hóa trang (truyện ngắn)
Nguyễn Đức Tùng — (thơ, không đề tựa) †
Dương Như Nguyện — mùi hương quê (truyện ngắn)
Trần Sa — ngày nào là ngày giỗ mẹ (truyện ngắn) †
Trần văn Tích — tỳ bà hành, một kiệt tác dịch thơ hán ra thơ việt
Thường Quán — đêm tháng giêng đọc bạch cư dị (thơ)
Lê Bi — (thơ, không đề tựa) †
Khế Iêm — trong một thoáng nhìn trời sao mà chuyển mộng (thơ)
Hoàng Khởi Phong — đọc cánh cửa của nhật tiến
Quỳnh Giao — căn nhà ngói đỏ của barbara, cảm nghĩ khi đọc tập truyện nguyễn xuân hoàng
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
52 Báo Văn Học — Số 52 (6-1990)

Nghiêm Xuân Hồng — một khuôn mặt populist: dương thu hương
Thụy Khuê — những bài lý luận và phê bình
Trương Vũ — những thiên đường mù, văn chương phản kháng trong tác phẩm dương thu hương
Lưu Nguyễn — bóng ngựa (thơ)
Bùi Bích Hà — tôi đọc Ly Thân của Trần Mạnh Hảo
Hoàng Xuân Sơn — tiếng hát lên đường (thơ)
Vũ Huy Quang — thông điệp của Ly Thân... và Trần Mạnh Hảo
Mai Kim Ngọc — cứu lấy trẻ con
Ngô Nguyên Dũng — đuổi gió (thơ)
Kiệt Tấn — đọc buồn xưa bây giờ của Thụy Khanh
Thụy Khanh — ngâm thơ cổ nhớ người
Khánh Trường — nào có gì đâu, tôi đang sống đấy mà (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh — vàng nắng (thơ)
Lê Anh Tuấn — nhớ trường sơn (thơ)
Mịch La Phong — nhân nghĩa phù vân (thơ)
Bắc Phong — nỗi mâu thuẫn hồng kông (thơ)
Giang Hữu Tuyên — vườn mía (thơ)
Nguyễn thị Hoàng Bắc — bài thơ cho ngôi nhà thờ đá (truyện ngắn)
Hương Nhỏ — tiếng nói (truyện ngắn)
Phan Tấn Hải — đọc mẹ quê hương và nước mắt của Vĩnh Hảo
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
53-54 Báo Văn Học — Số 53-54 (7&8-1990)

Nguyễn Hưng Quốc — phong trào đổi mới văn học tại việt nam: từ phản tỉnh đến phản kháng
Nguyễn thị Chân Quỳnh — tinh phi, chiêu nghi, lễ sư, diệu huyền nguyễn thị du, vị nữ trạng nguyên độc nhất của ta sinh năm nào?
Nguyễn Ý Thuần — hạt giống thui mầm
Trần Sa — hẹn chiêm bao (thơ)
Cao Hoàng — cancion triste khúc nhạc dưới trăng
Khoa Hữu — đời hoang (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — nở muộn
Hà Trung — bệnh (thơ)
Trần Thiện Hiệp — chia em ngần ấy điều ta có (thơ)
Chân Phương — những tấm ảnh mới nhất của mùa xuân (thơ)
Thái Tú Hạp — ảo giác (thơ)
Nguyễn Tấn Hưng — đổi đời (thơ)
Trịnh Y Thư — câu chuyện ở tiệm ăn
Thạch Miên — mưa (thơ)
Thường Quán — trăng đầu (thơ)
Nguyễn Tất Nhiên — minh khúc chín (thơ)
Hoàng Khởi Phong — nắng chiều hải đảo
Sĩ Liêm — gió lay bông sậy
Cheo Reo — chuyện tình viết lại
Trần Vũ — pháo thuyền trên dòng yang tsé
Nguyễn Hưng Quốc — những họa phẩm của trần vũ
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
55 Báo Văn Học — Số 55 (9-1990)

Nguyễn Mộng Giác — phan huy ích ở phú xuân
Nguyễn Xuân Hoàng — người khách
Huỳnh Liễu Ngạn — phương trời (thơ)
Mai Kim Ngọc — trốn về dĩ vãng
Trần Sa — men mùa hạ (thơ)
Hoàng Xuân Sơn — ngôn ngữ (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh — (thơ, không đề tựa) †
Khánh Trường — thảm cỏ nát trong khu vườn hoang
Nguyễn thị Ngọc Nhung — chuyện tình, đoạn cuối
Giang Hữu Tuyên — tiếng kêu (thơ)
Trần Dạ Từ — nụ hôn nhỏ (thơ)
Trầm Phục Khắc — bên này - một người (thơ)
Thụy Khuê — võ phiến
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
56 Báo Văn Học — Số 56 (10-1990)

Trần văn Tích — văn học "hại nay thói thuần" †
Ngữ An — anh nhớ ra rồi - như chuyện mười năm (thơ)
Võ Phiến — đối thoại về thịt cầy
Trần Vũ — yêu người quan họ
Phó Ngọc Văn — khói sóng (thơ)
Thanh Tâm Tuyền — trú mưa trên phố hòa hưng - vượt biên (thơ)
Triều Hoa Đại — mây bay tình cũ (thơ)
Trần Mộng Tú — vàng thu - siu gương (†) - suối và lệ (thơ)
Mai Hà — bông giấy - nụ cười - đưa võng - phố cũ (thơ)
Hàn Song Tường — hạ thảo (thơ)
Ngu Yên — những sợi tình cho nhau (thơ)
Định Nguyên — môi điều (thơ)
Isaac Bashevis Singer & Nguyễn thị Khoa Phương — nàng phù thủy (dịch)
Thụy Khuê — võ phiến, văn học miền nam tổng quan
Václav Havel — nghĩ về kafka (dịch)
Trương Vũ — người đọc sách với cái thật, giả trong văn
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
57 Báo Văn Học — Số 57 (11-1990)

Nguyễn thị Chân Quỳnh — khoa cử dưới triều nguyễn
Thanh Tâm Tuyền — bài nhớ thi sĩ (thơ)
Nhược Thủy — phiến diện (truyện ngắn)
Hoàng Xuân Sơn — lời quê (thơ)
Thường Quán — gởi đường xuân và trận gió trưa (thơ)
Khánh Trường — bí mật của rừng già (truyện ngắn)
Lê Giang Trần — nhớ người tháng tám (thơ)
Phạm Đình Cương — trong trí nhớ cuồng thầm (thơ)
Vũ Hạ — tự hỏi (thơ)
Raymond Carver & Mai Kim Ngọc — căn nhà của ông tá (truyện ngắn, phóng dịch)
Thập Lang — nửa giọt máu bên kia (truyện ngắn)
Chân Phương — chuyện phào (thơ)
Phan Tấn Hải — trân trọng làm thơ (thơ)
Sĩ Liêm — tình buồn câu vọng cổ (truyện ngắn)
Sinh Hoạt Văn Học
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
58 Báo Văn Học — Số 58 (12-1990)

Đoàn Khoách — thắp nén hương lòng nhân năm mươi năm ngày giỗ cụ phan
Lưu Huy Lạc — ở đêm (thơ)
Nguyễn Đức Lập — phan bội châu, một chiến sĩ văn hóa
Ngu Yên — biết làm sao bây giờ (thơ)
Antoine de Saint Exupéry & Võ Đình — thư cho một con tin (dịch)
Hoàng Xuân Sơn — ngụ ngôn (thơ)
Hồ Đình Nghiêm — xin níu lại giùm (truyện ngắn)
Mịch La Phong — lạc phụng (thơ)
Vũ Thùy Hạnh — đêm im lặng (thơ)
Chân Phương — giáng sinh (thơ)
Nguyễn Mạnh Trinh — bài thơ cho gió tháng chạp (thơ)
Lê Duy Linh — isaac bashevis singer với văn chương yiddish
Isaac Bashevic Singer & Lê Duy Linh — gimple khờ (truyện ngắn, dịch)
Lê Bi — địa chỉ lòng tôi (thơ)
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài)
Thời sự Văn Học
Thụy Khuê — trả lời ông Nguyễn Ái Anh
59-60 Báo Văn Học — Số 59-60 (1&2-1991)
XUÂN TÂN MÙI

Nguyễn Mộng Giác — góp ý về một cách nhìn (nhận định)
Võ Đình — cuối năm nhớ khái hưng (tiểu luận)
Khoa Hữu — sông đông êm đềm (thơ)
Khoa Hữu — chị tôi (thơ)
Vũ Quỳnh Hương — nẻo quyên ca (truyện ngắn)
Phan Ni Tấn — tám bài tứ tuyệt gửi bạn ngày xuân (thơ)
Bùi Vĩnh Phúc — mùa xuân nhìn gió trời ngất ngất (thơ)
Luân Hoán — xuân ca (thơ)
Trần Vũ — ben hur và messala (truyện ngắn)
Hoàng Liên — con đường số chín (tùy bút)
Nguyễn Đức Lập — kho tàng quý nhất (truyện ngắn)
Hoàng Xuân Sơn — sao chẳng là xuân (thơ)
Trần Sa — còn cả một đêm dài (thơ)
Nguyễn thị Hoàng Bắc — ruồi (truyện)
Khánh Trường — chỗ ngồi sau cửa sổ (truyện ngắn)
Thụy Khuê — những ngày tháng ấy (tùy bút)
Đỗ Quý Toàn — thơ ở làng cây phong
Thập Lang — đối thoại với kẻ bỏ đảng (truyện ngắn)
Ngọc Khôi — những ngôi nhà mà tôi đã ở (truyện ngắn)
Lưu Hy Lạc — thưa em (thơ)
Triều Hoa Đại — bài ca dao xuân (thơ)
Thường Quán — trưa xuân về qua nhà cũ (thơ)
Chân Phương — lời bạt cho những bì thư rỗng (thơ)
Hoàng Khởi Phong — sông không sâu (truyện ngắn)
Tranh bìa: Khánh Trường; Phụ bản: Thái Tuấn - Đinh Cường - Nguyễn Trọng Khôi
61 Báo Văn Học — Số 61 (3-1991)

Trần văn Tích — chuyện vặt làng văn (biên khảo)
Nguyễn Ngọc Bản Mường — bản mường (thơ)
Khoa Hữu — tuyên ngôn của thơ (thơ)
Trần Ái Nhân — tương lai - hãy nhắc anh (thơ)
Mai Thảo — chạy bộ kiểu mỹ (truyện ngắn)
Trần thị Lai Hồng — đông miên (thơ)
Luân Hoán — bi ca (thơ)
Ngô Nguyên Dũng — núi man rợ (truyện ngắn)
Trần thị Diệu Tâm — một mẩu tin buồn (tùy bút)
Ngữ An — cuối năm hoàng hôn (thơ)
Sĩ Liêm — tình nghĩa thầy trò (truyện ngắn)
La Toàn Vinh — suy niệm cho một ngày (thơ)
Nguyễn Tất Nhiên — mưa nhẹ (thơ)
John Broadus & Thanh Hương — nhớ, sợ và yêu (truyện ngắn, dịch)
Đoàn Nhật Tấn — một vấn đề trong chính tả quốc ngữ: khôi phục lại dấu nối (biên khảo)
Tôn Thất Ngự — giao thừa (thơ)
Cao Xuân Huy — người muôn năm cũ (tạp bút)
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lối vũ động (truyện dài)
Tranh bìa: Võ Đình; Phụ bản: Nguyễn Trọng Khôi
62 Báo Văn Học — Số 62 (4-1991)

Minh Đức Hoài Trinh — đọc tô đông pha trong những năm tháng lưu đầy (biên khảo)
Chân Phương — lý lịch của lời (thơ)
Trần Mộng Tú — nhớ (thơ)
Vĩnh Hảo — những ván cờ (truyện ngắn)
Trúc Chi — vô đề (thơ)
Lê Đại Lãng — mẹ ngồi che nắng lóng xương cha (truyện ngắn)
Lưu Hy Lạc — mai về (thơ)
Hoàng Mai Đạt — cái chết giết vợ tôi (truyện ngắn)
Hoàng Xuân Sơn — đầu ngày (thơ)
Trần thị Lai Hồng — hoa, bạn (thơ)
Nguyễn Tất Nhiên — tình ơi hởi tình (thơ)
Hàn Song Tường — gió núi (thơ)
Cao Đồng Khánh — rừng lá rộng (thơ)
Trần Mạnh Hảo — không đề, nắng mưa, buộc (thơ)
Văn Cũng Thường — có một dòng sông. hư không (truyện ngắn)
Hoài Mỹ — quần dọng (truyện ngắn)
Đỗ Quý Toàn — thuyền nhân: trận động đất thứ ba trong nửa thế kỷ (điểm sách)
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lối vũ động (truyện dài)
Tranh bìa: Khánh Trường; Phụ bản: Hà Quốc Huy
63 Báo Văn Học — Số 63 (5-1991)

Trần văn Tích — mảnh quần hồng hoen ố rượu rơi (biên khảo)
Nguyễn Tất Nhiên — em yêu dấu (thơ)
Trúc Chi — tiếc (thơ)
Võ Đình — "thằng môđi" và người nữ việt nam (phê bình)
Cao Đồng Khánh — cánh cửa phù dung (thơ)
Khánh Trường — những bàn tay đẹp (truyện ngắn)
Phó Ngọc Văn — nhuận (thơ)
Lưu Nguyễn — trăm năm một thoáng tà dương bay vèo (thơ)
Triều Hoa Đại — phố núi (thơ)
Hồ Đình Nghiêm — ma đè (truyện ngắn)
La Toàn Vinh — dấu chân trên tuyết (thơ)
Vạn Giả — hệ lụy (thơ)
Dino Buzzati & Nguyễn Khanh — bạn vàng (truyện ngắn, dịch)
Trần thị Diệu Tâm — tìm trong quá khứ (truyện ngắn)
Dương Như Nguyện — em đã yêu bóng tối từ thuở tay anh kề cận (thơ)
Phạm thị Ngọc — mảnh vỡ (truyện ngắn)
Nguyễn Mạnh Trinh — đọc ánh sáng và bóng tối, hồi ký hoàng liên (điểm sách)
Quỳnh Giao — đọc thi phẩm tĩnh tọa của hoàng liên (điểm sách)
Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lối vũ động (truyện dài)
Tranh bìa: Nguyễn Trọng Khôi
64 Báo Văn Học — Số 64 (6-1991)

Mai Thảo — ngoài muôn bến (tùy bút)
Chân Phương — (thơ, không đề tựa) †
Trần Sa — (thơ, không đề tựa) †
Ngu Yên — những hoang mang khi thơ hỏi về sáng tác (biên khảo)
Lưu Hy Lạc — (thơ, không đề tựa) †
Thường Quán — (thơ, không đề tựa) †
Phạm Việt Cường — (thơ, không đề tựa) †
Thụy Khuê — tìm hiểu thi ca (biên khảo)
Ngu Yên — (thơ, không đề tựa) †
Luân Hoán — (thơ, không đề tựa) †
Triệu Châu — hai mươi âm hưởng từ thơ "lộc trại" của vương duy (biên khảo)
Hoàng Xuân Sơn — (thơ, không đề tựa) †
Huỳnh Liễu Ngạn — (thơ, không đề tựa) †
Đinh Cường — hoàng cầm, nhà thơ cho tôi yêu sông đuống (tạp văn)
Như Chi — (thơ, không đề tựa) †
Lê văn Lân — hàn mạc tử: đau khổ và thơ (biên khảo)
Trần Mộng Tú — (thơ, không đề tựa) †
Phan Ni Tấn (N.D.) — (thơ, không đề tựa) †
Phạm Việt Cường — hai nhà thơ trẻ tiệp khắc
Cao Đồng Khánh — (thơ, không đề tựa) †
Hồ Ông — (thơ, không đề tựa) †
Tường Vũ Anh Thi — án phòng the, vài góp ý với tác giả trần văn tích
Tranh bìa: Đinh Cường
65 Báo Văn Học — Số 65 (7-1991)

Đỗ Quý Toàn — thơ mọc lên như cỏ cây trên mặt đất (tiểu luận)
Nguyễn Mộng Giác — đọc lại thơ tuệ sỹ (tạp văn)
Hoàng Vũ Đức Vân — (thơ, không đề tựa) †
Hoàng Xuân Sơn — (thơ, không đề tựa) †
Võ Đình — nhân đọc "lộc trại của vương duy" (tạp văn)
Trần Mộng Tú — (thơ dịch, không đề tựa) †
Bùi Huệ Thu — (thơ, không đề tựa) †
Thụy Khuê — nhận diện thơ (biên khảo) †
nói chuyện với lê văn vũ bắc tiến (phỏng vấn)
Phạm Chi Lan — (thơ, không đề tựa) †
Thập Lang — dòng sông bị nguyền rủa (truyện ngắn)
Hoàng Việt Thi — (thơ, không đề tựa) †
Vũ Tiến Thủy — mả thuồng luồng bên bờ sông tô lịch (truyện ngắn)
Mai Kim Ngọc — (thơ, không đề tựa) †
Tôn Thất Ngự — (thơ, không đề tựa) †
Trần Sa — câu chuyện hạnh phúc (truyện ngắn)
Ngữ An — (thơ, không đề tựa) †
Nguyễn thị Hoàng Bắc — xin đón xem hồi sau sẽ rõ (truyện ngắn)
La Toàn Vinh — (thơ, không đề tựa) †
Khánh Trường — đêm ngày một cõi (truyện ngắn)
Phạm Việt Cường — (thơ, không đề tựa) †
Vạn Giả — (thơ, không đề tựa) †
Trần văn Tích — thương xác cùng ông tường vũ anh thy
Hoàng Sử Mai — góp ý với ông tường vũ anh thy
Tranh bìa: Nguyễn Đồng
66 Báo Văn Học — Số 66 (8-1991)

Đoàn Khoách — bùi hữu nghĩa, một bài thơ ít người biết (biên khảo)
Đỗ Quý Toàn — ánh lửa mênh mang buổi tình đầu (tiểu luận)
Lưu Hy Lạc — (thơ, không đề tựa) †
Thụy Khuê — nói chuyện với họa sĩ thái tuấn
Thái Tuấn — thưởng ngoạn nghệ thuật
Chân Phương — (thơ, không đề tựa) †
Thế Giang — dựng cờ tây và dựng một văn nghiệp (tạp văn)
Phan Ni Tấn — (thơ, không đề tựa) †
John Broadus & Thanh Hương — cát bụi (truyện ngắn, dịch)
Luân Hoán — (thơ, không đề tựa) †
Phan Thị Trọng Tuyến — mùa xuân và những con dã tràng (truyện ngắn)
Triều Hoa Đại — (thơ, không đề tựa) †
Hoài Mỹ — cái chào (truyện ngắn)
Trần Mộng Tú — mặt ngọc phương đông (truyện ngắn)
Nguyễn Mạnh Trinh — đọc "tiểu thuyết vô đề", truyện dài dương thu hương
Tranh bìa: Nguyễn thị Hợp
67 Báo Văn Học — Số 67 (9-1991)

Nguyễn thị Chân Quỳnh — khoa cử thời hậu lê dưới mắt samuel baron
Triều Hoa Đại — (thơ, không đề tựa) †
Thanh Tâm Tuyền — (thơ, không đề tựa) †
Hoàng Liên — ánh đèn ngoài khung cửa sổ
Hồ Ông — (thơ, không đề tựa) †
Thập Lang — chiếc thúng trôi sông
Huỳnh Liễu Ngạn — (thơ, không đề tựa) †
Ngô Nguyên Dũng — người đi bên cạnh tôi
Trần Sa — (thơ, không đề tựa) †
Phạm thị Ngọc — florence
Nguyễn Lý — (thơ, không đề tựa) †
Hoàng Xuân Sơn — (thơ, không đề tựa) †
Nguyễn Mạnh Trinh — nói chuyện với nhà văn võ phiến
Đoàn Nhật Tấn — (thơ, không đề tựa) †
Trần Văn Tích — đọc "sông côn mùa lũ"
Tranh bìa: Võ Đình; Phụ bản: Trần Sa
68 Báo Văn Học — Số 68 (10-1991)

Thế Uyển — Văn nghị luận của miền Nam 1923 qua Hồ Biểu Chánh
Khoa Hữu — (thơ)
Thụy Khuê — (thơ, văn xuôi và văn vần)
Khế Iêm — (thơ)
Hồ Đình Nghiêm — Ngôi Sao Xấu
Thường Quán — (thơ)
Katherine Mansfield (Nguyễn Thị Chân Quỳnh dịch) — The Garden Party † (chữ in mờ/chồng ngay sau tựa, không đọc rõ đoạn tiếp)
Trần Mộng Tú — (thơ)
Trần Thị Diệu Tâm — Ngày Hè Trên Biển
Luân Hoán — (thơ)
Văn Cũng Thường — Đêm Trăng Đầy Ở Làng Saint Rémy
Phan Ni Tấn (N.D.) — (thơ)
La Toàn Vinh — (thơ)
Quỳnh Giao — Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Một Thời Đã Qua...
69 Báo Văn Học — Số 69 (11-1991)

Dương Đức Nhự — Đổi Mới Chữ Quốc Ngữ
Vạn Giả † — (thơ)
Hoàng Xuân Sơn — (thơ)
Đoàn Nhật Tấn — Thảo Luận Với Độc Giả Về Vấn Đề Phục Hồi Dấu Nối Trong Chính Tả Việt Ngữ
Nguyễn Mạnh Trinh — (thơ)
Thụy Khuê — Ẩn Dụ Trong Thơ
† (không rõ tác giả) — Nadine Gordimer: Nobel Văn Chương 1991
Cao Xuân Tứ — (thơ)
Nadine Gordimer (Phạm Việt Cường dịch) — Khoảng Trống Niềm Tin
Khế Iêm — (thơ)
Thường Quán — (thơ)
Trịnh Y Thư — Bẫy Chết
Lưu Hy Lạc — (thơ)
Hoài Mỹ — Ông Nguyễn
Huỳnh Liễu Ngạn — (thơ)
Thế Uyển — Đọc Sách Trong Tháng
Nguyễn Đức Lập — Mảnh Vụn Một Đời
70-71 Báo Văn Học — Số 70-71 (12-91&1-92)
XUÂN NHÂM THÂN

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
72-73 Báo Văn Học — Số 72-73 (2&3-1992)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
74 Báo Văn Học — Số 74 (6-1992)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
75 Báo Văn Học — Số 75 (7-1992)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC (Thư Tòa Soạn kể tên tác giả bằng văn xuôi nhưng không ghi số trang) — cần trích tay từng bài sau
76 Báo Văn Học — Số 76 (8-1992)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
77 Báo Văn Học — Số 77 (9-1992)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
78 Báo Văn Học — Số 78 (10-1992)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
79 Báo Văn Học — Số 79 (11-1992)
Đặc biệt về truyện ngắn

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
80-81 Báo Văn Học — Số 80-81 (12-92&1-93)
XUÂN QUÝ DẬU

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
82 Báo Văn Học — Số 82 (2-1993)
tân niên

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
83 Báo Văn Học — Số 83 (3-1993)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
84 Báo Văn Học — Số 84 (4-1993)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
85 Báo Văn Học — Số 85 (5-1993)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
86 Báo Văn Học — Số 86 (6-1993)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
87 Báo Văn Học — Số 87 (7-1993)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
88 Báo Văn Học — Số 88 (8-1993)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
89 Báo Văn Học — Số 89 (9-1993)
nhà văn Christa Wolf

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
90 Báo Văn Học — Số 90 (10-1993)
Tưởng niệm thi sĩ Quách Tấn

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
91 Báo Văn Học — Số 91 (11-1993)

Mai Kim Ngọc — toni morrison, giải nobel 1993
Nguyễn Bình Giang — † nhũ lòng, bất lực, thân phận
Ngu Yên — ngày 25 tháng 8
Thạch Hãn — toni morrison: hiển vinh cho người da màu
Nguyễn Sơn — rồi mai phố thị em về
Trần Hồng Châu — núi
Võ Đình — chuyện anh tư
Phạm Việt Cường — coup de grâce
Hạo Nhiên — lửa người
Cổ Ngư — bên sông nước cuốn
Du Tử Lê — thư gửi tuyển ở, sài gòn và, trịnh, phụng ở đà nẵng
Đoàn Nhật — ngày hẹn ở biển xưa
Ngự Thuyết — dọc đường
Hồ Phố Lại — nghĩ thân phù thế
Phan Ni Tấn (N.D.) — về châu đốc
Triều Hoa Đại — đêm bỗng trăng
Triều Hoa Đại — đong đưa nắng chiều
Trần Mộng Tú — vằng vặc trăng rằm
Mai Kim Ngọc — lập thu
Mai Kim Ngọc — huế
Bernard Cooper (Trương Mỹ Vân dịch) — hái mận
Sử Mặc — ẩn dòng, khổn xích
Sĩ Liêm — nắng đỏ sau hè
Hoàng Xuân Sơn — buồn lô dung
Christa Wolf (Thạch Hãn dịch) — còn lại được gì
Duy Lam — người thi sĩ già
92 Báo Văn Học — Số 92 (12-1993)
Tuyển tập thơ văn Tất Niên 1993

Tạ Quốc Tuấn — bản chất thực của nhà triệu
Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng — mưa rơi
Triệu Châu — hội chứng tiêu viễn sơn
Định Nguyên — tử sinh
Thường Quán — cánh
Nguyễn Bình Giang — khước từ, miền cố quận, qua chiều, mẹ ơi
Trần Doãn Nho — cuộc chiến đấu
Trần Hồng Châu — hành lộ nan
Luân Hoán — quẩy bạn hè 93
Chân Phương — tự họa, một, tự họa, hai
Cổ Ngư — giấc ngủ của mặt trời
Nguyên Sơn — từ tà áo em
Hàn Song Tường — tháng chạp
Hoàng Chính — tên trộm
Hoàng Xuân Sơn — nhớ anh võ ngọc trác
Đặng Hiền — đã qua một ngày không gọi nhau
Trần Mộng Tú — rượu thu, trăng kim nhũ, vào thu, mưa xanh
Nguyễn Nguyên Thanh — bàn tay cụp bàn tay xòe: phạm tiến duật từ "vòng trắng" đến "số không"
Hoàng Xuân Giang — vàng thu tháng mười
Nghiêu Đề — là cỏ qua rừng...
Mai Kim Ngọc — chị em
93-94 Báo Văn Học — Số 93-94 (1&2-1994)
Xuân Giáp Tuất

Tạ Quốc Tuấn — xuân xa nhà... thi ca việt nam
Võ Phiến — bé bổ địch
Trần Hữu Thục — xuân tình trong đường thi
Nguyên Sa — mùa xuân
Định Nguyên — vong quốc hành
Trần Mộng Tú — thư viết đêm giao thừa
Phan Ni Tấn (N.D.) — para elisa
Luân Hoán — mời em lên ngựa
Hoàng Liên — một ngày cuối năm
Cao Xuân Huy — vãi bao cát
Nguyễn Chí Kham — trắc ẩn
Triệu Châu — hoa vì ta nở
Nguyên Sơn — mùa xuân nối dài sợi gọi
Thái Tuấn — một nhà sưu tập tranh
Khế Iêm — cái gốc của thơ
Cao Xuân Tứ — xuân
Bùi Bích Hà — những cái thùng giấy
Khế Iêm — chốn khác
Quỳnh Giao — baccara
Lê Thị Huệ — những viên kẹo,...
Đinh Phụng Tiến — chuyến tàu quê hương
Duy Lam — ai về?
Trần Doãn Nho — cái giá của mùa xuân
Nguyễn Chí Kham — ga lữ thứ
Thường Quán — mùa xuân
Phạm Chi Lan — tiếng động lá
Chân Phương — sinh nhật của tôi và gió
Hồ Phố Lại — bóng ngả, đêm về
Hoàng Xuân Sơn — cỏ chi mùa đông - đường dừng
Ngự Thuyết — chợ
Nguyễn Nguyên Phương — kỷ niệm
Song Thao — dong đưa cuộc tình
Trần Hồng Châu — florida
Nguyễn Minh Đức — đi đêm
Trúc Chi — phú xuân thành hoài cảm
Huỳnh Liễu Ngạn — phải chi em là mộng
Trương Anh Thụy — bên trong thơ du tử lê
Mai Kim Ngọc — chị em
Nguyên Khai — tranh bìa
95 Báo Văn Học — Số 95 (3-1994)

Trương Vũ — nói với chàng siêu
Võ Phiến — họ đâu rồi?
Trần Văn Tích — y, dược và chưởng, kiếm
Vạn Giả — đồng âm
Thạch Hãn — gặp gỡ
Ngũ An — hoa tháng mười hai
Ngũ An — lá tháng giêng
La Toàn Vinh — đêm lưu lạc
Cao Xuân Huy — cái lưỡi câu
Đỗ Quyên — thi đàn
Mai Kim Ngọc — núi
Lê Tín Hương — nơi chốn phải về
Cổ Ngư — đời thường
Hoàng-Vũ Đức-Vân — quang hành khúc
Trần Hoài Thư — thằng nhỏ bỏ đi
Thường Quán — bước ra
Jane M.H. Schereck (Nguyên Châu chuyển ngữ) — chiếc bánh hồng đào
Hoàng Khởi Phong (phỏng vấn, Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện) — một cuốn sách, một cuộc phỏng vấn và những mảnh đời trong chiến tranh
Xuân Vũ — sự phẫn nộ và nét điêu tàn trong tâm hồn thơ của triều hoa đại
96 Báo Văn Học — Số 96 (4-1994)

Trần Văn Tích — ký
Tô Thùy Yên — di về
Võ Phiến — có khi...
Đặng Phùng Quân — trường hợp trần đức thảo
Lê Thị Thấm Vân — đợi chờ
Trần Hồng Châu — biển yêu mê
Hoàng Chính — tình ở đài bắc
Yên Ty — câu hỏi
Đoàn Nhật — không thấy mình đâu
Ngô Nguyên Dũng — đàn lạnh
Lê Tín Hương — trên dốc đồi
Trần Mộng Tú — mười bảy năm mười bảy đoạn thơ
Trần Doãn Nho — lạnh lẽo ánh trăng
Hoàng Xuân Sơn — hóa thân
Cao Xuân Tứ — bạn
Phan Ni Tấn (N.D.) — qua cù lao ông chưởng
Ngự Thuyết — dậy mà đi
Hằng Hà Sa — đàn tiên
Trúc Chi — nhắn gió
Mai Kim Ngọc — chị em
Huỳnh Liễu Ngạn — huế ơi
97 Báo Văn Học — Số 97 (5-1994)

Tạ Chí Đại Trường — cơn mộng du ba mươi năm
Võ Phiến — tiếng hát biên thùy
Nguyễn Xuân Nghĩa — chương sáu: bước ra thế giới cạnh tranh
Trần Hồng Châu — ngã ba sỏi đá
Nguyễn Xuân Quang — † cái là được?
Lê Tín Hương — bước mãi, dường như bước đã thừa
Ngọc Khôi — au bon accueil
Vạn Giả — bỗng nhiên
Đỗ Quyên — lá thư chép lại
Đỗ Quyên — lá thư chiều nay
Ngô Thế Vinh — giã biệt cựu kim sơn
Đặng Hiền — trong cuộc tình ân hận
Mai Kim Ngọc — chị em
Hoàng Xuân Sơn — cali, mười ba. chuyến muộn
Lê Thị Thấm Vân — mặt đất và em
Nguyễn Mộng Giác — đọc "người trăm năm cũ" của hoàng khởi phong
98 Báo Văn Học — Số 98 (6-1994)

Trần Hồng Châu — đi vào mê hồn trận của thơ và tiếng nói
Đặng Phùng Quân — trường hợp trần đức thảo
Khoa Hữu — ly rượu gửi bằng hữu
Khoa Hữu — đêm chia tay ở tân sơn nhất
Khoa Hữu — viếng mộ đồng đội ở củ chi
Khoa Hữu — trở lại thành cổ loa
Khoa Hữu — khi ở nam
Khoa Hữu — ngày về bắc
Khoa Hữu — qua đất quân trường vạn kiếp
Khoa Hữu — bản nháp từ di chúc
Hồng Huy — nhớ trăng quê hương
Ngu Yên — những chiều nắng nhẹ mà hiu
Lê Lạc Giao — lối cũ
Trúc Chi — viết thử bài thơ tuổi sáu mươi
Nguyễn Chí Kham — cánh cửa
Mai Kim Ngọc — chị em
Thạch Hãn — con tim chưa rộn niềm vui
Đặng Hiền — nhớ.
99 Báo Văn Học — Số 99 (7-1994)
Khởi đầu thảo luận về văn học hải ngoại

Nguyễn Văn Trung — khái niệm và thể loại văn chương
Thế Uyên — góp ý về việc soạn thảo "hai mươi năm văn học hải ngoại"
Nguyễn Mộng Giác — văn học lưu vong hay văn học di dân?
Đỗ Quyên — em về
Nguyễn Huệ Chi — vài cảm nhận văn học việt nam hải ngoại
Ngô Nguyên Dũng — say hương tóc cũ
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — hai mươi năm, những thành phố
Hoàng Xuân Giang — yêu em tóc ngắn
Hoàng Xuân Giang — em gửi gì không
Trần Doãn Nho — người chú
Đặng Hiền — mưa chiều tháng sáu
Đặng Hiền — tiễn đưa
Nguyễn Chí Kham — chiến tranh
Nguyễn Chí Kham — đôi mắt
Trần Mộng Tú — họa sĩ vẽ chân dung
Trương Nhân — trò chơi
Nguyễn Mộng Giác — điểm: "cõi sa mù" và "cửa địa ngục" của trần long hồ
100 Báo Văn Học — Số 100 (8-1994)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
101 Báo Văn Học — Số 101 (9-1994)

Hoàng Khởi Phong — gối đầu lên chữ nghĩa
Viên Linh — hai mươi năm văn học hải ngoại
Hồ Minh Dũng — đại nội
Trần Văn Tích — cùng một lứa
Huy Tưởng — đêm trăng chia tay cùng em mọi nhỏ — để nhớ ngày em nhận lời yêu tôi
Hoàng Chính — cầu tre lắt lẻo...
Lưu Hy Lạc — lên chùa
Song Thao — phận người
Nguyễn Chí Kham — ngày mới
Quỳnh Giao — clara và robert schumann
Thường Quán — nói và gởi
Đặng Phùng Quân — tiếng nói
Luân Hoán — đi thăm quê tình hà nguyên dũng
Cổ Ngư — khoảng trống trước mặt
Phan Lê Thứ — tâm động
Phạm Chi Lan — ý thức về dòng sông
Thạch Hãn — tiếng nói việt nam: where the ashes are và south wind changing
102 Báo Văn Học — Số 102 (10-1994)

Hoàng Khởi Phong — gối đầu lên chữ nghĩa (tiếp theo, nói chuyện với Mai Thảo)
Trần Văn Tích — phú
Trúc Chi — thu
Tạ Quốc Tuấn — không gian và thời gian trong thơ vương duy
Nguyễn Tấn Sơn — tình ma
Mai Kim Ngọc — trong phòng hồi sinh
Nguyễn Tấn Sơn — mộng du
Trần Doãn Nho — ảo ảnh
Trần Hồng Châu — còn lại cây sáo trúc
Hoàng Liên — nắng chiều trên thái bình dương
Chân Phương — giao hợp với mùa thu
Chân Phương — huyền thoại hai người
Hoàng Chính — nạn nhân
Vạn Giả — mùa nạn
Thạch Hãn — tiếng nói việt nam: where the ashes are và south wind changing
103 Báo Văn Học — Số 103 (11-1994)

Văn Học — Kenzaburo Oe, Nobel Văn chương 1994
Triệu Châu — văn học giữa hai cõi
Bùi Văn Học — ở bên này munich
Cung Trầm Tưởng — † "Ansi parlait le poète"
Phan Thị Vàng Anh (Văn Học giới thiệu) — hoa muộn
Nguyễn Thị Thu Huệ (Văn Học giới thiệu) — chị tôi
Phan Triều Hải (Văn Học giới thiệu) — cửa sổ
Thường Quán — phế tích
Nguyễn Mộng Giác — triển vọng của văn học hải ngoại
Nguyễn Chí Kham — người tình
Yuan Ch'iung Ch'iung (Võ Đình Mai dịch) — lỗ tai của người tình
Bai Xiao-Yi (Võ Đình Mai dịch) — vụ nổ trong phòng khách
Hồ Minh Dũng — mạt lộ
Trần Mộng Tú — bóng tối
Nguyên Chân — nghĩ chi về đời sống
Cổ Ngư — đối nghịch
Triều Hoa Đại — đoạn đoạn những ưu phiền
Hoài Ziang Duy — mù sương cũng biết mơ
Minh Ý — giàn hoa tím
Huỳnh Liễu Ngạn — chia cả anh rồi - chia cả sông
Robert Olen Butler (Thạch Hãn dịch) — salem
Trần Văn Tích — tao đàn nhị thập bát tú tiếng đức
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
104 Báo Văn Học — Số 104 (12-1994)
Số đặc biệt Giải Nobel Văn chương 1994

Triệu Châu — tiền tài trong cõi nhị phân
Nguyễn Nam Anh — đi xa với nhà văn nữ kim lefèvre
Hoàng Lộc — bữa say ghé chùa ông, hội an
Hoàng Lộc — thấm mùi lưu lạc
Crystal Brown — nói chuyện với võ đình
Trương Mỹ Vân — phản kháng và phẫn nộ trong tác phẩm của kenzaburo oe
Trần Hồng Châu — đáo thằng long thành tố như hữu cảm
Mai Kim Ngọc — vài cảm nghĩ về kenzaburo oe
Kazuo Ishiguro — đối thoại với oe
Nghiêm Xuân Hồng — mơ tịch dương
Trần Vĩnh Phố — ôi em đàn bà
Kenzaburo Oe (Thạch Hãn dịch) — kẻ bị bắt
Nghiêm Xuân Hồng — đêm mưa mơ long nữ
Trần Doãn Nho — cuộc đời ở một phía khác
Hồ Đình Nghiêm — vùng đất thấp
Trúc Chi — sực nhớ bài hoàng hạc lâu
Hồ Minh Dũng — đám tro tàn ngày ấy
Trần Thiện Hiệp — trở về một nơi tạm dung
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
105-106 Báo Văn Học — Số 105-106 (1&2-1995)
Giai Phẩm Xuân Ất Hợi 1995

Nguyễn Văn — vài ghi nhận về sinh hoạt văn chương và xuất bản năm qua
Phan Minh Khánh — mùa
Trần Văn Tích — ngày tết bàn về mai và bông trong truyện Kiều
Trần Mộng Tú — gọi anh mùa xuân
Quỳnh Giao — hoàng hoa
Luân Hoán — montréal, viếng núi St. Royal
Đỗ Quí Toàn — làm thơ ở giữa nhân gian
Định Nguyên — đường thi cuồng
Đào Trung Đạo — bản đồ tiểu thuyết...
Lê Thị Huệ — bên ghềnh Mendocina, nhớ về người hóa đá cũ
Lê Thị Huệ — canh thức cùng thơ mộng
Diễm Âu — người đàn bà và chiếc ổ rơm
Lê Tín Hương — bài ca dao cho em
Phùng Quán — chút nghĩa cũ càng
Nguyễn Việt Thường — thấy lại chút Sài gòn
Trần Hồng Châu — New York, N.Y. gặp lại "croissant doré"
Cao Xuân Tú — gửi bạn
Tạ Chí Đại Trường — an thái, quê hương - niềm hoang tưởng
Ngự Thuyết — ngày giỗ mẹ
Hà Trung — ngẫu hứng
Ngô Nguyên Dũng — huyền thoại sao
Huỳnh Liễu Ngạn — một lần
Minh Ý — dải ngân hà năm xưa
Ngũ An — chạnh nhớ chiều xưa hồ dzếnh
Hoài Ziang Duy — chiều chiều lại nhớ
Hồ Minh Dũng — ngày xuân, tình cũ, tạ ơn
Đào Trung Đạo — mây vô xứ
Mai Kim Ngọc — hư cấu (truyện vừa)
Nguyễn Chí Kham — hình ảnh thời gian
Nguyễn Mộng Giác — chúc tết
Phùng Nguyễn — tháp ký ức
Phan Ni Tấn (N.D.) — về bạc liêu
Saki (Ng. T. Chân Quỳnh dịch) — người tử tù (truyện dịch)
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
107 Báo Văn Học — Số 107 (3-1995)
Tưởng niệm Phùng Quán (1932-1995)

Mai Kim Ngọc — Phùng Quán (1932-1995)
Mai Kim Ngọc — Về hai nhà thơ Nga và Phùng Quán
Phùng Quán — Chống Tham Ô Lãng Phí
Phùng Quán — Lời Mẹ Dặn
Nguyễn Đặng — Những lá thư cuối cùng của Phùng Quán
Thường Quán — Bài ghi trên vách gỗ Chòi Ngó Sóng
Thường Quán — Một góc trời Phùng Quán
Thường Quán — Đêm cuối ở Chòi Ngó Sóng
Đặng Nguyên Thường — Khúc Hát Mùa Xuân
Nguyễn Thế Việt — Từ Truyện Kiều, tìm hiểu quy luật tiếp nhận văn học dân gian
Hoàng Xuân Sơn — Đọc Tĩnh Tọa
Nguyễn Bá Trạc — Thơ của một người ba phải
Nguyễn Thị Vinh — Câu Chuyện văn học
Trần Hồng Châu — Em gái cà phê
Doãn Quốc Sỹ — Hơi mát
Khoa Hữu — Những bài thơ tạm biệt thơ
Đào Trung Đạo — Bản đồ tiểu thuyết
Trần Vĩnh Phố — Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Hà Thúc Sinh — Tiếng lòng đất
Trần Doãn Nho — Một nơi để đi, một nơi để đến
Scott Kraft (Văn Học) — Nên bao cấp văn hoá chăng? Phỏng vấn François Barre
Robert Pear (Văn Học) — Jane Alexander biện hộ
Nguyễn Huy Thạch — Ghi chép
108 Báo Văn Học — Số 108 (4-1995)

Tạ Chí Đại Trường — Sử học và truyền thống Hùng vương
Ngô Nguyên Dũng — Mảnh sáu, tám
Tạ Quốc Tuấn — Thơ mới Trung hoa
Nguyễn Thuyết Phong — Tiếng hát trên sông Hương
Đỗ Thì Kênh G. — Gái quê
Du Tử Lê — Sự biện bạch của những cơn bão
Nguyễn Nam Anh — Đi xa với Hoàng Xuân Hãn
Nguyễn Minh Đức — Thuyền trăng
Nguyễn Mộng Giác — Trời xanh, bên kia sông
Huỳnh Liễu Ngạn — Mùa lá lục
Lâm Chương — † Hâm dịa
Hoài Mỹ — Quyên
Minh Ý — Cuối đường
Trần Thiện Hiệp — Có loài hoa tên thục nữ
Trúc Chi — Giọt nắng
Hoàng Chính — Vùng ký ức đớn đau
Ngu Yên — Hãy cho ta chết giùm đời nhau
Trần Doãn Nho — Vướng víu
Hoàng-Vũ Đức-Vân — Sáo trúc vô thanh
Nguyễn Chí Kham — Thành phố trong hư tưởng
Hồ Minh Dũng — Ở Cali phân ưu Phùng Quán
Nguyễn Huy Thạch — Ghi chép: Văn học thời kỳ mới ở Trung quốc; Hồi ký về Nam Cao
109 Báo Văn Học — Số 109 (5-1995)
Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại

Mai Kim Ngọc — vài cảm nghĩ về văn học hải ngoại
Phan Kim Khánh — tương phùng
Nguyễn Mộng Giác — hai mươi năm văn xuôi hải ngoại
Đặng Hiền — hai mươi năm xa quê
Nghiêu Đề — về núi thăm người
Lê Đại Lãng — tranh luận về văn học miền nam
Nguyễn T. Sông Hương — sơ thảo hai mươi năm văn học hải ngoại
Hoàng Xuân Sơn — mù trôi
Nguyễn Chí Kham — duyên ước
Nguyễn Xuân Hoàng — hai mươi năm, những trang sách,...
Mai Thảo — vai trò dưới nắng
Nhật Tiến — những dấu chân chim
Vạn Giả — thời gian
Đỗ Quyên — căn phòng đêm ấy
Nguyễn Ngọc Ngạn — tin đồn
Nguyễn T. Hoàng Bắc — kéo neo mà chạy
Cung Trầm Tưởng — requiem
Hà Thúc Sinh — đêm hè
Hồ Minh Dũng — mượn
Hoài Ziang Duy — sáu mùa đông trên chiếc xe tang
Nguyễn Trung Hối — xuân muộn
Hoàng Nga — bay đi cánh chim biển
Trần Doãn Nho — chiều 29.4 trên đường công lý
Hoàng Chính — trí nhớ loài chim
Hoàng Lộc — tắm ngựa giùm bạn
Phùng Nguyễn — † diện đàm
Hà Trung — ở nơi không có một dòng sông
Trần Vĩnh Phố — "cách mạng"
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
Văn Học — giữa người đọc và người viết
110 Báo Văn Học — Số 110 (6-1995)
Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại

Trần Văn Tích — văn học trong kim dung
Trần Hồng Châu — lên non xuống biển
Tạ Chí Đại Trường — lan man từ một quyển sử hiện đại
Lê Thị Huệ — trả lời phỏng vấn
Lê Thị Huệ — trong khi sáng tạo những nhân mạng
Hoàng Xuân Sơn — trần son
Bùi Bích Hà — trả lời phỏng vấn
Bùi Bích Hà — chỗ về
Đặng Hiền — bài hai mươi
Hồ Đình Nghiêm — trả lời phỏng vấn
Hồ Đình Nghiêm — nhiệt đới
Cao Xuân Tú — hành hương
Võ Đình — tiểu sử và tác phẩm
Võ Đình — bách hương
Hoàng Lộc — † dôi dường ân oán
Đặng Mai Lan — trong sương mù
Nguyễn Hiền — buổi đi thăm bất đắc dĩ
Thom Jones (Thạch Hãn dịch) — rửa tay gác kiếm
Ngự Thuyết — quê hương
Song Thao — gang tấc còn xa
Đặng Hiền — mùa xuân và vòng tròn
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
Văn Học — giữa người đọc và người viết
111 Báo Văn Học — Số 111 (7-1995)
Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại

Tạ Quốc Tuấn — bạch thoại trong thơ trung hoa hiện đại
Huỳnh Mạnh Tiên — ngải thơ
Hoàng Phủ Cương — vào khuya
Mai Kim Ngọc — nguyễn quang thiều: một tác giả, hai truyện ngắn, hai văn phong
Phan Minh Khánh — tháng 5
Nguyên Sa — trả lời phỏng vấn
Nguyên Sa — đo lụa hà đông
Nguyên Sa — tháng giêng và anh
Nguyên Sa — nói chuyện với phạm công thiện
Nguyên Sa — tuyệt chiêu
Nguyên Sa — tiếng biển
Trần Hồng Châu — trả lời phỏng vấn
Trần Hồng Châu — anh không đi về hư vô
Trần Hồng Châu — đêm loạn nghe tiếng hát l. t và k.l
Trần Hồng Châu — núi yêu một lá
Ngu Yên — trả lời phỏng vấn
Ngu Yên — cái ấy
Ngu Yên — tìm em. âu yếm tôi
Vi Khuê — trả lời phỏng vấn
Vi Khuê — bà hàng xóm mỹ
Du Tử Lê — trả lời phỏng vấn
Du Tử Lê — tình yêu, trang ruột và, bìa sách
Hoàng Xuân Sơn — trả lời phỏng vấn
Hoàng Xuân Sơn — đơn điệu
Nguyễn Quí Đức — đêm thâu
Hoàng Nga — mộng đời trôi nổi
Triều Hoa Đại — chẳng cùng về
Nguyễn Ý Thuần — người đàn ông chủ nhật
Thơ Thơ — mùa xuân xám
Đỗ Thì Kênh G. — tuyệt đỉnh hồng hoang
Phùng Nguyễn — nàng và tôi
Nguyễn Phan Thịnh — chiều - long lanh
Trần Vĩnh Phố — trồng một cây cờ
Trần Mộng Tú — dưới gốc hoa đào
Nguyễn Hữu Nhật — nhà thơ, hoa vàng, chim khuyên....
Bùi Vĩnh Phúc — quyên đi và mắt nhìn thân ái....
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
112 Báo Văn Học — Số 112 (8-1995)
Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại

Nguyễn Văn Trung — văn học hải ngoại?
Thụy Khuê — cấu trúc hình thức thi ca
Lâm Chương — đọc thư người bạn cũ
Võ Phiến — trả lời phỏng vấn
Võ Phiến — buổi sáng giữa đồng
Lê Tất Điều — tiểu sử & tác phẩm
Lê Tất Điều — thơ cao tần
Hoàng Liên — tiểu sử & tác phẩm
Hoàng Liên — cuốn hồi ký của một người bạn
Hoàng Chính — cuối đường khổ nạn
Nguyễn Minh Đức — bến mơ
Nguyễn Hiền — chiếc sập gụ của gia đình tôi
Trần Vĩnh Phố — muộn, ngẫu tượng ở st. denis
Trần Doãn Nho — cũng là điều bình thường
Trần Hoài Thư — ra biển gọi thầm
Nguyễn Phan Thịnh — thơ hoa
Phùng Nguyễn — "ruộng gió"
Triều Hoa Đại — còn không...
Cỏ Đồng — thơ tình
Nguyễn Trung Hối — mấy truyện thật ngắn
Hoàng Xuân Sơn — cây cũ
Trịnh Khắc Hồng — cố hương
Nguyễn Chí Kham — thương nhớ
Hồ Minh Dũng — vườn bỏ hoang
Nguyễn Nguyên Thanh — đọc Phố của Chu Lai
Lê Đại Lãng — đọc Đồng Cỏ của nguyễn đình toàn...
Phan Minh Khánh — đoản khúc tình
Văn Học — giữa người đọc và người viết
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
113 Báo Văn Học — Số 113 (9-1995)

Mai Kim Ngọc — văn học và chính trị
Trần Văn Tích — từ trong truyện kim dung
Thụy Khuê — nguyên lý song song
Trần Thị Lai Hồng — khi về
Đoàn Nhật — tháng giêng, tháng hai
Ngô Nguyên Dũng — trả lời phỏng vấn
Ngô Nguyên Dũng — chủ nhật của những người yêu nhau
Hải Phương — khỏa thân
Nguyễn Ý Thuần — trả lời phỏng vấn
Nguyễn Ý Thuần — cuối năm
Vạn Giả — tiếng động từ quá khứ
Thế Uyên — trả lời phỏng vấn
Thế Uyên — truyện già cao
Lệ Hằng — đêm phi châu
Đặng Mai Lan — bờ xa đã cạn
Thuận Nhiên — kiều ơi!
Võ Đình — lầu xép
Trần Doãn Nho — nắng trên đồi
Trần Mộng Tú — uống trà
Nguyên Hương — quà muộn
Văn Học — giữa người đọc và người viết
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
114 Báo Văn Học — Số 114 (10-1995)

Nguyễn Ngọc Tuấn — võ phiến, nhà tùy bút
Ngu Yên — hai mươi năm thơ hải ngoại
Hoàng Xuân Sơn — cây cũ
Nghiêm Xuân Hồng — bài ca nằm bệnh
Vũ Khắc Khoan — tiểu sử và văn nghiệp
Vũ Khắc Khoan — bên kia, bên này
Trương Anh Thụy — trả lời phỏng vấn
Trương Anh Thụy — ánh mắt
Trần Vũ — trả lời phỏng vấn
Trần Vũ — nhã nam
Mai Kim Ngọc — hà nội
Trần Mộng Tú — trả lời phỏng vấn
Trần Mộng Tú — anh có yêu không mùa hạ của em?
Trần Mộng Tú — hai con thỏ trắng
Hoàng Nga — thiên hạ lìa xa
Thơ Thơ — cụ và chắt
Trần Hoài Thư — cho con, ngày vào trường thuốc
Phùng Nguyễn — "rick"
Nguyễn Trung Hối — vọng ngôn
Huy Văn — giấc mơ sân cỏ
Trương Vũ — phía bên kia thiên đường
Phan Minh Khánh — tự truyện
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
115 Báo Văn Học — Số 115 (11-1995)

Ngu Yên — giải văn chương nobel 1995
Thạch Hãn — vài suy nghĩ về phía bên kia thiên đường
Nguyễn Ngọc Tuấn — võ phiến, nhà tạp luận
Cỏ Đồng — hãy thả linh hồn đi lang thang....
Hoàng Chính — trả lời phỏng vấn
Hoàng Chính — về cõi trầm luân
Hoàng Xuân Sơn — nơi chốn
Phạm Ngũ Yên — trả lời phỏng vấn
Phạm Ngũ Yên — lang thang cánh gió
Võ Kỳ Điền — tiểu sử & tác phẩm
Võ Kỳ Điền — một thời để yêu
Ngô Tịnh Yên — tình ơi
Trang Châu — trả lời phỏng vấn
Trang Châu — hãy coi nhau như tình nhân
Trang Châu — sinh nhật
Luân Hoán — trả lời phỏng vấn
Luân Hoán — bài ký niệm tròn 10 năm ở canada
Tạ Chí Đại Trường — chập chồng thế kỷ
Trần Mộng Tú — núi
Trần Doãn Nho — căn phòng thao thức
Hoài Ziang Duy — ông tướng sang sông
Thơ Thơ — vườn trong mộng tưởng
Nguyễn Quốc Trụ — như lính giữa rừng
Nguyễn Xuân Thiệp — như một lời chia tay
Nguyễn Mộng Giác — viết về chiến tranh việt nam
Nguyễn Quí Đức — tâm tình thế hệ trẻ
Hồ Minh Dũng — nợ
Bùi Vĩnh Phúc — ở một nơi nào
Nguyễn Mộng Giác — đọc "vết xước đầu đời"
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
116 Báo Văn Học — Số 116 (12-1995)

Trần Văn Tích — nhà viết sử và tiểu thuyết
Cao Xuân Tú — trong xanh - mắt
Bùi Bích Hà — linda lê...
Ngu Yên — lời của linda nguyễn & đều đều
Thụy Khuê — phân tích bài nguyệt cầm
Hoàng Lộc — ra tù, về lại hội an
Trần Long Hồ — trả lời phỏng vấn
Trần Long Hồ — người chị
Tường Vi — trăng sáng vườn thu
Hoàng Bích Đào — ý thu
Vĩnh Hảo — trả lời phỏng vấn
Vĩnh Hảo — những ván cờ
Nguyễn Hữu Trí — trả lời phỏng vấn
Nguyễn Hữu Trí — một lời thề
Phan Ni Tấn — ba điệu lý
Trần Diệu Hằng — trả lời phỏng vấn
Trần Diệu Hằng — tự truyện của bóng
Hoàng Ngọc Biên — thần thoại việt nam
Phan Ni Tấn — trả lời phỏng vấn
Phan Ni Tấn — bài ca đoàn tụ
Andrew Lâm — quay cuồng trong điệu vũ
Thơ Thơ — lưỡi dao cạo
Nguyễn Thị Thanh Bình — thơ cho chim nhỏ
Trần Hoài Thư — bãi chiến
Nguyễn Xuân Thiệp — kẻ sĩ nga sơn, nửa thế kỷ soi dòng lịch sử
Nguyễn Xuân Thiệp — con chim màu đỏ
Hoài Ziang Duy — mỗi ngày mỗi xa
Cổ Ngu — chuyện năm mươi năm
Hồ Đình Nghiêm — đường đèo
Trần Hồng Châu — ta hờn người đi trước...
Phùng Nguyễn — điện thư
Kinh Dương Vương — ba truyện thật ngắn
Tạ Quốc Tuấn — giữa người đọc và người viết
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
117-118 Báo Văn Học — Số 117-118 (1&2-1996)

Nguyễn Mộng Giác — nhìn lại một năm văn chương
Cao Xuân Tú — đêm trừ tịch
Mai Kim Ngọc — câu chuyện văn đầu năm
Nghiêm Xuân Hồng — giả đò
Thạch Hãn — tôi thuộc về đâu?
Văn Học — giới thiệu nguyễn đại hải
Văn Học — giới thiệu trần đệ
Văn Học — giới thiệu andrew q. lâm
Andrew Q. Lâm — gỗ mun và hồn ma bóng quế
Văn Học — giới thiệu lưu trường khôi
Lưu Trường Khôi — chiếc áo trắng
Trần Mộng Tú — chiều cuối năm ở isaquah
Văn Học — giới thiệu nguyễn phương quỳnh trang
Nguyễn Phương Quỳnh Trang — anh hai
Đinh Linh — hai kẻ đăng trí
Hoàng Bích Đào — mùa xuân và tuyết
Văn Học — giới thiệu nguyễn quí đức
Nguyễn Quí Đức — tết tại tenderloin
Nguyễn Thành Việt — mùa bão
Văn Học — giới thiệu lại thanh hà
Lại Thanh Hà — bà bán rau thì-là
Lily Dizon — đi tìm đại úy nguyễn tấn hưng
Hoàng Lộc — về hội an, uống rượu đợi người
Dương Như Nguyện — những cỗ quan tài của tĩnh tâm
Đoàn Nhật — lời cho yêu dấu
Bùi Vĩnh Phúc — bùi bích hà, một mình trong nỗi nhớ
Ngũ An — những cuối năm buồn
Phạm Xuân Đài — thư viết trong mùa xuân
Võ Phiến — nhà văn
Trần Hồng Châu — cựu thời hoa
Thảo Trường — xóm nghèo
Hải Phương — di chỉ, mùa xuân năm 2000
Hoàng Nga — cố nhân
Nguyễn Mạnh Trinh — dường như
Thơ Thơ — trăng mật
Hồ Minh Dũng — phù thịnh
Triều Hoa Đại — đường xuôi xa
Phùng Nguyễn — cành lê hoa mùa đông
Thường Quán — nước non ngàn dặm
Ngụ Thuyết — đi tìm
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
119 Báo Văn Học — Số 119 (3-1996)

Tạ Quốc Tuấn — thơ mông lung
Phan Minh Khánh — nói với thời gian
Nguyễn Thanh Châu — chùm oán thi tứ tuyệt mới
Phạm Thị Hoài — đổi mới. những hội nghị
Trần Văn Tích — hồn thơ
Hồ Minh Dũng — mộng
Văn Học — phỏng vấn lệ hằng
Lệ Hằng — mượn hồn
Văn Học — phỏng vấn nguyễn văn sâm
Nguyễn Văn Sâm — lời trù ẻo của thằng cùi
Văn Học — phỏng vấn triều hoa đại
Triều Hoa Đại — lời từ tâm
Võ Đình — chuyện vợ chồng người đào vàng
Trần Doãn Nho — một ngày hơi khác mọi ngày
Nguyễn Đức Thanh — gọi em
Ngô Nguyên Dũng — có chở trăng về kịp
Hoàng Chính — chứng tích tình yêu
Lâm Chương — uẩn khúc
Điệp Mỹ Linh — bên giòng skagit
Trần Văn Nam — văn học hải ngoại
Trần Văn Tích — qua hay quá?
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
Nguyễn Việt Thường — thức suốt cùng đêm
120 Báo Văn Học — Số 120 (4-1996)

Mai Kim Ngọc — cảm nghĩ cổng chùa
Nguyễn Việt Thường — nhiều lần
Tạ Quốc Tuấn — thơ mông lung...(tiếp)
Hoàng Lộc — thơ của gã học trò già
Văn Học — giới thiệu hàn song tường
Hàn Song Tường — đêm trăng biển
Văn Học — phỏng vấn phạm quốc bảo
Phạm Quốc Bảo — ngã rẽ
Tưởng Năng Tiến — chuyện phiếm cuối năm
Lê Thị Thấm Vân — thả lòng
Đặng Mai Lan — giải đáp
Nguyễn Xuân Thiệp — điệu hoài hương xanh
Phạm Chi Lan — barbara
Bùi Bích Hà — gạch đỏ
Nguyễn Hiền — cho một lần gặp gỡ
Trần Hồng Châu — chân không - chân không
Hoàng Liên — tan vỡ
Hoàng Xuân Sơn — đông ngạc, một đi phố huyện về
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — trang sách ước
Đặng Ngọc — còn một chốn làm thơ
Song Thao — về, mười mảnh vụn
Kinh Dương Vương — thư viết cho con
Hà Nguyên Dũng — cuộc chia ly
Triều Hoa Đại — thương tích
Nguyễn Trung Hối — nắng xuân
Phùng Nguyễn — văn học trẻ trên internet
Thụy Khuê — phỏng vấn phạm chi lan
121 Báo Văn Học — Số 121 (5-1996)

Ngu Yên — thơ cụ thể
Thường Quán — xứ bắc
Tạ Quốc Tuấn — thơ mông lung (tiếp theo)
Tạ Chí Đại Trường — đi tìm điều còn thiếu
Võ Hoàng — trong lòng cách mạng
Luân Hoán — lục bát
Phan Thị Trọng Tuyến — welcome to india
Lưu Nguyễn — cõi miền thịt da
Đỗ Kh. — thế giới là một nhà
Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn nguyễn mộng giác
Đặng Hiền — chiều cuối năm với bạn già
Andrew Lâm — trên sông hương (thạch hãn dịch)
Nguyễn Quí Đức — nơi trú ẩn về đêm
Trần Mộng Tú — thư tháng tư gởi về hà nội
Phạm Ngũ Yên — hạnh phúc ở quanh đây
Võ Đình — lại chuyện cây bàng
Nguyễn Trung Hối — thù
Phùng Nguyễn — kim nga
Song Thao — nhạt màu phố cũ
Nguyễn Xuân Hoàng — nguyễn đình toàn, sàigòn, pagode
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
Hồng Khắc Kim Mai — tango blues
Văn Học — giữa người đọc và người viết
122 Báo Văn Học — Số 122 (6-1996)

Nguyễn Xuân Hoàng — hiện thực và tưởng tượng
Nguyễn Thanh Châu — những chiều arizona
Trần Văn Tích — lời thơ
Nguyễn Thạch Miên — marie sến: tự truyện của một thế hệ...
Triều Hoa Đại — phỏng vấn nguyễn xuân tính
Đỗ Tiến Đức — một câu chuyện rất việt nam
Văn Học — phỏng vấn khánh trường
Khánh Trường — dưới sâu. biển
Văn Học — phỏng vấn hà thúc sinh
Hà Thúc Sinh — lạc nhau
Trần Long Hồ — một chốn an lành
Đỗ Quyên — nói với em khi đã ở rất gần
Hồ Minh Dũng — đường phượng bay
Diên Nghị — giai điệu vùng đất
Hoàng Chính — kiếp sau
Định Nguyên — velvety
Trần Hoài Thư — sợi tóc nhớ thương
Bùi Bích Hà — thư viết cho con gái lúc dọn nhà
Hồng Khắc Kim Mai — chúc mừng
Hoàng Nga — nhà có hoa tím
Phan Ni Tấn (n.d.) — về cà mau
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
Văn Học — giữa người đọc và người viết
123 Báo Văn Học — Số 123 (7-1996)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (chỉ có Thư Tòa Soạn dạng văn xuôi, không đánh số trang)
124 Báo Văn Học — Số 124 (8-1996)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (chỉ có Thư Tòa Soạn dạng văn xuôi, không đánh số trang)
125 Báo Văn Học — Số 125 (9-1996)

Nguyễn Thế Việt — chính thống và phi chính thống
Tạ Chí Đại Trường — gresham trong sử học
Ngũ An — bạn bè xưa
Tạ Quốc Tuấn — từ hải có chết đứng không?
Hồ Minh Dũng — soi gương
Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn thái tú hạp
Văn Học — tiểu sử, phỏng vấn
Song Thao — âm vang ngàn sóng
Văn Học — tiểu sử, phỏng vấn
Ngụ Thuyết — câu chuyện của nó
Trần Minh Hiền — tự họa
Mai Kim Ngọc — dung nhan
Hải Phương — nghĩ về mẹ, em, biển...
Trần Doãn Nho — chị ấy, ở phía sau
Luân Hoán — vẫn thấy mẹ về trong giấc mơ
Nguyễn Hữu Trí — mưa đêm
Hàn Song Tường — nắng đã tàn rồi
Nguyên Phong — ru em mùa hạ
Triều Hoa Đại — mùa hạ ở biển daytona
Hồ Minh Dũng — nước non ngàn dặm
Trần Hoài Thư — mai em về
Nguyễn Quí Đức — lão thầy tây
Duy Khang (thạch hãn dịch) — vượt biển
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi bên lề thơ...
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
126 Báo Văn Học — Số 126 (10-1996)

Tạ Quốc Tuấn — thế nào là truyện cực ngắn
Quỳnh Giao — ngàn năm vẫn chưa quên
Nguyễn Thanh Châu — về một nỗi chết không rời
Nguyễn Mộng Giác — sang sông
Hà Thúc Sinh — ngộ nhận
Đỗ Quyên — đón sinh nhật trong một lần ra biển
Văn Học — phỏng vấn nguyễn hưng quốc
Nguyễn Hưng Quốc — một bài thơ cụ thể
Văn Học — giới thiệu nguyễn bá trạc
Nguyễn Bá Trạc — thư gửi bạn
Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn hồ trường an
Trúc Chi — chiều ngồi xem báo ở los angeles
Hoàng Chính — jessica
Trần Ngọc Tuấn — lòng tin
Nguyễn Quốc Trụ — cõi khác
Nghiêm Xuân Hồng — hai đứa
Hoàng Nga — thụy ơi, tình ơi...
Ngu Yên — làm thơ giữa cảnh sát
Lập Phương — thử thách, trưởng thành
Hồ Đình Nghiêm — thằng bù nhìn
Ngô Nguyên Dũng — chờ đê vỡ
Đặng Hiền — lao đao nhớ
Phạm Chi Lan — chuyện một ngày
Phạm Thành — thúy kiều
Hoàng Bích Đào — những đường trăng
Trần Văn Nam — văn chương hải ngoại có gì lạ...
Nguyễn Huy Thạch — ghi chép
127 Báo Văn Học — Số 127 (11-1996)

Thạch Hãn — "khác nhau như hai giọt nước"
Tuấn Anh — giải nobel văn chương 1996
Ngu Yên — thi sĩ wislawa szymborska
Trần Hồng Châu — đã ở cùng ta
Dean Murphy — phỏng vấn wislawa szymborska
Lâm Chương — chuyện không bình thường
Nguyễn Xuân Hoàng — vài suy nghĩ về chàng và nàng
Ngu Yên — làm thơ
Nguyễn Hưng Quốc — cái sợ của võ phiến
Trần Văn Tích — thời điểm viết truyện kiều
Nguyễn Xuân Thiệp — trà, thơ, sinh nhật vợ
Nguyễn Mạnh Trinh — đi xa với nguyễn xuân hoàng
Nguyễn Thị Thanh Bình — mừng em, xanh, đi
Y Chi — dòng sông sa mạc
Định Nguyên — tháng mười
Võ Đình — phòng sau
Hà Văn — mắt nai
Trần Mộng Tú — cắm trại
Trần Ngọc Tuấn — mùa hè của tôi đâu?
Kinh Dương Vương — mến ơi!
Đỗ Quyên — gửi huế cùng nguyễn bính
Trần Doãn Nho — dí lụy, một phần đời
Hoàng Bích Đào — hờn dỗi
Phùng Nguyễn — thủy tinh
Mai Kim Ngọc — nhân đọc "giữa hai chân trời"
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
128 Báo Văn Học — Số 128 (12-1996)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (chỉ có Thư Tòa Soạn dạng văn xuôi, không đánh số trang; thư này cũng xác nhận mục "Hai mươi năm văn học hải ngoại" chính thức kết thúc ở số này)
129-130 Báo Văn Học — Số 129-130 (1&2-1997)

Trần Diệu Hằng — trí huệ, mỹ huệ
† KHÔNG CÓ MỤC LỤC CHO TRANG 5-109 — mục lục tìm được (PDF trang 3-4) chỉ liệt kê từ trang 110 trở đi; trang 5 mở thẳng vào bài "văn chương" của Võ Phiến, không có trang mục lục riêng nào cho phần đầu, chưa trích tay
Nguyễn Đăng Bảo Lộc — mưa
Du Tử Lê — ai di truyền gene ấy cho ta
Hoàng Nga — ngồi trên con vực mùa xuân
Trần Hồng Châu — buổi chiều góc cạnh
Ngụ Thuyết — mùa xuân đang về
Hồ Minh Dũng — mùa xuân, mưa vui...
Nguyễn Thúc Đượng — thư gửi bạn vong niên
Thận Nhiên — vàng phai
Lệ Hằng — cánh đồng khô khát
Diễm Âu — đỉnh ngàn sao
Hoàng Xuân Sơn — đường nguyệt
Đỗ Quang Nghĩa — hà nội
Lê Minh Hà — chuyện nhà
Hoàng Khởi Phong — gặp gỡ ở phan thiết
Phùng Nguyễn — chuyện tình kể lại
Sương Mai — hỏi lại
Trần Thị Diệu Tâm — trăng ảo
Hoàng Huyền Thanh — có bao giờ anh nhớ
Hoàng Bích Đào — tên trộm chừa chóp
Nguyễn Mộng Giác — hoạt cảnh ngày xuân
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
131 Báo Văn Học — Số 131 (3-1997)

Võ Đình — cái văn cái vẽ và cái đẹp
Nguyễn Xuân Thiệp — trong vườn tôi hoa phù dung vẫn nở
Nguyễn Thế Việt — từ phương pháp tiếp cận...
Định Nguyên — bốn mùa
Nguyễn Quảng Tuân — trả lời ông trần văn tích
Nguyễn Trung Hối — vấn nạn của bill
Khoa Hữu — gửi n.b.t.
Hoàng Nga — đêm huyền mộng
Kiêm Thêm — khi từ biệt sài gòn
Lê Minh Hà — cái bát
Hoàng Lộc — đọc lại hoàng hạc lâu
Hoàng Mai Đạt — con u trấn, bố xanh xao
Đặng Hiền — tuyệt nhiên
Trần Hoài Thư — xóm slum
Hoàng Bích Đào — dòng sông và tôi
Nguyễn Quí Đức — đám cưới
Nguyễn Mạnh Trinh — mưa buổi sáng trên xa lộ phía nam
Hoài Ziang Duy — cơn gió chạy vòng
Ngũ An — năm bài ngũ ngôn
Huy Văn — chiến trường xa lắc
Nguyễn Thanh Châu — bến sông xưa, chiều nào
Nguyễn Hàn Thư — núi
Nguyễn Đức Thanh — mưa
Huỳnh Liễu Ngạn — trời mưa
Vạn Giả — cát bụi
Điệp Mỹ Linh — tìm vết chân xưa
Đỗ Tiến Đức — duyên anh, cuối đời
Nguyễn Thị Thanh Bình — trả lời phỏng vấn, truyện ngắn
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
132 Báo Văn Học — Số 132 (4-1997)

Phố Tịnh — phạm duy, người nghệ sĩ tự do
Trần Minh Hiền — tháng giêng và em
Ngu Yên — diễn văn, quá muộn
Võ Thu Tịnh — triết lý dân tộc VN qua tục ngữ
Y Chi — mừng xuân vội, mâu thuẫn
Nguyễn Đình Hoà — thương tiếc hoàng lão-sư
Khoa Hữu — thứ dân
Trùng Dương — phan khôi, ngọn hải đăng...
Lê Minh Hà — nợ
Nguyễn Quí Đức — tâm thần
Hồ Minh Dũng — thị lộ
Trần Mộng Tú — máy trợ thính
Hàn Song Tường — về nhà
Sử Mặc — phương đông
Như Chi — tưởng vọng
Phạm Chi Lan — lớp vỏ
Kinh Dương Vương — những truyện thật ngắn
Triều Hoa Đại — ở lại cùng cây cỏ
Nguyễn Hiền — chút hương kỷ niệm
Hoài Mỹ — ba truyện ngăn ngắn
Trúc Chi — hai lần tiễn đưa..., tùy bút
Nguyễn Đức Thanh — mưa, em và quê nhà
Mai Kim Ngọc — đầu xuân đọc sách
Nguyễn Thượng Đức — chuyện (dài) làng thơ
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
Văn Học — giữa người viết và người đọc
133 Báo Văn Học — Số 133 (5-1997)

Nguyễn Vy Khanh — văn học chiến tranh sau 1975
Nguyễn Xuân Thiệp — trên vùng tuyết tan
Nguyễn Bá Trạc — chuyện những vì sao...
Vạn Giả — sang sông
Y Chi — nụ em
Ngu Yên — allen ginsberg, làm đẹp bằng sự thật
Nguyễn Chí Kham — cỏ dại
Nguyễn Mộng Giác — "đi với về cùng một nghĩa như nhau"
Trần Hồng Châu — nghĩa trang westminster gặp bạn cũ
Hồ Đình Nghiêm — hậu cứ
Vương Thúy Lệ — bốn mùa
Phùng Nguyễn — tuổi thơ
Nguyễn Nam An — qua biển về đây
Ngô Nguyên Dũng — mưa
Huệ Thu — hai bài lục bát
Hoàng Nga — sinh nhật
Định Nguyên — lục bát 9
Nguyễn Thị Long An — đường về quê mẹ
Phạm Ngũ Yên — cổ tích
Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn nhà văn tạ ty
Hoàng Xuân Sơn — sông về tới bến
Văn Học — giới thiệu nhà thơ lưu nguyễn
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
Trần Vấn Lệ — đường chiều
134 Báo Văn Học — Số 134 (6-1997)

Tạ Chí Đại Trường — lịch sử và chính thống
Hoàng Xuân Sơn — ám sinh
Thành Tôn — kín chỗ
Đỗ Minh Tuấn — khế ước văn hóa...
Nguyễn Hưng Quốc — trả lời ông đỗ minh tuấn
Hoài Khanh — tương tư đất
Nguyễn Quốc Trụ — nơi người chết mỉm cười
Khoa Hữu — lịch sử ca
Nguyễn Vy Khanh — 40 năm văn học chiến tranh
Phan Minh Khánh — tháng 4, nhớ qui nhơn
Hoàng Chính — thang máy
Hoàng Lộc — thượng uyển chi hoa
Trần Ngọc Tuấn — bụi than
Đỗ Quang Nghĩa — chân dung
Lê Minh Hà — về làng
Nguyên Khôi — hoang đảo
Dã Vy — mơ
Trịnh Y Thu — những con dốc ở virginia
Ngụ Thuyết — đào thoát
Văn Học — giới thiệu nhà thơ trúc chi
Thụy Khuê — đọc "trốn vào giấc mơ em"
Đỗ Quyên — giời ơi!
Trần Bình Nam — ý kiến
135 Báo Văn Học — Số 135 (7-1997)

Tuần Báo Economist — nhân quyền và ngoại giao
Nguyễn Xuân Thiệp — thảo nguyên
Tạ Quốc Tuấn — các đặc điểm truyện cực ngắn
Nguyễn Đức Thanh — sông núi
Hoàng Nguyên Nhuận — một góc trần hồng châu
Trần Văn Tích — trao đổi cùng ông n. q. tuấn
Lâm Chương — người di cư...
Ngô Nguyên Dũng — điểm tâm ở new york
Nghiêm Xuân Hồng — luân vũ xoay vòng
Võ Đình — ôi paris!
Miêng — hải nữ
Đặng Hiền — ở đó
Hoàng Bích Đào — lá thư tình không gửi
Vạn Giã — tiếng đêm
Nguyễn Quí Đức — mùa tang tóc
Ngu Yên — kinh nghiệm sau khi sém chết
Văn Học — phỏng vấn Điệp Mỹ Linh
Điệp Mỹ Linh — dưới bóng cổ thụ
Ngự Thuyết — đào thoát (tiếp)
Khoa Hữu — thơ gửi người tù t.đ.u.
Triệu Châu — đêm tưởng là ngày
Hồ Minh Dũng — uống rượu một mình, và...
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
136 Báo Văn Học — Số 136 (8-1997)
Tuyển Tập Văn Chương

Trần Hữu Thục — tâm thức, trong sáng tạo...
Nguyễn Xuân Thiệp — bài oán thi. đêm. phương nam
Đỗ Minh Tuấn — về cái bẫy văn hóa của NHQ
Cao Thị Nguyệt Lãng — trăng
Phạm Thị Hoài — thủ lãnh trong bóng tối
Trần Bát Nhã — lời cuối
Mai Kim Ngọc — đọc truyện Hoàng Nga
Định Nguyên — ru
Tạ Quốc Tuấn — đề tài truyện cực ngắn
Trần Mộng Tú — cựu ước
Lê Minh Hà — những giọt trầm
Phan Ni Tấn (N.D.) — đêm phương thụy
Hoàng Nga — ấu thời hiu quạnh
Thường Quán — anzac day
Nguyễn Trung Hối — địa đàng bình an
Thận Nhiên — giao khúc I
Hoàng Chính — bắt hụt niềm vui
Trần Hoài Thư — lưu lạc khúc
Trần Long Hồ — nơi có thể quay về
Nguyễn Hữu Nhật — mưa cõi phúc
Vy — mừng tuổi anh, tháng bảy
Trần Minh Hiền — thắp đuốc hồn mình tìm kẻ tri âm
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
Đoàn Nhật — đêm hương mật
137 Báo Văn Học — Số 137 (9-1997)

Trần Văn Tích — đọc thơ
Ngô Nguyên Dũng — đại dương đau nặng
Khoa Hữu — những bước chân buồn quê hương
Nguyễn Hưng Quốc — lại trả lời Đỗ Minh Tuấn
Lê Thị Thấm Vân — di sản
Phạm Thị Hoài — trận con cóc
Trần Hồng Châu — dù trong dù đục
Đặng Tiến — cóc lại nhảy ra
Hoàng Lộc — sâm thương một nỗi
Nguyễn Thị Vinh — tuổi thơ sớm mất
Triều Hoa Đại — núi đá xanh
Lê Minh Hà — trên tay còn tuổi
Nguyễn Thị Thanh Bình — khúc hát nửa vời
Kinh Dương Vương — thằng điếm
Phùng Nguyễn — bia ôm
Hoài Mỹ — bố
Trương Nhân — yêu
Nguyệt Thu — vầng trăng giữa sách
Nguyễn Phúc — nói chuyện với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn
Hoàng Ngọc Biên — chuyến xe
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
138 Báo Văn Học — Số 138 (10-1997)

Thụy Khuê — góp ý về phê bình văn học
Nguyễn Xuân Thiệp — những buổi chiều qua trong đời tôi
Bùi Vĩnh Phúc — về mỹ học tiếp nhận & thuyết hồi ứng của người đọc
Vy — không đề
Mai Kim Ngọc — câu chuyện bảo tồn văn hóa
Trần Hoài Thư — trung đội
Nguyễn Quý Đức — một lần đi
Hoàng Nga — một chỗ để ngắm nhìn
Định Nguyên — khúc tháng chín
Hồ Đình Nghiêm — giới nghiêm
Khánh Hà — vết thương cùng, mù tăm
Đặng Hiền — tuổi nhỏ, phố nhỏ, hôm qua
Hồ Như — thiên thần
Mạc Hoài — tôi đi tìm lại
Lê Minh Hà — kịch bản
Hoàng Bích Đào — bàng khuâng
Nguyễn Thạnh Phú Đông — phỏng vấn Cao Đông Khánh
Nguyễn Phúc — nói chuyện với danh ca Minh Trang
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
Nguyễn Quảng Tuân — đôi lời tâm tình với Trần Văn Tích
Thi Sĩ Vô Danh — thư về thơ con cóc
Nguyễn Hưng Quốc — trả lời Đặng Tiến
139 Báo Văn Học — Số 139 (11-1997)

Nguyên — dario fo, người hề nobel
Nguyễn Xuân Thiệp — con chim màu đỏ...
Tạ Quốc Tuấn — nhận xét về câu thơ Truyện Kiều
Lê Nguyễn — sông núi
Nguyên — thời bình thản
Tạ Chí Đại Trường — đọc muộn The Birth of Vietnam
Khoa Hữu — gửi lệ khi ở k6
Hoàng Xuân Sơn — ngày hạn, mình như, cây kiểng
Nguyễn Đình Hòa — vài điều về thơ Nôm Nguyễn Trãi
Luân Hoán — những cọng lục bát tháng 9
Mai Kim Ngọc — phán xét
Trần Mộng Tú — mưa đầu thu
Như Chi — dường như là tuyệt vọng
Ngự Thuyết — mai
Phan Minh Khánh — lời cổ thạch
Vy — nói với cha
Nghiêm Xuân Hồng — tàn thiên niên kỷ
Jorge Luis Borges (Nguyễn Quốc Trụ dịch) — phép lạ bí ẩn
Cao Thị Nguyệt Lãng — thuyền giấy
Tâm Thanh — mây
Đặng Thị Quế Phượng — thiên nga, trung niên
Trần Doãn Nho — khoảng trống bàng khuâng
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
140 Báo Văn Học — Số 140 (12-1997)

Đoàn Xuân Kiên — phương pháp dạy học vần...
Ngô Nguyên Dũng — tháng 10 sao lá vẫn chưa vàng
Trần Văn Tích — hứng thơ
Hoàng Lộc — nói chuyện đối với Nguyễn C. Trứ
Tạ Quốc Tuấn — họ từ tên hải vốn người Việt Đông
Đỗ Quyên — lòng hải lý
Đỗ Đức Hiếu — đọc văn chương
Trần Hồng Châu — hạt bụi
Nguyễn Văn Sâm — từ thơ tương trương ngáo...
Phan Minh Khánh — thư gửi elise
Hoàng Nga — hôn lễ
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — ánh chớp
Tâm Thanh — phấn thông
Thường Quán — hay là
Phùng Nguyễn — khách quen
Đặng Hiền — không tiếc, chiêm bao
Lê Minh Hà — thành sương
Sử Mặc — phương đông
Nguyễn Hiền — lão bân
Hoàng Bích Đào — dấu xưa
Vạn Giã — nỗi nhớ đầu ngày
Điệp Mỹ Linh — bên bờ hạ long
Trần Thái Vân — trăng
Trần Hoài Thư — valentine
Đỗ Quang Nghĩa — gửi Nguyễn Đức Việt
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
Văn Học Nghệ Thuật — phỏng vấn Nguyễn Mộng Giác
141-142 Báo Văn Học — Số 141-142 (1&2-1998)
Xuân Mậu Dần 1998

Văn Học — phỏng vấn văn hữu
Văn Học & Triều Hoa Đại — nhìn lại một năm qua
Khoa Hữu — hồng hạc
Nguyễn Bá Trạc — căn nhà di động
Nguyễn Hưng Quốc — đọc chơi vài bài ca dao
Trúc Chi — nghe đàn
Vy — nỗi nhớ câm
Tạ Quốc Tuấn — ba bài thơ xuân của thi phái mông lung
Phan Ni Tấn (ND) — suối yến
Trần Nguyên — văn hoá rối nước
Trần Hồng Châu — nguyện nhật tống hữu
Tâm Thanh — trích tiên
Ngữ An — thơ xuân
Ngô Nguyên Dũng — xuân về giữ lửa
Phùng Nguyễn — ngọn lửa nhỏ mùa đông
Nguyên Lang — ý chỉ
Mạc Hoài — nguyên thủy
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — hai người bạn (kịch)
Triều Hoa Đại — giêng. hai mấy thuở
Quỳnh Giao — tình khúc của Trương
Hoài Ziang Duy — nụ tầm xuân
Lê Minh Hà — gió trở
Nguyễn Xuân Thiệp — tempe. thơ qua hoang mạc
Nguyễn Trung Hối — rừng phong dần đỏ
Nghiêm Xuân Hồng — cây liễu rủ
Hoàng Chính — thiên thu
Khánh Hà — tháng chạp quê nhà
Hoàng Nga — đưa tay lên tóc
Nguyễn Khánh Hòa — lục bát Nguyễn Khánh Hòa
Hồ Như — khoảnh khắc mùa xuân
Hoàng Lộc — thơ trên chuyến về
Hoàng Bích Đào — ảo ảnh
Nguyễn Mạnh Trinh — anh vừa năm mươi tuổi
Mauro Senesi (Trần Doãn Nho dịch) — lỗ trống (the breach)
Trương Nhân — góc riêng tư
Bùi Bích Hà — tây tạng và góc phố đỏ
Trịnh Gia Mỹ — tình
Nguyễn Mộng Giác — đi vào cõi thơ Khoa Hữu
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
Văn Học — về cuộc tranh luận thi pháp
Đỗ Minh Tuấn — trả lời Nguyễn Hưng Quốc
143 Báo Văn Học — Số 143 (3-1998)
Vĩnh biệt nhà văn Mai Thảo

Nguyễn Mộng Giác — vĩnh biệt nhà văn Mai Thảo
Khoa Hữu — vĩnh biệt Mai Thảo
Trần Long Hồ — hơi thở văn chương
Phan Ni Tấn (N.D.) — tháng giêng Mai Thảo
Nghiêm Xuân Hồng — bất toại từ
Huệ Thu — bài thơ cho Mai Thảo...
Khánh Hà — thế giới người
Thế Uyên — bàn thêm về Lục Vân Tiên
Quan Dương — lục bát quan dương
Tạ Chí Đại Trường — nói với người bạn trẻ
Ngu Yên — thơ
Tạ Quốc Tuấn — thời gian Thúy Kiều lưu lạc
Phạm Việt Cường — vầng trăng trên kia
Ngô Thế Vinh — trở về pattivattna...
Tường Vũ Anh Thy — thuở hẹn
Hồ Minh Dũng — dĩ vãng
Sương Mai — giống như tình yêu
Võ Đình — đời hoa, đầu đông
Đặng Hiền — có lẽ
Trần Mộng Tú — lạc chỗ
Quỳnh Giao — giọt lệ mỵ châu
Nguyễn Khánh Hòa — ơn em
Thơ Thơ — điều ký ức không dám nhớ
Đỗ Quyên — hoặc là
Ngự Thuyết — đà lạt
Hoàng Xuân Sơn — thủy băng đầu 98
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
144 Báo Văn Học — Số 144 (4-1998)

Nguyễn Hưng Quốc — nhà văn như một kẻ thống dâm
Nghiêm Xuân Hồng — thiên cổ sự
Trần Hữu Thục — khoa hữu, nỗi bi phẫn bất tận
Nguyễn Xuân Thiệp — ánh trăng
Nguyễn Đình-Hoà — mối tình Việt-Pháp tuyệt đẹp
Triều Hoa Đại — mùa xưa
Hoàng Chính — lạc khúc tình ca
Khánh Hà — cành hoa tưởng nhớ, tâm
Song Thao — auld lang syn
Hoàng Nga — hải
Phạm Việt Cường — mùa hạ cũ
Nhật Nguyễn — người đàn bà lạ mặt
Ngu Yên — ảnh gia đình / những lời thiếu lịch sự
Hoàng Du Thụy — không lời để lại
Trúc Chi — chuyện ngày mưa
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
Đỗ Minh Tuấn — trả lời Phạm Thị Hoài
Trần Bình Nam — ý kiến về vấn đề về nguồn
Hoài Hương — ý kiến về ca dao
Lê Trung Định — ý kiến về bài của Thế Uyên
Vi B. Vương — ý kiến về bài của Nguyễn H. Quốc
Võ Công Lý — ý kiến về bài của Thế Uyên
145 Báo Văn Học — Số 145 (5-1998)
Vĩnh biệt Nguyên Sa

Mai Kim Ngọc — người Mỹ đọc Đặng Dung
Nguyễn Xuân Thiệp — thì em về cho mùa vông nở
Nguyễn Mạnh Trinh — tháng tư, tiễn biệt
Võ Phiến — tác phẩm lớn, tác phẩm nhỏ
Phạm Việt Cường — tình thơ Nguyên Sa
Ma Văn Kháng — tấm gương phản chiếu văn hóa
Nguyễn Thanh Châu — thơ Nguyễn Thanh Châu
Trần Bình Nam — chừng nào VN có đại tác phẩm?
Lê Thị Huệ — tương tư đất
Ngô Nhựt Tân — góp ý với Nguyễn Hưng Quốc
Trần Hồng Châu — dự phóng về một nỗi nhớ
Trúc Chi — đoạn cuối
Phương Nguyễn — mơ hoa
Như Chi — mê khúc
Nguyễn Trung Hối — sinh nhật trắng
Nguyễn Khánh Hòa — thơ Nguyễn Khánh Hòa
Ngô Nguyên Dũng — đường xuống vực
Trần Mộng Tú — cô gái nghi tàm
Tâm Thanh — nước non
Trần Ngọc Tuấn — những món tiền xây mộ tổ
Hoàng Xuân Sơn — âm thức
Hoàng Nga — ước mơ
Nguyễn Thị Minh Thủy — phục sinh
Nhật Nguyễn — hương
Quan Dương — tản mạn nắng đầu mùa
Nguyễn Hữu Nhật — cõi hương trăm thức
Thiên Yên — chuyện giòng sông
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
146 Báo Văn Học — Số 146 (6-1998)

Võ Đình — "mặn" và "chay"
Khoa Hữu — biển yêu
Đỗ Ngọc Yên — ng. đ. chiếu, nghệ sĩ hay hủ nho?
Tường Vũ Anh Thy — trên sông khói
Nguyễn Minh Tường — diện mạo văn hóa của Đồ Chiểu
Thiên Yên — con mắt rách
Thế Uyên — một chút Nguyên Sa
Đức Phổ — trăng mười sáu
Lê Minh Hà — gió biếc
Cao Xuân Tú — đêm hà nội
Lê Thị Huệ — sông không bến
Đỗ Quang Nghĩa — thơ Đỗ Quang Nghĩa
Lâm Chương — thượng du, miền thương nhớ
Trúc Chi — mấy mảnh vụn
Phạm Việt Cường — trên đường dây viễn liên
Hồ Như — chị em
Vy — không còn trong trí tưởng
Sử Mặc — bên kia xương cụt
Phạm Hải Anh — ngựa ô
Hoàng Bích Đào — đôi ngả
Khánh Hà — biệt, hồi âm
Nam Dao — chim trong lồng
Trần Thái Vân — về quê hương
Grendel Lajos — điều bị loại khỏi thời sự
Phan Xuân Sinh — hầu chuyện cùng ngũ tử tư
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
147 Báo Văn Học — Số 147 (7-1998)

Trần Hữu Thục — nhân vật tiểu thuyết
Đặng Hiền — thành phố nắng
Trần Văn Tích — tự do và sáng tạo
Nguyễn Thanh Châu — nguyệt rạng
Trần Hồng Châu — ảnh hưởng văn hóa Tây phương...
Ngữ An — thơ năm chữ
Thụy Khuê — Trần Hồng Châu, khát vọng biển
Minh Nguyệt — phỏng vấn Lê Minh Hà
Hoàng Lộc — về một khúc đàn tình
Trần Mộng Tú — về một cảnh đời
Quỳnh Thi — thành thơ
Lệ Hằng — bên kia là núi
Hà Trung — thơ tình cho Huế
Khánh Hà — tiếng hát lạc loài
Quang Dương — vài đoản khúc về New Orleans
Tâm Thanh — hai chiếc bóng
Hoài Mỹ — lời trăn trối
Nguyễn Đức Thanh — mai này
Vy — bước đi cùng quá khứ
Sử Mặc — hồi hướng
Lê Thị Huệ — đứng bên hiên chùa Kim Liên
Ngự Thuyết — khúc hát ly hương
Nguyễn Hoàng Đức — đọc chơi vài bài luận về ca dao
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
148 Báo Văn Học — Số 148 (8-1998)

Nguyễn Hữu Lê — quan hệ tư duy nghệ thuật và hình thái ý thức xã hội
Đỗ Ngọc Yên — di chứng chiến tranh...
Ngu Yên — ai là tác giả?
Nguyễn Đạt Vận — huyền thoại về Cao Bá Quát
Triều Hoa Đại — cùng như lai
Lê Minh Hà — tản mạn về Chí Phèo
Nghiêm Xuân Hồng — đường vào thiên thu
Quỳnh Giao — tìm về thiên thai
Nguyệt Thu — yêu dấu
Trúc Chi — cành phượng tím
Tường Vũ Anh Thy — mơ hồ
Tưởng Năng Tiến — những phút ngã lòng
Phan Minh Khánh — bên chén mù sương
Hà Thúc Sinh — đối đầu
Cao Thị Nguyệt Lãng — lá cỏ non
Tâm Thanh — không nỡ
Hoàng Liên — cái còn lại
Lâm Chương — mưa rừng miền đông
Thảo Trường — bên bờ suối
Inna Malkhanova — các bạn đang làm gì nhỉ?
Thiên Yên — bầy chim đen
Nhật Nguyễn — rồi cũng qua đi
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
149 Báo Văn Học — Số 149 (9-1998)

Đặng Tiến — đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp
Trần Hồng Châu — trống không
Nguyễn Vy Khanh — về Ng. Đ. Chiểu và lý luận văn học
Hoàng Lộc — rượu Huế uống ở Hội An
Nguyễn Văn Sâm — truyện thơ Nôm Triệu Ngũ Nương
Hồng Khắc Kim Mai — bụi đời mười phương
Phố Tịnh — bàn về "đánh dấu thanh"...
Trịnh Gia Mỹ — chiêm bao
Phan Minh Khánh — gót mưa
Nguyễn Đình Hoà — đúng năm mươi năm trước tôi đặt chân lên đất Mỹ
Ý Liên — mùa hạ
Hồ Như — trở về
Khánh Hà — trở về hạ thu
Lê Minh Hà — bão
Huệ Thu — mai thảo
Phùng Nguyễn — chim gáy sau vườn
Trần Mộng Tú — tình gọi
Hồ Đình Nghiêm — mãn thiên hoa vũ
Triều Hoa Đại — bài thơ ngày trước
Quan Dương — bất chợt một buổi chiều
Trần Bình Nam — người chị dâu
Cao Xuân Tú — đêm trên quê hương
Thơ Thơ — ba sẽ về...ngày mai
Nguyễn Mộng Giác — kho tàng của quá khứ
Buzzati, Moravia... — truyện ngắn hay
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
150-151 Báo Văn Học — Số 150-151 (10&11-1998)
Số Đặc Biệt: Văn Nghiệp Võ Phiến

Niên biểu Võ Phiến
Tác phẩm Võ Phiến
Nguyễn Hưng Quốc — Đến với Võ Phiến
Võ Đình — Võ Phiến, Nhìn và Thấy
Triều Hoa Đại — Khởi lên từ ngọn bút
Trần Hữu Thục — Võ Phiến: Tâm và Cảnh
Trần Doãn Nho (phỏng vấn Võ Phiến) — Nhà văn và Cuộc sống
Nguyễn Hoàng Văn — Võ Phiến: Tình nghĩa giáo khoa thư
Lê Minh Hà — Đọc lần 1, lần 2 và...tùy bút Võ Phiến
Nguyễn Hữu Lê — Đọc tạp luận Võ Phiến
Trúc Chi — Lại đối lời
Minh Nguyệt — Ám ảnh thời gian trong thơ Võ Phiến
Hoàng Nga — Nhân vật
Nguyễn Vy Khanh — Võ Phiến những năm 60
Tạ Chí Đại Trường — Từ Đoàn Thế Nhơn đến Võ Phiến
Huệ Thu-Hà Thượng Nhân — Võ Phiến (thơ, thơ họa)
Quỳnh Giao — Võ Phiến với chúng ta
Ngự Thuyết — Đọc lại Võ Phiến
Trần Long Hồ — Võ Phiến: Một đời để tùy nghi
Ngô Nguyên Dũng — Vài cảm nghĩ nhân đọc "Hoan ca" của Võ Phiến
Trần Văn Nam — Nhà văn thích xuề xòa mà viết tinh tế
Sử Mặc — Gợi hứng từ Võ Phiến
Hoàng Xuân Sơn — Viễn
Trần Hoài Thư — Cây đa bên cầu
Nguyễn Bá Khanh — Chân dung Võ Phiến (và bà Võ Phiến)
Võ Phiến — Cái còn lại
Võ Phiến — Thời gian
Võ Phiến — Văn phong, Nhân cách
Võ Phiến — Xong cả
Võ Phiến — Thơ dịch
Nguyễn Quốc Trụ — Tạp ghi
152 Báo Văn Học — Số 152 (12-1998)

Nguyễn Quốc Trụ — saramago, nobel văn 1998
Nguyễn Hoàng Văn — về nơi cố quận...
Cung Trầm Tưởng & các tác giả khác — thơ tiếc thương thi sĩ Bùi Giáng
Schafer & Thế Uyên — tiểu thuyết xuất hiện ở Nam Kỳ
Đỗ Minh Tuấn — ám ảnh hoa trong Truyện Kiều
Đỗ Ngọc Yên — Chí Phèo, bản thân bản ngã Việt
Khoa Hữu — những vần thơ mới viết
Song Thao — chớp mắt ngoái lại
Thành Tôn — rượu, đời ta
Lâm Chương — gió ngược
Thái Tú Hạp — dòng sông chảy ngược
Trần Thu Miên — đám tang người khách hàng
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — bữa đó
Lê Thị Huệ — đà lạt my nương sầu
Nguyễn Khánh Hòa — hiểu ra duyên nợ
Hàn Song Tường — trốn tuyết
Hồ Minh Dũng — tạ ơn
Khánh Hà — một chút quê nhà
Cao Xuân Tú — có thể
Trần Mộng Tú — người thuê phòng
Hoàng Bích Đào — tâm sự dòng sông
Như Chi — lời cỏ
Nguyễn Hoài Phương — chương phềnh
Nguyễn Nam An — khai quang
Đặng Phú Phong — người muốn lấy cái đã mất
Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi
153-154 Báo Văn Học — Số 153-154 (1&2-1999)
Tết Kỷ Mão

Nguyễn Mộng Giác — tình trạng lão hóa trong sinh hoạt văn học
Tạ Quốc Tuấn — các bài thơ xuân đầu tiên trong văn học Việt Nam
Thành Tôn — tặng vợ buổi đầu xuân
Trần Hữu Thục — kinh nghiệm và tri thức. Tác phẩm lớn
Nguyễn Khánh Hòa — thơ Nguyễn Khánh Hòa
Bùi Vĩnh Phúc — tưởng tượng và thực tại trong văn chương
Hoàng Xuân Sơn — thời nhỏ ở vườn kinh
Triều Hoa Đại — xuân về. ta với ngựa
Mai Kim Ngọc — nhà thương quận
Thái Tú Hạp — nẻo về / bồi hồi cỏ hoa
Hồ Minh Dũng — cuối năm
Ngô Nguyên Dũng — tháng giêng em nhớ mềm hương nếp
Trần Hồng Châu — trường an tây vọng
Trần Mộng Tú — lạnh ở dưới phố
Song Thao — sabrina
Lê Thị Huệ — lô cốt
Trúc Chi — bên cạnh một lá thư
Khoa Hữu — lục bát viết từ Việt Nam
Tâm Thanh — ngôn ngoại
Phạm Việt Cường — thơ tình năm 86, viết muộn
Nguyễn Văn Sâm — chờ cho trăng lặn
Cao Xuân Tú — ngày xuân trả nợ quê hương
Nguyễn Trung Hối — huyền trân
Hồ Như — kẻ lạ
Phan Ni Tấn (ND) — quê núi
Ngự Thuyết — con đường chiều
Nguyệt Thu — mùa xuân năm ngoái
Khánh Hà — còn cội mai già
Nguyễn Quốc Trụ — một chuyến đi
Thế Uyên — hà nội, thập niên chót thế kỷ hai mươi
Lê Ngân H. — quê hương như một ám ảnh
Hoàng Bích Đào — xuân trắng
Triều Hoa Đại — ngày xuân, chuyện trò cùng tác giả "tôi cùng gió mùa"
Đỗ Minh Tuấn — sự khám phá nhân cách văn hóa Việt, nhân đọc bộ SCML
155 Báo Văn Học — Số 155 (3-1999)
Số Tân Niên

Tạ Quốc Tuấn — các bài thơ xuân đầu tiên mang ảnh hưởng Nho giáo
Hà Nguyên Dũng — lời say với rượu
Trần Văn Tích — luật thơ
Đức Phổ — ngày đầu năm
Nguyễn Hữu Lê — quan hệ giữa tư duy nghệ thuật và hình thái xã hội
Khoa Hữu — sài gòn, giao thừa 1999
Hoàng Nguyên Nhuận — hành trình chuỗi hột sen hồ tịnh
Trần Mộng Tú — gió không biết tôi bao nhiêu tuổi
Phạm Hải Anh — đỉnh tuyết
Hoàng Chính — rác
Giang — bên thềm nhà cũ, cà phê
Ngô Thế Vinh — trên cánh đồng chum
Quan Dương — chỉ còn thơ
Hoài Mỹ — nhập
Nguyễn Xuân Thiệp — mùa cuối
Nguyễn Vy Khanh — tìm hiểu truyện Hồ Minh Dũng
Hồng Khắc Kim Mai — trầm kha
Từ Dũng, Nguyễn Hưng Quốc & Thế Uyên — tranh luận về "sống và viết ở hải ngoại"
Nghiêm Xuân Hồng — nào ngờ ảo hóa
156 Báo Văn Học — Số 156 (4-1999)

† KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau
157 Báo Văn Học — Số 157 (5-1999)

Đoan Hùng — nhân xem tranh mộc bản, suy nghĩ về 1 dân tộc "mù chữ"
Võ Đình — hàng xóm
Trần Mộng Tú — sợi tóc
Nguyễn Xuân Thiệp — ôi! phong linh
Trần Văn Tích — khoảnh khắc tâm thức Việt?
Cung Trầm Tưởng — limbô
Võ Kỳ Điền — thế giới văn chương Hồ Trường An
Khánh Hà — tiếng suối giao mùa
Cao Xuân Tú — đường lên xứ lạng
Ngô Nhựt Tân — nhận định về "sống và viết..."
Hồng Khắc Kim Mai — bước chân lưu vong
Dũng Văn — mánh lới cuối cùng...
Triều Hoa Đại — trôi theo đường mây
Trúc Chi — huế, một đêm mưa
Hoàng Lộc — một lần huế-quảng
Nam Dao — loạn kiều binh
Quan Dương — lỡ hẹn
Bùi Bích Hà — mùa phục sinh
Tâm Thanh — lông hồng
Song Thao — biết nói chi
Thạch Hãn — tạp ghi
Triều Hoa Đại — phỏng vấn Lê Minh Hà
158 Báo Văn Học — Số 158 (6-1999)

Nguyễn Hưng Quốc — chẳng lẽ mãi mãi là một nền văn học nghiệp dư?
Trần Đăng Khoa — chân dung xuân diệu
Nguyễn Quảng Tuân — "sương gieo" hay "sương siu"?
Lê Nguyễn — trên biển khuya
Trúc Chi — hàn huyên
Thảo Chi — nửa đoạn sau
Đặng Mai Lan — chiêm bao
Quan Dương — ai bảo em...
Ngô Nguyên Dũng — bướm
Trần Yên Hòa — mưa
Hồ Minh Dũng — đường mây
Lê Thái Lâm — ban sơ
Nguyệt Thu — biển đêm
Cổ Ngư — tản mạn một chuyến đi
Thu Thuyền — những nhánh sông mất biển
Giang — chân dung
Phạm Hải Anh — culi
Phan Minh Khánh — bóng quê
Vũ Hồi Nguyên — những vùng hoang
Minh Nguyệt — phỏng vấn Trần Hữu Thục
Trần Hồng Châu — đọc "Trong Mê Cung"
Thạch Hãn — tạp ghi
159 Báo Văn Học — Số 159 (7-1999)

Dạ Quỳnh — quan niệm văn học
Hoàng Xuân Sơn — huệ tổ, giả thử
Nhược Trần — về chuyện...mới cũ
Trần Thị Lai Hồng — panthéon
A. Solzhenitsyn (Nguyễn Phúc dịch) — sự kiên trì tôn thờ cái mới đã tác hại ra sao trong thế kỷ này
Nguyễn Thị Minh Thủy — gửi về mẹ
Nguyễn Hữu Lê — tư duy nghệ thuật...
Nguyễn Vy Khanh — văn chương và thể loại
Thái Tú Hạp — bàng bá lân & giao hưởng số 6
Tâm Thanh — lụa bạch
Hoàng Nga — chia lìa
Nguyễn Nam An — ru giấc còn mây
Lâm Chương — trường sơn, gửi lòng ở lại
Trần Thiện Hiệp — trí nhớ nàng
Ngô Nguyên Dũng — hòn còng lửa
Hoàng Bích Đào — muộn màng
E. Hemingway (Trần Thu Miên dịch) — the killers (hai kẻ giết mướn)
Đức Phổ — ngũ ngôn, hiểu ra chữ nghĩa
Mai Kim Ngọc — suy nghĩ về phim "ba mùa"
Nguyễn Mộng Giác — đọc "thiên nga giữa cõi người"
Văn Học — giới thiệu sách mới
160 Báo Văn Học — Số 160 (8-1999)

Võ Đình — chuyện anh họa sĩ cà lăm
Nguyễn Xuân Thiệp — thời gian
Vương Trí Nhàn — nói chuyện với người đã chết
Nguyễn Đức Thanh — sài gòn
Triều Hoa Đại — trúc chi: huế-sàigòn-hànội
Nguyễn Thị Minh Thủy — lục bát từ biển, buổi chiều
Lê Hữu Nghị — "điểm" qua các bài điểm sách
Nguyễn Hưng Quốc — viết văn với ... cây búa
Trần Hồng Châu — tôi vẫn theo em
Trần Doãn Nho — một đêm
Nguyễn Tư Phương — cuối đời, sao nỡ ngắt trăng về
Lê Minh Hà — sông vẫn còn chảy mãi
Lê Thị Huệ — cường lưu chữ
Bùi Bích Hà — đôi cánh ước mơ của con
Đặng Hiền — mưa đông appex
Nguyễn Quí Đức — mười ngày ở bled
Huỳnh Liễu Ngạn — nỗi nhà
Nguyễn Hiền — trăm luân
Nguyễn Thị Thanh Bình — thơ không lời đáp
Phạm Hải Anh — cửa sổ
Ngũ An — tâm huế
Thạch Hãn — vĩnh biệt bố già
Mario Puzo — chọn một giấc mơ
Nguyễn Mộng Giác — đọc "chân mang giày số 6"
Văn Học — giới thiệu sách mới
161 Báo Văn Học — Số 161 (9-1999)

Hoàng Nguyên Nhuận — đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về
Nguyễn Xuân Thiệp — những giọt lệ đồng thảo
Ngụ Thuyết — mấy thế kỷ sau
Cao Xuân Tứ — biển
Trần Văn Tích — tịch mịch hồng
Trần Thảo Lư — cali như một chốn quê nhà
Nguyễn Hoàng Văn — bi kịch một nụ cười
Hoàng Xuân Sơn — ngày mùa, tiếp dư
Trúc Chi — gánh
Nguyên — thơ tôi thị
Hoàng Nga — bỏ mặc con đường
Thanh Hà — trung thu, đôi khi buồn
Ngô Nguyên Dũng — nhật ký mùa phượng vĩ
Lưu Hy Lạc — ôm hoa
Cổ Ngư — nhạt nắng
Trần Thị Lai Hồng — lý ngọ ý, lý tơ vương
Hoàng Liên — ánh đèn viện sách
Cao Huy Thuần — tôi ở bên này, tôi ở bên kia
Hồ Đình Nghiêm — đất hẹp
Hoàng Mai Đạt — những ngày ở biên hòa
Phan Minh Khánh — nằm trong vườn chùa đợi phật
Nguyễn Mộng Giác — đọc Miêng
Thạch Hãn — tạp ghi
Văn Học — giới thiệu sách mới
162 Báo Văn Học — Số 162 (10-1999)

Nguyễn Mộng Giác — hai con đường vào đời, vào thơ
Cổ Trúc — tứ tuyệt
Nguyễn Quảng Tuân — cách phiên âm từ "nhẫn nhụi"
Bùi Vĩnh Phúc — lại "tịch mịch hồng"
Cao Xuân Tứ — vệt máu còn tươi
Lương Thư Trung — chất thơ trong văn Trần Hoài Thư
Ngô Nguyên Dũng — chân không trong lưỡi dao thời gian
Trúc Chi — chị đàn
Trần Thảo Lư — hiu hắt quê nhà
Tâm Thanh — túp lều của chị tôi
Hà Nguyên Du — khúc ly tao
Trần Doãn Nho — chớm thu
Ngngdung † — cũng đọc thiên thư
Thu Thuyền — nước mắt
Phan Xuân Sinh — đêm nằm nhớ Ức Trai
Nguyễn Thị Thảo An — xóm hưu
Thận Nhiên — mưa giàn giụa mặt một người...
Đỗ Minh Tuấn — chuyện thánh gióng kể ngược
Đặng Hiền — cuối cùng anh cũng hiểu
Nguyễn Hoài Phương — ngày chủ nhật vui vẻ
Sử Mặc — ngàn thu
Huy Văn — mưa sài gòn
Hoàng Mai Đạt — sài gòn dưới cơn mưa trở về
Ngụ Thuyết — xa lộ
Văn Học — giới thiệu sách mới
163 Báo Văn Học — Số 163 (11-1999)

Thạch Hãn — gunter grass, nobel văn chương 99
Nguyễn Hưng Quốc — sáng tác và phê bình
Ngô Nguyên Dũng — mảnh vụn sương tuyết...
Hoàng Ngọc Tuấn — góp ý với hoàng nguyên nhuận
Trần Thảo Lư — nghiệp chướng
Nguyễn Vy Khanh — đọc "qua mấy trời sương mưa"
Hoàng Xuân Sơn — đêm thu
Trúc Chi — một nét thu
Nguyễn Thị Minh Thủy — trầm luân
Tâm Thanh — trái mùa
Trần Thị Lai Hồng — sacre coeur
Nguyễn Thị Thảo An — mrs. jeans
Đỗ Quyên — đống chữ (trích trường ca)
Thu Thuyền — lồ phổ nả
Hồ Minh Dũng — mùa đông mới tới
Lê Hữu — cầu cho sự bình an
Phạm Hà Trang — những ngày mưa cũ
Giang — mắt biếc
Hoàng Mai Đạt — những ngày về biên hòa
Trần Mộng Tú — thơ và bệnh
Nguyễn Văn Sâm — trường thi "việt nam thương khúc"
Khánh Hà — mùa thu phương bắc
Văn Học — giới thiệu sách mới
164 Báo Văn Học — Số 164 (12-1999)

Thạch Hãn — isabel allende
Isabel Allende — nghiệp văn
Trần Văn Tích — lục nghị
Nguyên — già thi sĩ
Đoàn Nhã Văn — nguyễn thị hoàng bắc và những câu chuyện kể
Nguyễn Xuân Thiệp — dạ khúc
Hoàng Nga — về trong phố xưa
Trần Thảo Lư — nhạn môn quan
Lê Minh Hà — có thật, thiên đường
Phan Ni Tấn — thơ phan ni tấn
Nguyễn Hoài Phương — có một giáng sinh
Tâm Thanh — gỗ thức trên rừng
Ngô Nguyên Dũng — puzzles cảnh quê nhà
Vũ Đình Kh. — những mùa ớt trong đời
Hà Nguyên Du — người muôn thuở
Ngô Nhựt Tân — gánh bánh nậm
Thảo Chi — buồn chân đi bộ buổi sáng mùa thu
Hoàng Mai Đạt — những ngày về biên hòa
Vy — dặn
Nguyễn Mộng Giác — đọc tùy bút của Trúc Chi
Văn Học — sinh hoạt văn học
Văn Học — giới thiệu sách mới
165-166 Báo Văn Học — Số 165-166 (1&2-2000)
Tết Canh Thìn

Trần Mộng Tú — nhìn nhau rất xa
Tạ Chí Đại Trường — giao tiếp đông tây ở VN
Trần Hồng Châu — trừ tịch trắng
Trần Long Hồ — đầu xuân nói chuyện sách
Lâm Chương — tội tình chi
Hoàng Xuân Sơn — thơ hoàng xuân sơn
Tạ Quốc Tuấn — những bài thơ xuân của ba thi tăng trung quốc
Nguyễn Hưng Quốc — người đọc, vinh quang và trách nhiệm
Nguyên — nghệ thuật
Võ Đình — chữ
Đức Phổ — lệ vỡ thành giòng
Thụy Khuê — sự hình thành và phát triển văn học quốc ngữ t.k. XX
Đoàn Nhã Văn — những nỗi ám ảnh của hoàng nga
Nguyễn Nam An — thơ nguyễn nam an
Triều Hoa Đại — đến thăm nhà bạn
Nguyễn Xuân Thiệp — cúc vàng & những truyện khác
Kinh Dương Vương — bài thơ cho chim nhỏ
Quỳnh Giao — hương xuân và giai nhân
Nguyễn Thị Minh Thủy — thơ tình tháng chạp
Phùng Nguyễn — tỏ tình với bình minh
Giang — homeless
Nguyễn Mạnh Trinh — tự họa
Hoàng Nga — ở nơi không có tết
Nghiêm Xuân Hồng — tâm chim sẻ, mặt trời
Đặng Mai Lan — mùa nắng cuối cùng
Luân Hoán — dặn chừng, đi theo
Ngô Nguyên Dũng — giao thừa của chị lam
Trần Hoài Thư — bệnh xá mùa xuân
Đặng Hiền — đi qua trí nhớ
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — thuần ơi!
Phan Nhiên Hạo — những chiếc đồng hồ điện tử
Tâm Thanh — cành mai sân trước
Khánh Hà — cảm ơn ta có nhau
Song Thao — những con cá của già sam
Phan Ni Tấn — xuôi nam
Hoàng Chính — khi loài chim thôi hót
Phạm Hải Anh — một chuyến đi
Nguyễn Thị Thảo An — những dòng sông thôi chảy
Phan Thị Trọng Tuyến — ra đi chiến trường
167 Báo Văn Học — Số 167 (3-2000)

Trần Long Hồ — đầu năm nói chuyện sách (tiếp)
Phạm Xuân Nguyên — buồn vui văn học cuối thế kỷ
Tô Thùy Yên — chia tay ải Tây
Đoàn Nhã Văn — tầm bắn trước và sau của Thảo Trường
Nguyệt Thu — bước qua thế kỷ
Nguyễn Mộng Giác — nhìn lại những trang viết cũ
Khoa Hữu — bao giờ, đêm mơ gặp tô đông pha về Hà nội nhớ Sài gòn
Miêng — chiếc mũ
Thảo Chi — xuân này xuân xưa
Y Chi — mây trắng
Hoàng Liên — tiền
Trần Yên Hòa — buổi chiều ở Mỹ
Vi Khuê — chào đón tân thiên niên kỷ
Phùng Nguyễn — đêm oakland. câu hỏi
Thu Thuyền — con đầu lòng
Ngụ Thuyết — dài thế kỷ
Lê Hữu — xuân muộn
Vũ Hồi Nguyên — giao tuyến
Vũ Đình Kh. — ngọn cỏ vàng trên thung lũng mùa đông
Sương Mai — kìa xuân đã về
Văn Học — giới thiệu sách mới
Phổ Đức — vô ưu
168 Báo Văn Học — Số 168 (4-2000)

Tạ Chí Đại Trường — tiền bạc, văn chương và lịch sử
Nguyễn Xuân Thiệp — mưa
Đoàn Nhã Văn — trái tim Miêng và nỗi bất hạnh của người phụ nữ
Cao Xuân Tứ — tây mổ
Dung Nham — thơ dung nham
Triều Hoa Đại — phỏng vấn hồ minh dũng
Tạ Quốc Tuấn — về hai câu 45-46 trong bản dịch chinh phụ ngâm
Nguyễn Hữu Nhật — học nguyễn tuân, chém treo ngành
Mười tác giả — những truyện thật ngắn
Nghiêm Xuân Hồng — trên ngọn tử sinh
Trúc Chi — chút nắng và chút tình
Nguyễn Thanh Châu — đêm. sa mạc lan dần
Nguyễn Văn Sâm — kể chuyện ngày xưa
Hoàng Nga — nhịp sống
Hoàng Chính — giải oan cho biển
Ngô Nguyên Dũng — dấu giày đón bình minh
Hoài Mỹ — lão già otto
Nam Dao — kịch câm
Bùi Vĩnh Phúc — giới thiệu "giữa hai miền mưa nắng"
Văn Học — giới thiệu sách mới
Văn Hữu — ý kiến
169 Báo Văn Học — Số 169 (5-2000)

Văn Học — phỏng vấn nhà văn Võ Phiến về bộ sách "văn học miền nam"
Đức Phổ — trí mã lực
Nguyễn Thanh Sơn — phê bình văn học cảm tính
Lê Minh Hà — chân dung nhà văn, trong một thế nhìn
Ngu Yên — cuối thiên niên: ký
Đoàn Nhã Văn — hồ minh dũng, ngòi bút của tình thương
Trần Thị Lai Hồng — tầm vông
Tâm Thanh — sau mùa lũ sông côn
Võ Đình — bạn cũ
Đặng Hiền — tháng năm xanh
Kiệt Tấn — những mùa ảo tưởng
Nam Dao — trong buốt pha lê
Thận Nhiên — thơ không đặt tựa # 17
Lâm Chương — đi giữa bầy thú dữ
Trần Hồng Châu — không. tôi chưa muốn chào vĩnh biệt
Nguyễn Thị Thảo An — đỉnh trời tròn
Nguyễn Thanh Châu — dạ âm, lạc lối
Trần Thảo Lư — chiều cancun xa quê
Đặng Thơ Thơ — vườn lan
Trần Thiện Hiệp — tháng giêng em về
Văn Học — giới thiệu sách mới
Nguyễn Đức Thanh — huế tháng tư
170 Báo Văn Học — Số 170 (6-2000)

Văn Học — nhà văn Nghiêm X. Hồng từ trần
Nhật Tiến — chuyện trò với bạn đọc về cuốn "thềm hoang"
Tạ Chí Đại Trường — vì sao có bản mới "thần, người và đất việt"
Triều Hoa Đại — nỗi lòng
Đoàn Nhã Văn — ngô thế vinh, người oằn vai với những giấc mộng con
Lương Thư Trung — cảm nhận về cách viết truyện ngắn của Lâm Chương
Trần Mộng Tú — hai mươi lăm năm qua
Ngụ Thuyết — vài ý kiến về dịch thuật
Giang — bỏ san diego
Nguyễn Quảng Tuân — bản kiều nôm trong thư viện anh
Cao Xuân Tứ — phía bên kia trời
Trần Văn Tích — chinh phụ ngâm bản dịch, c.45,46
Nguyễn Thị Minh Thủy — sống bình yên
Nam Dao — chớp sao
Nguyễn Chí Kham — mùa thu
Trúc Chi — về một cái địa chỉ
Hoàng Nga — tổ ấm
Thanh Hà — chiều bãi san trí nguyên
Hồ Minh Dũng — dưới chân đền tế trời
Nguyễn Nam An — trở về theo mơ qua
Lê Hữu — có một vì sao
Hà Nguyên Du — em tín nữ
Nguyễn Thanh Sơn — giới thiệu Nguyễn Bình Phương
Thụy Khuê — phỏng vấn nhà văn Nhật Tuấn
171 Báo Văn Học — Số 171 (7-2000)

Huyền Không — một ngọn đèn không tắt
Tường Vũ Anh Thy — tâm lung linh
Nguyễn Sỹ Hưng — nghiêm xuân hồng, một đời trăn trở xuôi về đọc kinh
The Economist — hear the soulbird sing
Thế Uyên — nhìn lại một vài tác phẩm trong quá khứ
Đoàn Nhã Văn — gió, lửa, thân phận sĩ phu qua ngòi bút Nam Dao
Sử Mặc (H.X.S.) — được mùa thơ
Hoàng Nguyên Nhuận — thưa thốt và dựa cột
Phan Nhiên Hạo — trong những chiếc tàu ngầm
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — phía hoa vàng
Trúc Chi — hộp cơm chay
Hoàng Chính — cơn ghen cuối mùa
Viêm Tịnh — 94 đã tới
Mạch Nha — sông lấp
Trần Thảo Lư — trời bataan mưa lâu
Hoài Mỹ — một ngày có nắng
Trần Thị Lai Hồng — thơ trần thị lai hồng
Vũ Đình Kh. — ở thời chưa đánh mất
Ngu Yên — một mình ở nhà
Trần Cà Mau — bên lề một chuyến âu du
Lê Cần Sơn — giả dụ sau cơn liệt
Hoài Ziang Duy — nhân gian một chỗ
Văn Học — sinh hoạt văn học đó đây
172 Báo Văn Học — Số 172 (8-2000)

Văn Học — phỏng vấn Doãn Quốc Sỹ về khu rừng lau
Tạ Chí Đại Trường — tham gia đối thoại sử học
Viêm Tịnh — khúc thời gian
Dạ Quỳnh — nghệ nhân và cuộc sống
Nguyễn Hưng Quốc — văn học trong một nền văn hóa điện tử
Thích Nguyên Hạnh — một cõi đi về
Lê Cần Sơn — hoang ngôn
Trúc Chi — mây hồng
Trần Hồng Châu — suối orphée suối ophelia
Diễm Âu — dường tro bay
Trần Yên Hòa — dụ ngôn cho bé nhỏ xíu
Trần Thị Ng.H. — sinh nhật
Triều Hoa Đại — mùa hạ, ngồi chờ bóng trăng soi.
Điệp Mỹ Linh — cuộc tình xa
Dung Nham — muối-đường-ta
Nguyễn B. Phương — trí nhớ suy tàn
Văn Học — giới thiệu sách mới
173 Báo Văn Học — Số 173 (9-2000)

Nguyễn Vy Khanh — văn chương truyện thật ngắn
Cao Xuân Tứ — thanh hóa
Nguyễn Thanh Sơn — di sản và đổi mới
Khoa Hữu — thơ viết cho tháng 4.2000
Tâm Thanh — còn đóa hoa quỳ
Trần Thị Ng.H. — lexomil
Nguyễn Mạnh Trinh — tháng 6 và những tháng 6
Ngô Nguyên Dũng — triết lý của tóc
Trịnh Gia Mỹ — niềm vui, nỗi nhớ
Song Thao — trên đường thiên lý
Hồ Đình Nghiêm — đường âm hồn
Đỗ Quyên — buồn muộn cùng thế kỷ
Hoàng Chính — vời vợi non cao
Hoàng Xuân Sơn — đừng có sợ, ngậm ngùi...
Nguyễn Hữu Nhật — nhà in
Hà Nguyên Du — mạch dẫn cho tim
Nguyễn Thị Thảo An — tên thị nữ xứ đàng trong
Đặng Hiền — da tình chi
Phan Triều Hải — câu chuyện chén dĩa
Nguyễn Bình Phương — trí nhớ suy tàn (tiếp theo)
Hoài Ziang Duy — di
Văn Học — giới thiệu sách mới
174 Báo Văn Học — Số 174 (10-2000)

Nguyễn Văn Trung — tưởng niệm Việt Nam Cộng Hòa
Nguyệt Thu — sắc không
Đoàn Nhã Văn — kiệt tấn và những đam mê đời thường
Thường Quán — lửa băng nước
Trần Mộng Tú — thư viết từ assaquah
Đức Phổ — những sớm mai, còn nhớ được
Vũ Hồi Nguyên — một độ khóc cười
Mạc Hoài — gối chăn
Nguyễn Thị Minh Thủy — đời giữa đêm sâu
Trúc Chi — tiếng ca dưới sóng
Vạn Giả — thục
Võ Đình — bàn thờ nhà bà Soa
Ngu Yên — 31 tháng 7 năm 2000
Hoàng Nga — nỗi niềm
Lê Cần Sơn — chào em, vì đôi mắt đá
Lê Minh Hà — ngày xưa cô Tấm
Phạm Hải Anh — viết cho người không hiểu
Ngụ Thuyết — con đường về
Như Chi — tháng 7, tháng 8, tháng 9
Thu Thuyền — cha con
Ngô Nguyên Dũng — che không hết núi
Song Thao — mùa hè đã qua
Nguyễn Bình Phương — trí nhớ suy tàn (tiếp theo)
Phạm Xuân Đài — đọc "bên giòng sông hằng"
Văn Học — giới thiệu sách mới
175 Báo Văn Học — Số 175 (11-2000)

Thạch Hãn — vòng nguyệt quế cho người lưu vong
Thụy Khuê — cao hành kiện, nobel văn chương 2000
Nguyễn Thanh Sơn — cao hành kiện, bóng hoa trên mặt nước
Cao Hành Kiện (Tâm Thanh dịch) — tiểu thuyết là cái quái gì?
Cao Hành Kiện (Thạch Hãn dịch) — đường lên linh sơn
Nguyễn Quảng Tuân — nhận xét về cuốn "đọc kỹ truyện kiều"
Thường Quán — ba đoạn văn
Thảo Chi — đi qua nhà quàng oak hill
Hoàng Nga — vĩnh biệt mùa thu
Sương Mai — nàng tấm tân thời
Thơ Thơ — nhà trẻ
Hà Nguyên Du — thuần diệu, linh y
Lê Hữu — nắng lạ
Triều Hoa Đại — trăng soi hiên cũ
Phan Triều Hải — những con đường không đến seattle
Ngu Yên — gặp trăng
Nguyễn Bình Phương — trí nhớ suy tàn (kỳ cuối)
Lê Thị Thấm Vân — người con gái VN da vàng...thời bình
Nam Dao — từ bốn phác thảo thời gian đến mối mơ của cuội (kịch)
Sử Mặc — nhắm mình
Nhật Tiến — đọc tác phẩm mới của N.Thế Vinh
Văn Học — giới thiệu sách mới
176 Báo Văn Học — Số 176 (12-2000)

L.M. Trần Quý Thiện — tưởng niệm Hàn Mặc Tử
Nguyễn Văn Trung — những lựa chọn căn bản
Đặng Hiền — qua vùng ước mơ
Đoàn Nhã Văn — nguyễn xuân hoàng & người đi trên mây.
Luân Hoán — thơ luân hoán
Thường Quán — giày, và chuyện viết
Hồ Minh Dũng — thơ hồ minh dũng
Nguyễn Vy Khanh — nỗi nhớ qua 5 tác giả
Mai Kim Ngọc — đọc "dì thu" của trang châu
Dung Nham — bài cầu nguyện tháng bảy
Trúc Chi — mong manh
Lê Minh Hà — trương chi
Đỗ Quỳnh Dao — tiếng chim
Khánh Hà — bèo mây
Quán Như — con dế
Như Chi — như thơ
Hoài Mỹ — vĩnh đen
Cổ Ngư — cây đời
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — châu mai
Phạm Hải Anh — khi hoa hướng dương tàn
Diễm Âu — chờ cơm
Nguyễn Mạnh Trinh — đọc catfish & mandala
Văn Học — giới thiệu sách mới
177-178 Báo Văn Học — Số 177-178 (1&2-2001)
Xuân Tân Tỵ 2001 — Bước vào thế kỷ 21

Trần Hồng Châu — điểm tâm LA Times... (thơ)
Tạ Chí Đại Trường — sử việt, đọc một quyển.
Võ Đình — nói và viết
Trần Hữu Thục — viết truyện, từ chỗ chênh vênh
Cao Xuân Tứ — hai ngày với phố cổ
Trần Mộng Tú — chia nhau hà nội
Trần Long Hồ — đầu năm nói chuyện thơ
Đặng Tiến — ngày xuân nói chuyện tuồng hát bội
Giáng Hương — vết hài xưa
Tạ Quốc Tuấn — xuân với ông vua mất nước
Trần Thị Lai Hồng — hài ca
Đoàn Nhã Văn — ngọn lửa âm ỉ trong văn chương Mai Kim Ngọc
Võ Phiến — nhung nha nhung nhăng
Vạn Giả — năm cùng
Tâm Thanh — bức chân dung
Trần Thiện Hiệp — xới đất trồng hoa
Thơ Thơ — một nơi để viết
Khánh Hà — ta về thiên niên kỷ sau
Đỗ Quỳnh Dao — sau tôi, cơn bão sóng
Phan Ni Tấn (N.Đ.) — mọc ở đồng xoài
Mai Văn — một chỗ để nghỉ trưa
Hà Nguyên Du — nguyên đán chùm gửi
Phạm Hải Anh — chuyện cây nhỏ
Ngô Nguyên Dũng — tiếng suối đêm giao mùa
Đỗ Quyên — buồn muộn cùng thế kỷ
Hồ Đình Nghiêm — màu trắng
Ngụ Thuyết — tết và trí nhớ
Nguyệt Thu — quán gió mùa xuân
Nguyễn Mạnh Trinh — thơ tết cho một người
Song Thao — bốn người một bàn
Thường Quán — con mồi
Nguyễn Thị Thanh Bình — ảo tưởng
Phan Triều Hải — rau và hoa
Nguyễn Hoài Phương — kỳ zaloha cuối cùng
Mai Kim Ngọc — giã từ hoàng liên
Phùng Kim Chú — thơ phùng kim chú
Vũ Thư Hiên — cương ơi, tạm biệt
Nguyễn Mộng Giác — đọc "về với biển cả"
Hồng Huy — về ý kiến của Nguyễn Quảng Tuân
179 Báo Văn Học — Số 179 (3-2001)

Trần Văn Tích — thơ xuân Trần Nhân Tông và thời gian nghệ thuật
Nguyễn Văn Trung — văn học trong vòng tay chính trị
Triều Hoa Đại — cuối năm. sáo lại sang sông
Trịnh Nhật — thầy tôi: một giấc ngủ dài
Ngu Yên — nhật ký theo tiếng hát
Nguyễn Thanh Sơn — tiếp thị cho một giải nobel văn chương cho việt nam
Tạ Chí Đại Trường — sử học, đọc một quyển (II) các sử gia nho thần
Trần Thiện Hiệp — nhớ người kinh bắc
Nam Dao — tiếng hú địa cầu
Đỗ Quỳnh Dao — chuyện kể một mình
Luân Hoán — một lần tham bạn
Trúc Chi — bệnh rình sắc hương
Đinh Linh — thư lạ
Hoàng Xuân Sơn — bài ca con cá
Trang Châu — tín hiệu
Đỗ Tử Hậu — không phải là chuyện ma
Nguyễn Thị Thanh Bình — ảo tưởng
Hàn Song Tường — mất tích
Trần Mộng Tú — những mảnh quê nhà
Thế Quân — tin văn
180 Báo Văn Học — Số 180 (4-2001)

Tạ Quốc Tuấn — lãng tử văn học
Ngụ Thuyết — viết, và viết cho ai?
Khánh Hà — phục sinh
Ngũ An — thủy mặc
Nguyễn Quảng Tuân — sách hán nôm ở nước ngoài
Tạ Chí Đại Trường — các sử gia nho thần
Đặng Hiền — và mơ
Nguyễn Văn Trung — văn chương hiện sinh
Hoàng Xuân Sơn — bellevue
Miêng — bất chính
Hồ Như — tiểu thư
Ngô Nguyên Dũng — hoang vu tôi
Hồ Minh Dũng — vườn không đóng cổng
Hà Nguyên Du — em là...vòng nhật nguyệt
Lê Minh Hà — chữ ơi!
Thu Thuyền — dòng sông gãy khúc
Thảo Chi — biết đến bao giờ
Nguyễn Hoài Phương — ngày và đêm
Alain Robbe Grillet — tiểu thuyết pháp ngày nay
Lương Thư Trung — bên bờ kinh xáng bốn tổng đọc sách ngô thế vinh
Mạc Hoài — nổi niềm
181 Báo Văn Học — Số 181 (5-2001)

Trúc Chi — trịnh công sơn: đôi nét chấm phá
Nguyễn Mộng Giác — mười sáu năm, nhìn lại...
Hoàng Khởi Phong — những lần lột xác của văn học
Hoàng Xuân Sơn — trăng mười sáu
Song Thao — chút kỷ niệm với văn học
Nam Dao — kịch nghệ của người việt hải ngoại
Nguyễn Hoài Phương — xuống sông
Nguyễn Thanh Sơn — những người viết trẻ ở việt nam
Trần Mộng Tú — giọt nắng tháng tư
Nguyễn Văn Trung — văn chương hiện sinh (tiếp)
Hoàng Nga — triền mơ
Sương Mai — trang...sầu
Triều Hoa Đại — mười năm, bụi ám
Nguyễn Thị Thảo An — mến
Đức Phổ — ký ức
Trang Châu — nắng đêm
Hòa Vũ — chị phúc
Đặng Trần Huấn — tên thật nhà văn thế lữ
Hồng Khắc Kim Mai — thư kính gửi g.s. nguyễn v. trung
Thế Quân — tin văn
Sam H. Verhovek — từ mộc bản đến mã số điện toán đối với một nhà thơ việt nam
Huỳnh Liễu Ngạn — hồi em thuở đó trăng tròn khuyết
182 Báo Văn Học — Số 182 (6-2001)

Nguyễn Văn Trung — văn chương hiện sinh
Tô Thùy Yên — gặp gỡ giữa đường
Tạ Quốc Tuấn — hương thổ văn học
Lê Cần Sơn — làm thơ như giữ đức tin
Nguyễn Quảng Tuân — trao đổi với ông hồng huy về quyển 'đọc kỹ truyện kiều'
Trần Thiện Hiệp — gặp lại tháng giêng
Trần Dần — nhật ký (trích)
Ngô Nguyên Dũng — thời khánh tận của đất
Phạm Hải Anh — chiếc giỏ giấc mơ
Trần Hồng Châu — độc ẩm hoài cố nhân
Lê Hữu — giọt lệ chelsea
Triều Hoa Đại — phỏng vấn nhà văn phùng nguyễn
Nguyễn Vy Khanh — thơ nguyễn nam an
Nguyễn Hoài Phương — trí tuệ
Thận Nhiên — dòng đầu ngày
Ngô Viết Trọng — con đò ma
Ninh Hạ - Nguyễn Đức Tâm — margarita
Đỗ Tử Hậu — chứng nhân lửa luyện tội
Thế Quân — tin văn
183 Báo Văn Học — Số 183 (7-2001)

Nguyễn Mộng Giác — thực chất & huyền thoại
Trần Mộng Tú — chuyện của đôi giày
Nguyễn Văn Trung — hiện sinh ở miền nam
Đặng Hiền — vách thời gian
Nguyễn Quảng Tuân — trao đổi thêm với ông hồng huy về quyển 'đọc kỹ truyện kiều'
Hà Nguyên Du — gene đại dương
Vũ Hoàng Thư — haiku và những cơn nắng hạ
Lũ Quỳnh † — trịnh c. sơn, những ngày bệnh.
Bùi Bích Hà — hư vô
Song Thao — chuyện tình, khúc đầu
Phan Triều Hải — những người đánh cá
Nguyễn Đức Thanh — người đi
Thơ Thơ — độ đau của máy
Nguyệt Thu — đi tìm
Ngô Viết Trọng — chú hụi
Trần Thiện Hiệp — ẩn hiện vầng trăng
Điệp Mỹ Linh — mơ chiều
Ninh Hạ-Nguyễn Đức Tâm — margarita (2)
Hoàng Chính — tình khúc (truyện dài nhiều kỳ)
Thế Quân — tin văn
184 Báo Văn Học — Số 184 (8-2001)

Nguyễn Huệ Chi — một vài vấn đề phân kỳ lịch sử văn học nhìn từ điểm đầu t.k. 21
Vũ Hoàng Thư — cánh đồng, thời gian
Nguyễn Ngọc Bích — nguyễn du trứ-tác truyện kiều vào khoảng nào?
Sử Mặc — hò khoan, duy nhất ở giữa
Tạ Quốc Tuấn — hai nhà văn tiêu biểu cho tiểu thuyết hương thổ
Đức Phổ — bến cũ
Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn nhà thơ trần mộng tú
Hà Nguyên Du — đêm hạ huyền
Nguyễn Phương Linh — tâm sự với một người bạn cũ
Võ Đình — mây chó (tùy bút)
Hồng Khắc Kim Mai — như phù vân (trích)
Hoàng Nga — khúc tháng hai
Lê Mây — diễm
Trang Châu — người ăn trưa trong xe
Cao Xuân Tứ — phú xuân, mấy mươi năm, 1 ngày
Hồ Như — trăng non
Mai Văn — nắng doi †
Phan Nhiên Hạo — coi bói, coi phim
Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ)
Thế Quân — tin văn
185 Báo Văn Học — Số 185 (9-2001)

Hồng Huy — thông ngữ và đặc ngữ
Nguyễn Thanh Châu — lòng khát khao...những cơn mưa
Tuấn Huy — nghiêm xuân hồng, người về khép cánh hư không
Nguyễn Nam An — nghe mùa hè ôn đới
Trần Văn Tích — cỏ cây truyện kiều
Lê Cần Sơn — kinh cầu hồn cho người còn đi đứng
Tràm Cà Mau — triết lý củ khoai
Huỳnh Liễu Ngạn — xóm
Ngụ Thuyết — những cây bông trắng
Trúc Chi — hạt giống
Song Thao — mai sau
Nguyễn Khánh Hòa — thơ nguyễn khánh hòa
Hoài Mỹ — thập giá
Nguyệt Thu — lửa
Phạm Hải Anh — đi hết đường mưa
Trầm Hương — có gì đâu
Trần Thị Diệu Tâm — con câm
Hoàng Xuân Sơn — dọc thảo an mùa chớm trăng, mây
Nguyễn Hoài Phương — sỏi
Đỗ Tử Hậu — mắc cạn
Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ)
Thế Quân — tin văn
186-187 Báo Văn Học — Số 186-187 (10&11-2001)
Trịnh Công Sơn: Tình yêu, Quê hương, Thân phận (Văn Học ấn bản đặc biệt)

Cổ Ngư — Đôi dòng về Trịnh Công Sơn
Nam Dao — Ngõ ngàng nước đục bụi trong
Bửu Ý — Đèn thắp thì mờ
Tuấn Huy — Trịnh Công Sơn, cỏ xót xa người
Lữ Quỳnh — Nơi nghìn trùng con gió bay
Hoàng Xuân Sơn — Vân Áo, Biết làm sao
Nguyễn Việt Thường — Thương Anh, hạt cát dị thường
Trương Thìn — Ngẫm nghĩ về Sơn
Nguyệt Thu — Những gì còn lại
Trần Hữu Thục — Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn
Y Chi — Giọt nước nguyên thủy
Trần Nhựt Tân — Trịnh Công Sơn, Chim Họa mi và Nàng Thơ
Lê Minh Hà — Trịnh Công Sơn, Tại sao?
Thơ Thơ — Lời chia tay cuối
Trúc Chi — Về một tâm hồn nghệ sĩ
Bùi Vĩnh Phúc — Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật
Đặng Tiến — Trịnh Công Sơn, Tiếng hát Hòa bình
Quỳnh Giao — Trịnh Công Sơn, như cánh vạc bay
Nguyễn Thanh Ty — Về một quãng đời của Trịnh Công Sơn
Lê Hữu — Từ Diễm Xưa đến Một Cõi Đi Về
188 Báo Văn Học — Số 188 (12-2001)

Thạch Hãn — v.s. naipaul, nobel văn chương 2001
Khánh Hà — em thơ về đâu
Tạ Chí Đại Trường — tây sơn, nhìn từ bên trong
Luân Hoán — tiên phước, 1946
Tạ-Quốc-Tuấn — chúng ta lơ là với văn học á châu đã quá lâu!
Đặng Hiền — vẽ cùng nỗi nhớ
Hồng Huy — thương xác cùng ông nguyễn quảng tuân...
Tràm Cà Mau — tấm lòng cậu chó
Tuấn Huy — thao thức về mênh mông
Ngô Nguyên Dũng — xuống núi
Nguyễn Nam An — yosemite
Bùi Bích Hà — cỏ dại và thú dữ
Thái Tú Hạp — lãng mạn
Lương Thư Trung — câu chuyện về một loài rong
Đỗ Quang Nghĩa — nhớ về trịnh công sơn
Ngô Nguyên Dũng — mưa ngũ cung
Hà Nguyên Du — viết ở fitcom, santa ana
Vũ Hoàng Thư — như những hạt sương
Trang Châu — sóng ngầm
Trần Mộng Tú — thu khúc
Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ)
Thế Quân — tin văn
189-190 Báo Văn Học — Số 189-190 (1&2-2002)
Xuân Nhâm Ngọ 2002

Ngữ An — về chào tiếng lạ
Trần Văn Tích — hoa xuân hương thiền trong thơ lý trần
Nguyễn Hưng Quốc — báo tết và văn hóa tết
Nguyệt Thu — gọi mùa xuân muộn
Ngụ Thuyết — nghĩ về tết
Huỳnh Liễu Ngạn — tân xuân
Tạ Quốc Tuấn — đêm trừ tịch với thi nhân trung quốc
Nguyễn Quảng Tuân — hình ảnh con ngựa trong truyện kiều
Trần Doãn Nho — ngày 11 tháng chín
Nguyễn Thanh Châu — lục bát quê nhà
Nguyễn Thị Thảo An — 726256-B526
Như Chi — ước chi
Trần Mộng Tú — trong khu vườn mùa xuân
Triều Hoa Đại — hãy ở cùng ta
Võ Đình — người leo núi
Mạc Hoài — lặng thầm
Thảo Trường — ...trang cuối
Lê Hằng — thần bội bạc
Trần Hồng Châu — cội thông bên bờ thế kỷ
Nguyễn Hoàng Văn — thơ ngắn
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — thư gửi mẹ
Lê Cần Sơn — nằm xoay lưng nghe quạ kêu
Lê Minh Hà — những người muôn năm cũ
Trúc Chi — thư gửi hạc
Hoàng Xuân Sơn — lượng xuân
Tuấn Huy — hà nội lung linh trong trí nhớ
Sâm Thương — tên đao phủ trên cổ thành
Khánh Hà — chùm lục bát
Tâm Thanh — khe sáng
Song Thao — rời nơi giấu mặt
Vạn Giả — vẫn chờ xuân
Thơ Thơ — chuyện của ti
Đỗ Quỳnh Dao — đối gương
Hồ Đình Nghiêm — sứ giả
Nguyễn Việt Thường — đêm mộng về gác gió
Tràm Cà Mau — xứ khỉ khọn
Hoàng Chính — thư tình của mỵ nương
Hoài Ziang Duy — bốn ngàn năm chen lấn
Thái Tú Hạp — sát na hạnh ngộ
Thế Quân — tin văn
191 Báo Văn Học — Số 191 (3-2002)

Hồng Huy — cũng nên chỉnh lại
Hoàng Xuân Sơn — không điểm & và mưa, sóng
Trần Văn Tích — hai chữ bát bát của nguyễn khuyến
Nguyễn Quảng Tuân — đến hàn san tự để tìm hiểu bài thơ phong kiều dạ bạc của trương kế
Đặng Hiền — mơ
Tràm Cà Mau — tạo nhàn
Ngu Yên — tình cũng đau răng bia lỏng và cát đặc
Phan Triều Hải — đi mãi trên đường
Ngô Nguyên Dũng — khoảnh khắc
Hoàng Nga — một đoạn ký
Lâm Chương — những đoản văn rời
Ninh Hạ - Nguyễn Đức Tâm — tết muộn
Trần Mộng Tú — cúm
Lê Minh Hà — gió từ thời khuất mặt
Nguyễn Việt Thường — bước chân ai lạc bên thềm
Nam Dao — con mắt xanh
Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ)
Nguyễn Mộng Giác — tuổi thơ trong truyện thơ thơ
Thế Quân — tin văn
192 Báo Văn Học — Số 192 (4-2002)

Tạ Chí Đại Trường — sex và triều đại
Triều Hoa Đại — phố xưa
Hồ Sĩ Khuê — bút pháp
Sử Mặc — ngắn ngủn
Tạ Quốc Tuấn — trịnh thanh văn, nhà văn hương thổ được trao giải quốc tế
Xuyên Trà — lời cuối cho người
Đinh Trường Chinh — tình hương
Trịnh Công Sơn — nhật ký huế (di cảo)
Triều Hoa Đại — trần doãn nho, từ chỗ chênh vênh
Song Thao — cuộc rượu ngày đi
Vạn Giả — một ngày tháng tư
Hoài Mỹ — thiếu phụ điên
Nguyễn Việt Thường — từ dòng thơ bảy chữ
Tràm Cà Mau — vợ hiền
Sương Mai — hai đoản khúc: tìm, mộng
Y Chi — về
Bernard Malamud (Võ Đình dịch) — người mẫu
Lê Hữu — đôi ngày lãng quên
Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ)
Thế Quân — tin văn
193 Báo Văn Học — Số 193 (5-2002)

Hồng Huy — xưng hô trong tiếng việt
Trần Mộng Tú — xuân, đông và hoa đào
Nguyễn Hưng Quốc — tiếng việt, dễ mà khó.
Phạm Thị Hoài — hư cấu thật, hiện thực giả
Tuấn Huy — bình nguyên lộc: cuống rún mãi mãi dính liền với đất nước
Trần Thiện Hiệp — trở về thành phố cũ
Trúc Chi — mây và tháng ba
Đạm Thạch — đàn kiến và sự báo động
Tràm Cà Mau — luyện võ trị chồng
Lữ Quỳnh — hoàng hôn trong tranh...
Võ Đình — cơn sốt 21 ngày
Hoàng Phố — ông thần đèn, nguyễn
Hoàng Chính — bão tuyết
Cổ Ngư — gió lập xuân
Miêng — huyễn hoặc
Nguyễn Mạnh Trinh — nghĩ khi gần tuổi 60
Vũ Hồi Nguyên — hạnh phúc là cùng
Thu Tú — một mình, quán tưởng
Sâm Thương — đêm không có mặt trời
Nguyệt Thu — thầm kín
Tâm Thanh — tặng vật
Ninh Hạ — tưởng nhớ mai trung tĩnh
Nguyễn Mộng Giác — vài ghi nhận khi đọc huyết đằng
Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ)
Thế Quân — tin văn
194 Báo Văn Học — Số 194 (6-2002)

Thụy Khuê — hélène péras & hàn mặc tử
Hồng Huy — từ loại trong tiếng việt
Ngu Yên — đẹp làm đẹp cái đẹp
Tràm Cà Mau — đi tìm thú vui điền viên
Lê Cần Sơn — bài thơ phù vân
Trúc Chi — 'tôi' và lỗ tấn
Nguyễn Việt Thường — mai tiên, bài thơ mừng cưới
Hoàng Phố — thơ hoàng phố
Diễm Âu — lama
Lưu Hy Lạc — mưa giữa năm
Ngô Nguyên Dũng — hương đêm vườn ổi chín
Nam Dao — ba miền (kịch)
Đặng Hiền — sau vườn mùa hạ
Mai Văn — chuông
Hoàng Chính — tình khúc (truyện dài)
Thế Quân — tin văn
Xuyên Trà — nếu có những điều
195 Báo Văn Học — Số 195 (7-2002)

Tạ Chí Đại Trường — sex và triều đại
Trần Long Hồ — đọc lại phong kiều dạ bạc
Xuyên Trà — lòng ướt như mây
Cao Huy Thuần — mặt trăng thứ nhất
Phạm Hải Anh — lý bạch cởi truồng
Hoàng Phố — ta bắt tay ta lòng ảm đạm
Tràm Cà Mau — tuổi già là thời sung sướng nhất
Nguyễn Thanh Châu — đoản khúc saguaro
Nguyễn Thanh Châu — chạm vào tôi ngọn gió
Nguyễn Thị Thảo An — cửa búa
Vạn Giả — biệt khúc trăm năm
Trang Châu — chị xuyến
Khánh Hà — hạ chí
Trúc Chi — một chiều chủ nhật
Thùy Dương — say sóng (truyện đăng hai kỳ)
Trần Thiện Hiệp — sàigòn tháng sáu trời mưa
Lữ Quỳnh — huế mùa đông 79
Thế Quân — tin văn
Quý Tâm, Văn Học — sinh hoạt văn học
196 Báo Văn Học — Số 196 (8-2002)

Lê Hữu — đoàn chuẩn-từ linh một mùa nào lãng mạn
Trần Văn Tích — những lầm lẫn và thiếu sót trong "thơ văn lý trần"
Ngô Nguyên Dũng — chuyện văn cùng bác sĩ phân tâm..
Tràm Cà Mau — cô bằng nhắng
Nguyễn Việt Thường — ơn mẹ
Hồ Như — chuyện qua đường
Bùi Bích Hà — thiên thu
Lê Minh Hà — gió từ thời khuất mặt
Nguyệt Thu — chớm hạ
Đỗ Quỳnh Dao — phải chi
Cao Xuân Tứ — amsterdam
Phạm Hải Anh — thắp nến giữa trời
Hoàng Xuân Sơn — collage, cầu treo ở sáu mươi
Trần Thị Diệu Tâm — thánh ca
Thùy Dương — say sóng (tiếp theo kỳ trước)
Xuân Đỗ — đọc "gỗ thức trên rừng"
Thế Quân — tin văn
Đạm Thạch — bàn tay
Nam Dao — trả lời thư độc giả
197 Báo Văn Học — Số 197 (9-2002)

Nam Dao - N. M. Giác — thảo luận về tiểu thuyết lịch sử
Cao Xuân Tứ — sapa
Trần Doãn Nho — từ ảo đến thực
Trần Mộng Tú — gọi tên thượng đế
Hồng Huy — thành ngữ trong tiếng việt
Thu Tứ — quen lạ xa gần
Tô Thùy Yên — thấm thoát đời ta
Tràm Cà Mau — đi thăm con cháu thái dương thần nữ
Sương Mai — M
Nguyệt Thu — đầu dốc
Võ Đình — tạp tàng
Xuyên Trà — ngày chủ nhật
Lâm Chương — những đoản văn rời
Hoàng Nga — lễ hội
Cổ Ngư — biển
Vạn Giả — biển cạn, bóng trăm năm
Phạm Hải Anh — nhạn bay vạn dặm
Thùy Dương — cái giường của tôi
Nguyễn Mộng Giác — đọc "con nữ" của đỗ quỳnh dao
Thế Quân — tin văn
198 Báo Văn Học — Số 198 (10-2002)

Tạ Chí Đại Trường — sex và triều đại (kỳ 3)
Mloanhoasư † — thú đau thương
Cao Xuân Tứ — sờ râu các cụ khảo quan nhìn tây đầm...nhớ tú xương
Ngô Nguyên Dũng — có lần như đã tình nhân nhau
Tạ Quốc Tuấn — Tiêu Hồng, nhà văn nữ bất hạnh
Kiệt Tấn — hài cú cho ngày 11/9
Tuấn Huy — trần cao lĩnh, nỗi đam mê thiết tha trong câm lặng
Sương Mai — bóng thu
Tràm Cà Mau — ngục tù êm ái
Nguyễn Hoài Phương — hèn
Ngô Nguyên Dũng — sao trong vạt áo
Vạn Giả — dối nghịch
Hồ Đình Nghiêm — hư ảnh
Thu Thuyền — chú thời
Trúc Chi — gỗ và đá
Thế Uyên — ngõ cấm chỉ
Nguyễn Nam An — rớt lại nụ cười
Thế Quân — tin văn
199 Báo Văn Học — Số 199 (11-2002)

Trần Hữu Thục — giải nobel văn chương 2002
Imre Kertész (Thạch Hãn dịch) — đời không số kiếp (trích đoạn trong Fateless)
Nguyễn Hưng Quốc — sống và viết giữa các nền văn hóa
Liễu Trương — võ phiến và guy de maupassant
Nguyễn Minh Đức — nẻo về, tiếng thầm
Trang Thanh Hiền — đồ mã rằm tháng bảy
Trần Mộng Tú — dừng hỏi em
Lê Minh Hà — chân dung nhà văn
Nguyễn Nam An — cỏ nhớ hoa sim
Trần Tuấn Kiệt — huy tưởng "hỏi đường cùng mây trắng"
Quyên — giữa vàng áo bay
Trang Châu — tay anh chị
Đức Phổ — sài gòn - bolsa
Đặng Trần Huấn — hai mươi bốn năm xưa
Nguyệt Thu — thu chín
Ngô Nguyên Dũng — phương này
Thùy Dương — giấc mơ có con thiên nga
Kỳ Quân — linh ngư và nghiên mực nhỏ
Sono Ayako — núi phú sĩ
Thế Quân — tin văn
200 Báo Văn Học — Số 200 (12-2002)

Nguyễn Văn Trung — vấn đề nhân vật lịch sử
Đỗ Quang Nghĩa — afghanistan, chúng tôi ở bên bạn
Trần Hữu Thục — góp ý về tiểu thuyết lịch sử
Hồng Huy — thói quen trong ngôn ngữ
Lam Nguyên — tiễn nhau, thu đất khách
Hoàng Phố — cứ mãi chia đôi
Liễu Trương — đọc truyện nguyễn thị lộ của nht
Lưu Trần Nguyễn — cạo râu buổi sáng
Lê Hữu — nửa đêm
Đức Phổ — ai xô ta về phía tuyệt tình
Tràm Cà Mau — bạn thơ
Võ Đình — rác
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — sinh nhật
Trúc Chi — một phút hoài cổ
Kiệt Tấn — paris, thu!
Võ Kỳ Điền — câu hỏi kiếp người
Thế Quân — tin văn
Nguyễn An Bang — vài nhận xét về VH 197
201-202 Báo Văn Học — Số 201-202 (1&2-2003)
Xuân Quý Mùi 2003

Trần Văn Tích — mùa xuân trong các bài thơ hán nôm
Tạ Quốc Tuấn — những bài thơ nguyên tiêu trung hoa
Hà Nguyên Thạch — ngẫu hứng xuân
Hoàng Phố — chiều ba mươi trong sở thú với bạc má. guilty
Tạ Chí Đại Trường — các trung tâm quyền lực trong lịch sử việt
Đức Phổ — rượu nghinh xuân
Nguyễn Hưng Quốc — đọc võ đình
Triều Hoa Đại — về lại phố xưa
Nguyễn Hoàng Văn — mì quảng không biết cãi?
Thu Tứ — bánh tét
Xuyên Trà — nẻo nào
Trúc Chi — nụ đào trong sương
Hoàng Nga — mùa xuân phía trước
Nguyệt Thu — mùa xuân đang chờ
Quỳnh Giao — bốn mùa thay lá
Hồ Minh Dũng — nằm mơ về thăm núi
Lâm Chương — những đoản văn rời
Khánh Hà — xuân vẫn còn
Song Thao — canh cánh bên lòng
Nguyễn Bá Trạc — bến xuân xanh
Lê Minh Hà — chàng
Nguyễn Thanh Châu — như cơn mưa đầu mùa, nụ hồng, đêm nguyệt tận, trù mật một mùa đời
Phạm Hải Anh — phúc
Hồ Đình Nghiêm — sử xanh
Giang — dọn nhà
Ngô Nguyên Dũng — chuyện trong rừng trầm thủy
Tràm Cà Mau — xó địa đàng
Ngữ An — lỡ hẹn mùa xuân
Đỗ Tử Hậu — hương tết xưa còn vương
Thế Quân — tin văn
Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn (truyện dịch đăng nhiều kỳ)
203-204 Báo Văn Học — Số 203-204 (3&4-2003)
Tân Niên Quý Mùi

Phan Cự Đệ — tiểu thuyết lịch sử
Vạn Giả — hồng trần
Tô Thùy Yên — hành giả âu sầu
Tạ Chí Đại Trường — các trung tâm quyền lực trong lịch sử việt (tiếp theo và hết)
Lý Thừa Nghiệp — † lên chùa giao thừa
Trần Văn Tích — vấn đề văn bản học của một số bài từ đào tấn
Huỳnh Liễu Ngạn — giữa chợ
Liễu Trương — roland barthes
Hoàng Phố — còn cái than ôi...
Kiệt Tấn — thơ văn, quê nhà trong trí nhớ
Hoàng Xuân Sơn — những bài thơ trăng
Thu Tứ — viết về ăn
Nguyệt Thư — tiền thân
Trần Doãn Nho — cái thú của tôi
Thụy Khuê — phạm hải anh & huyết đằng
Hoàng Nga — yêu dấu
Tâm Thanh — hóa thạch
Tràm Cà Mau — hơi ấm đồng hương
Trần Mộng Tú — người đàn bà mới
Trang Châu — một quãng xuân thì
Ngô Nguyên Dũng — chuyện trong rừng trầm thủy (tiếp theo kỳ trước)
Mạc Hoài — bờ xa
Phạm Hải Anh — lạc
† Mloanhoasử — mơ mãi
Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn (truyện dịch đăng nhiều kỳ)
Thế Quân — tin văn
Thạch Hãn — giới thiệu sách mới
Lữ Kiều — tranh bìa
205 Báo Văn Học — Số 205 (5-2003)

Huỳnh Hữu Ủy — đọc thơ tuệ sỹ
Hoàng Quốc Bảo — đêm sâu tuệ sỹ
Thu Tứ — hia bảy dặm
Sử Mặc — tôi yêu tôi yêu...
Trần Văn Nam — ...sự gắn bó hình thức & nội dung
Thụy Khuê — đọc PTLMĐ của thơ thơ
Nguyễn Khánh Hòa — biết còn gặp lại tình chăng?
Đỗ Quang Nghĩa — hà nội
† Alexandre Lê — trao đổi với lê hữu mục về chinh phụ ngâm
Hoàng Xuân Sơn — hát thức
Trịnh Công Sơn — con số trên tờ lịch
Võ Đình — sáng - chiều
Trang Châu — mùi hương xưa
Ngụ Thuyết — những ngày cuối tháng tư
Hoài Mỹ — và sau cùng
Hoàng Nga — cõi sương mù
† Mloanhoasử — cút bắt
Song Thao — chốn cũ
Nguyễn Thanh Châu — thơ nguyễn thanh châu
Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn, truyện dài (tiếp theo)
Thế Quân — tin văn
206 Báo Văn Học — Số 206 (6-2003)

Trần Hữu Thục — tính hiện thực trong ca từ của phạm duy
Ngô Nguyên Dũng — phân ưu muộn
Nguyễn Ngọc Bích — hồ xuân hương: những văn bản thơ nôm được công bố từ 1968
Vũ Hoàng Thư — mưa tháng 5 nhớ quê cũ
Đoàn Nhã Văn — trần diệu hằng và những chuyến đi không ngừng nghỉ
Xuyên Trà — lời dặn dò khi mới cưới
Tràm Cà Mau — ăn và sống
Lê Cần Sơn — bởi em là cây trúc xinh
Trúc Chi — gió trong hương trà
Trần Thị Diệu Tâm — bóng cha
Nguyệt Thư — trăng
Hoàng Nga — nụ cười thái thú
Phạm Hải Anh — tri âm
Hoài Ziang Duy — như là như thế sao
Trần Trị Chi — chuyện kể từ thành phố
Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn, truyện dài (tiếp theo)
† Thường Quán — thay orbituary văn xuân an
Thế Quân — tin văn
207 Báo Văn Học — Số 207 (7-2003)

Trần Văn Tích — hồ sơ bệnh lý nguyễn du
Sương Mai — câu ca dao cũ
Phan Cự Đệ — tiểu thuyết phiêu lưu và tiểu thuyết tâm lý
Trúc Chi — dăm điều nghĩ về thơ tô thùy yên
Thu Tứ — nấu phở, làm thơ...
Nhị Thanh — khéo lo
Hoàng Nga — đoản văn
Hoàng Xuân Sơn — đứng lại
Trịnh Y Thư — cuộc chiến của anh tôi
Nguyệt Thư — ngâu
Trần Trị Chi — thầy giáo và học trò
Tràm Cà Mau — ngộ đạo đất trời
Hoàng Phố — hãy thức, bạn hiền
Phạm Hải Anh — phục trước tĩnh đàn
Lý Thừa Nghiệp — thơ lý thừa nghiệp
Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn, truyện dài (tiếp theo và hết)
Thế Quân — tin văn
208-209 Báo Văn Học — Số 208-209 (8&9-2003)

Đỗ Long Vân — thanh quan, ám ảnh hoàng hôn
Đỗ Long Vân — bản đồ địa ngục theo chế lan viên
Đỗ Long Vân — kỹ thuật tả chân trong số đỏ
Đỗ Long Vân — thơ trong cõi người ta
Đỗ Long Vân — những đồ bằng chất giẻo
Đỗ Long Vân — khuôn mặt hay tâm sự tiểu tư sản trong thanh tâm tuyền
Trần Văn Tích — chứng mất ngủ của nguyễn du
Ngụ Thuyết — viếng mộ nguyễn du
Trần Văn Nam — bố cục tập trung qua thơ n.đ. sơn
Ngô Nguyên Dũng — địa cầu, những hoang mang...
Nguyên Hương N.C. — nhân đọc nguyễn bá triệu...
Mai Kim Ngọc — hà lan du ký xe đạp
Hồ Đình Nghiêm — mất đất
Hoàng Ngọc Tuấn — đừng đến sân ga
Ấu Tím — đoạn cuối tình yêu
Khánh Hà — vườn hạ
Võ Đình — tìm cháu
Xuyên Trà — mùa thu và em, mộng thu
Lâm Chương — những đoản văn rời
Hoàng Xuân Sơn — thập thành
Khánh Hà — chỉ cần
Trần Trị Chi — con ăn nữa nhé
Nam Dao — sân đền (kịch)
Hoàng Xuân Sơn — hạ tuyển
Thế Quân — tin văn
210 Báo Văn Học — Số 210 (10-2003)

Nguyễn Hữu Liêm — cái tật văn chương tào lao
Phạm Thị Hoài — thứ hai tuần sau của văn chương
Trần Thiện Hiệp — thăm lại rừng mây
Thu Tứ — người việt trung dung
Hoàng Phố — đường tên
Thụy Khuê — hậu hiện đại
Hồ Minh Dũng — xa
Lê Minh Hà — tiếng xưa
Xuyên Trà — già hữu
Hoàng Chính — khoảnh khắc trăm năm
Phạm Hải Anh — người tình mắt hiếng
Đoàn Nhật — không đề
Trang Châu — người đàn ông của chúng ta
Nguyễn Hoài Phương — rừng chiều
Tràm Cà Mau — giọt hạnh phúc trong đáy ly
Mai Kim Ngọc — hà lan du ký xe đạp
Hoàng Bích Đào — ngậm ngùi kỷ niệm
Dương Tường — nhận định về nguyễn viện
Nguyễn Mộng Giác — nhận định về "rồng & rắn"
Nguyễn Viện — cửa địa ngục
Thế Quân — tin văn
Thường Quán — thơ shakespeare tìm được ở thư viện huntington USA
211 Báo Văn Học — Số 211 (11-2003)

Trần Hữu Thục — nobel văn chương 2003: j.m. coetzee
Mai Kim Ngọc — giải nobel văn học 2003
J.M. Coetzee (Mai Kim Ngọc dịch) — ô nhục
Nguyễn Xuân Thiệp — những bài thơ của mùa hè qua
Nguyễn Hưng Quốc — tính đại chúng: kẻ thù của văn chương
Xuyên Trà — mượn
Tạ Chí Đại Trường — thêm chút tiền cho toàn thư
Khánh Hà — khi em không còn
Trần Văn Nam — thơ tạo dấu ấn riêng, dù là ngôn ngữ qui ước hay tân kỳ
Ngô Nguyên Dũng — thời tiết
Trần Thị Laihồng — miếng ngon quê hương
Cổ Ngư — mùa thu và giấc mơ trăng
Tràm Cà Mau — bầu bí một giàn
Ngũ An — ở huế
Ấu Tím — nỗi lòng
Sâm Thương — một tác phẩm nghệ thuật
Ngụ Thuyết — mùa thu và cây
Nguyễn Viện — cửa địa ngục
Lý Thừa Nghiệp — thơ lý thừa nghiệp
Thế Quân — tin văn
† Văn Học — giới thiệu sách mới
212-213 Báo Văn Học — Số 212-213 (12/03&1/04)
Tết Giáp Thân

Võ Phiến — người ơi người ở dài dài
Nguyệt Thư — vẫn tràn mùa xuân
Tạ Quốc Tuấn — xuân với người bị hạ phóng
Lữ Quỳnh — mùa đông, những ngày bình yên
Nguyễn Ngọc Bích — ảnh hưởng tam giáo trên tinh thần người việt
Lý Thừa Nghiệp — ta còn một nỗi đam mê
Thu Tứ — có thần và thần
Trần Mộng Tú — cuối năm
Nguyễn Hưng Quốc — việc dạy tiếng việt như một ngôn-ngữ-một-rưỡi
Xuyên Trà — nỗi mình, vô lượng
Trần Văn Nam — thơ tình phổ quát và thơ tình hải ngoại
Nguyễn T. S. Thanh — thi thể, nỗi buồn không thôi
Tạ Chí Đại Trường — chuyện sử chàm trong toàn thư
Mai Kim Ngọc — cảm nghĩ về việc phát hiện thành thăng long cổ
Lê Nguyên Tịnh — năm mươi chiếc bóng hư vô
Ngô Nguyên Dũng — chỗ m. ngồi
Lê Minh Hà — tết này nhớ tết
Thường Quán — ba cảnh trí ở đà nẵng
Ấu Tím — hờ hững xuân phai
Nguyễn Việt Thường — vườn xưa, giấc ngủ của mẹ
Hoàng Chính — mùa giáng sinh xưa
Nguyễn Hoài Phương — duyên dáng việt nam
Nguyễn Cảnh Nguyên — hồi ức khó phai
Võ Đình — thư từ: đời và hồn
Hoàng Xuân Sơn — collage h.đ.n., tatoo
Trang Châu — nhìn đàng sau
Hàn Song Tường — chiếc bóng
Song Thao — lẽ ra
Đạm Thạch — ngày xuân em
Hà Nguyên Du — xuân & những mảnh cảm xúc
Điệp Mỹ Linh — chút tình để lại
Nguyễn Thanh Châu — chớp mắt. và đêm mở ướt
Hoàng Bích Đào — bóng ngã bên đời
Tràm Cà Mau — ngày tháng thần tiên
Nam Dao — tuyệt tình (trích tiểu thuyết)
Thế Quân — tin văn
Thụy Vũ — trình bày bìa
214-215 Báo Văn Học — Số 214-215 (2/04&3/04)
Truyện cực ngắn

Nguyễn Hưng Quốc — vài ý ngắn, thật ngắn về truyện cực ngắn
Võ Phiến — vài ý nghĩ về truyện thật ngắn
Trần Mộng Tú — tuổi mới
Pamelyn Casto — truyện chớp: từ thật ngắn đến cực ngắn
Julio Cortázar — về truyện ngắn và cực ngắn
Hà Nguyên Dũng — đời thêm một cuộc chia tay ngậm ngùi
Tạ Quốc Tuấn — truyện cực ngắn trung quốc
Mloanhoasử — hoa hởi là hoa, duyên
Tiền Vệ (giới thiệu) — † TUYỂN TẬP TRUYỆN CỰC NGẮN QUỐC TẾ — nhiều tác giả (Thanh Sương, Thân Nhiên, Alexander Solzhenitsyn, Nhật Tuấn, M. Stenley Dubien, Marco Denevi, Yasmina Reza, Isabelle Sojfer, Franz Kafka, Raymond Federman/George Chambers, Julio Cortázar, Pamela Gray, Carolyn Forché, Sharon Wahl, Nguyễn Phan Thịnh, Carlo Edmundo de Ory, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Patricia Harrington, Ngọc Bảo An, Hoàng Đan, William Carlos Williams, Anton Chekhov, David Rachel, Phước An, Rafael Perez Estrada, Hoàng Ngọc Tuấn, J.B. Mulligan, Luis Jorges Borges, Italo Calvino, G.S. Evans, Đinh Linh, Hương Yến, Trần Tất Đạt, Kelly Simon, Trần Tiến Cao Đăng, Jererome Stern, Nguyễn Như Núi, Võ Đình, Molly Giles) — TOC không ghi trang riêng cho từng tác giả trong mục này
Thu Tứ — thế thiên hành đạo
Trần Văn Tích — về một số chú thích trong "thơ chữ hán nguyễn du"
Trần Văn Nam — ba lối hội nhập đất mới trong thơ hải ngoại
Lữ Quỳnh — người bên kia núi
Lê Hữu — ảo giác trịnh công sơn
Hoàng Lộc — lạc địa
Hoàng Nga — độc ẩm, thánh
Hoàng Chính — tiệc cưới ở phương đông
Hà Nguyên Du — kịch xuân
Trúc Chi — mùa thu đỏ lửa
Hồ Đình Nghiêm — mùa hè không trở lại
Nguyễn Hữu Thụy — thơ tặng bạn
Thế Quân — tin văn
216 Báo Văn Học — Số 216 (4-2004)

Ngụ Thuyết — trịnh công sơn và những phố xa
Nguyệt Thư — bên kia núi
Nguyễn Hưng Quốc — chuyện học văn và dạy văn
Trần Văn Tích — long thành cầm giả ca
Ngô Nguyên Dũng — nhân vật
Tạ Chí Đại Trường — tây tiến
Hoàng Xuân Sơn — vũ điệu
Trần Doãn Nho — james joyce, ulysses và thách đố mới
Hoàng Xuân Sơn — dọc lương thư trung
Võ Đình — trắng đen
Xuyên Trà — một ngày, quê ngoại
Tâm Thanh — câu chuyện hay nhất thế giới
Trúc Chi — bên bờ giếng
Bùi Quang Diễm Thu — sợi tóc, sợi tình
Trang Châu — người khách đặc biệt
Nguyễn Ý Thuần — mưa auschwizt
Ấu Tím — yêu người ngoại đạo
Thế Quân — tin văn
217 Báo Văn Học — Số 217 (5-2004)

Thu Tứ — mềm như nước
Phươngmỹhoa — thiện căn
Vĩnh Đào — andré malraux & việt nam
Khoa Hữu — ải bắc
Khoa Hữu — ba cái chết một nỗi buồn
Nguyễn Văn Trung — milan kundera
Hoàng Nga — nữ văn sĩ
Đức Phổ — đêm qua anh mơ thấy biển
Hồ Đình Nghiêm — thương tích
Ngô Nguyên Dũng — vẫn chưa quên những trang cổ tích
Tạ Chí Đại Trường — sao các anh thù dai thế?
Trúc Chi — gió bụi
Tràm Cà Mau — còn những tấm lòng
Ấu Tím — mái tóc
Huỳnh Liễu Ngạn — một lần thôi một lần
Ngô Nguyên Dũng — loan
Nguyễn Ý Thuần — người ôm trái núi
Nguyễn Hòa Trước — mưa đêm áo bỏ
Thế Quân — tin văn
218 Báo Văn Học — Số 218 (6-2004)

Nguyễn Hưng Quốc — thế hệ tiền-lý thuyết
Phạm Tăng — viết cho như phong
Trần Văn Tích — trúc chi từ
Xuyên Trà — giấc lạ, vệt nắng, đoạn kết
Tạ Quốc-Tuấn — tân trào thi: động lực chính thức của văn học hiện đại Trung quốc
Phan Thị Trọng Tuyến — những giọt sương hoa
Nguyệt Thư — biển mưa
Thụy Khuê — đọc con nữ của đỗ quỳnh dao
Đức Phổ — dâu bể trăm chiều vẫn cố hương
Nguyễn Ý Thuần — apollo/david
Hoàng Xuân Sơn — suy tôn
Phạm Hải Anh — anh đào bên biển
Ngô Nguyên Dũng — từ chối
Tràm Cà Mau — vẽ đường chỉ tay
Lê Minh Hà — gió tự thời khuất mặt
Mai Kim Ngọc — tâm sự một khóa học (kỳ thứ nhất)
219 Báo Văn Học — Số 219 (7-2004)

Nguyễn Hưng Quốc — những nhà phê bình mù
Sương Mai — chỉ là...
Lê Hữu — phạm duy, tôi còn yêu tôi cứ yêu
Tạ Chí Đại Trường — một thoáng nhìn về sử học việt nam quốc nội
Trần Văn Tích — hý trường tùy bút của đào tấn
Lữ Quỳnh — đêm ngày
Tràm Cà Mau — bạn cũ năm mươi năm
Hoàng Xuân Sơn — cũ
Nguyễn Viện — kẻ vắng mặt
Lê Cần Sơn — là hoa trong cõi tục thiền
Thế Quân — tin văn
Mai Kim Ngọc — tâm sự một khóa học (tiếp theo kỳ trước)
220 Báo Văn Học — Số 220 (8-2004)

Tạ Chí Đại Trường — một thoáng nhìn về sử học việt nam quốc nội (2)
Huỳnh Liễu Ngạn — vân lâu
Thu Tứ — của thần, của người
Nguyễn Huệ Chi — văn tâm như tôi nghĩ
Nguyễn Hữu Thụy — dáng tiếc
Trần Văn Tích — về bản kiều lâm nhu phu
Lữ Quỳnh — giấc mơ 1
Mai Kim Ngọc — về một tiếng chuông
Hoàng Bích Đào — âm vang
Nam Dao — tình phụ (kịch)
M. Loanhoasử — mười ba năm
Sâm Thương — chuyến tàu nửa đêm
Tràm Cà Mau — đứa con dâu
Ấu Tím — tạ tình
Nguyệt Thư — gọi nhầm số
Nguyễn Cảnh Nguyên — kiếp phù du
Nguyễn Hòa Trước — nguồn
Thế Quân — tin văn
221 Báo Văn Học — Số 221 (9-2004)

Trần Thị Laihồng — tiếc văn chương thương chữ nghĩa
Tạ-Quốc-Tuấn — tiểu thi trung-quốc
Lê Lô — về một nền văn hóa quá lâu
Vi Ký — nghệ thuật dưới mắt nhìn của ý thức
Huỳnh Ngọc Chiến — du thần chi: thảm kịch khúc phượng cầu lạc điệu
Ngu Yên — đi tìm thơ hay
Phạm Hải Anh — nếu không mất ngủ?
Hoàng Nga — quê nhà
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Trịnh Y Thư — khi gió santa ana lên tiếng
Nam Dao — đất thổ
Hoàng Xuân Sơn — gọi là
Hoàng Xuân Sơn — chữ tình
Nguyễn Quang Vinh — người và dã thú
Sâm Thương — hồ sơ của một phiên tòa
Huỳnh Liễu Ngạn — bến sông bãi nọ
Đỗ Hoàng Diệu — những người mang đôi mắt buồn
M.Loanhoasử — qua sông
Nguyễn-Hòa-Trước — xuân ca
Cổ Ngư — bay
Tưởng Năng Tiến — phùng quán, tố hữu và nguyễn khoa điềm
Nguyệt-Thư — bầy nến sinh nhật
Võ Đình — thăm người chết
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — đom đóm
Mai Ninh — sao rơi về đất
Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn trần vũ
Nguyễn Vy-Khanh — luân hoán nơi cõi người ngơ ngác
Trương Vũ — vài suy nghĩ về "mây chó"
Hoàng Mai Đạt — làm nghề này phải gian
Thế Quân — tin văn
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới
222 Báo Văn Học — Số 222 (11,12-2004)

Trần Văn Tích — thơ và phú giao châu
Hoàng Chính — thạch cao buồn
Vi Ký — nam cao như là...
Nguyễn Thị Từ Huy — jean valjean: cái tên...
† MDTT — nụ
† MDTT — xuân thì
Nguyễn Huy Thiệp — cánh buồm nâu thuở ấy
Phạm Hải Anh — nói riêng
Nguyễn Việt Thường — ơn anh
Nguyễn Trung Tây — ngũ đổ tường
Lý Thừa Nghiệp — trăng tan
Sâm Thương — máu chảy về tim
Trần Thị Hà Thân — tạ ơn
Phan Triều Hải — gió qua cửa hẹp
† Nguyễn Nam An — buổi tối
† Nguyễn Nam An — bài sinh nhật gửi bạn xa
Văn Cầm Hải — người chị miền đông đức
Đặng Hiền — biển, bên này trí nhớ
Đặng Hiền — đợi
Trang Châu — những người ngủ muộn
Xuyên Trà — lục bát chiều
Ấu Tím — bướm vàng đậu ngọn mù u
Trịnh Y Thư — đồi hồng
Nguyễn-Hòa-Trước — ngày sống thứ một trăm
Hoàng Xuân Sơn — thổ nhưỡng
Hoàng Xuân Sơn — nếu. đọc một câu chuyện
Nguyễn Hoài Phương — những bài học về một...
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — cậu ếch cứu tokyo
Hồ Công Tâm — trả hết cho nhau
Đức Phổ — một ngày...
Lưu Hy Lạc — ngó sen
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
† K'Tien — sổ tay thượng dân
Trịnh Thanh Thủy — giải nobel văn chương 2004
Thế Quân — tin văn
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới
223 Báo Văn Học — Số 223 (1,2-2005)
Xuân Ất Dậu

Tạ Quốc Tuấn — văn học phụ nữ trung quốc...
Bạch Cư Dị — trường hận ca
Quỳnh Dao — nỗi hận khôn nguôi
Cao Nguyên — vào xuân
Hoàng Nga — bao la như biển thái bình
Lý Thừa Nghiệp — hừng đông
Hoàng Chính — một mình đón giao thừa
Trần Thị Hà Thân — chờ nhau
Khê Kinh-Kha — có lẽ
Hồ Đình Nghiêm — niềm riêng
Nguyễn Nam An — đêm nghe mưa thức giấc
Ngô Nguyên Dũng — điệu trầm xuân
Văn Cầm Hải — hoa thủy tiên trong đêm 30 tết
Nguyễn Ý Thuần — áng mây miền núi
† Nnguong — buồn, con mắt huế
Lê Quỳnh Mai — gã đấu bò thành málaga
Trần Hữu Hoàng — vẫn là viễn mộng
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — các con của thượng đế đều...
MDTT — khoảng trống của lục bát
Hoài Ziang Duy — lạy trời mưa xuống
Thụy Khuê — thoạt kỳ thủy trong vùng đất...
Lưu Hy Lạc — ngụ ngôn rodin
Lương Thư Trung — "lục bát hoàng xuân sơn"...
Hoàng Xuân Sơn — thèm nắng -- vân tiên. hồi cuối
Phươngmỹhoa — xanh/hồng
Trịnh Thanh Thủy — siêu tiểu thuyết thời hậu hiện đại
Luân Hoán — ngũ ngôn lh
Thu Tứ — lụt trăng mưa sao
Nguyễn Huy Thiệp — trò chuyện với hoa thủy tiên...
Trần Mạnh Hảo — có thật đa số các nhà văn việt nam...
Ngọc Anh — khi nhà văn cười nhà thơ
Thích Thiện Ngân — mổ nhà văn
Hà Nguyên Thạch — xuân đợi
Hoàng Ngọc Hiến — vài lời về bài talawas phỏng vấn...
Hoàng Ngọc Hiến — cái nước mình nó thế!
† Bùi Văn Phú — về bài phỏng vấn (chưa đăng)
Trần Mạnh Hảo — khi ông hoàng ngọc hiến...
Bích Châu — nhân đọc "cái nước mình nó thế"
Phan Nhật Nam — về những tiếng, lời chân thật...
Đinh Từ Thức — đọc nếu đi hết biển, chuyện đi, về
Quốc Việt — đọc "nếu đi hết biển"
Bùi Văn Phú — văn học có thể làm nhịp cầu...?
Vũ Ánh — đọc "nếu đi hết biển"
Đỗ Thái Nhiên — bên ni biển
Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới
224 Báo Văn Học — Số 224 (3,4-2005)

Trần Văn Tích — nhân tái ngộ trường hận ca
Tạ Quốc Tuấn — đêm trừ tịch chờ xe
Quỳnh Thi — sứ mạng của nhà văn
Lê Minh Hà — phùng cung, đời người, đời chữ
Đặng Hiền — khoảng đen tự do
Phùng Cung — mộ phách
Trần Thị Hà Thân — nhớ nhiều
Ấu Tím — mất hút xuân thì
Lý Thừa Nghiệp — tạc tượng -- khu vườn châu thổ
Đỗ Hoàng Diệu — linh thiêng
Nguyễn Thị Hoàng Bắc — chị em
Nguyễn Nguyên Phước — tâm trạng khi điên
Lưu Chiêu Thư — nuối thời gian
Lưu Chiêu Thư — trong ngục tù ta
Nguyễn Hòa Trước — theo mây mà về
Trà Đóa — cảm nhận
Nguyễn Cảnh Nguyên — chuyện chép...
MDTT — mây mưa
Nam Chi — chuyện nhà mình, một chút...
Ngô Nguyên Dũng — phân vân thời xô giạt
Nguyễn Danh Bằng — phòng lạ
Song Thao — rong chơi
Cổ Ngư — tôi đã yêu, như chết là hạnh phúc
Cổ Ngư — chân dung đêm
Nguyễn Vĩnh Long — dấu chân hạnh phúc
Hoàng Long — trường văn hóa trong tác phẩm...
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — chuyện trong nhà
Phước An — ở nơi có màu đỏ
Nguyễn Trung Tây — hai đám tang...
† Nnguong — bỏ cuộc, thơ
Phạm Kim Liên — yêu say đắm
Trần Hoài Văn — vợ ngoại
Thượng Văn — don quixote 400 tuổi
Nguyên Vũ — tường trình từ việt nam
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới
225 Báo Văn Học — Số 225 (5,6-2005)

Nguyễn Vy Khanh — nhìn lại 30 năm văn học hải ngoại
Phùng Cung — tổ quốc -- gãi đất -- bạo hổi
Lê Lô — quốc gia ba đình, và hà nội
Tô Thùy Yên — bãi nước rút
Nguyễn Ngọc Tân — những tấm ảnh vĩ đại của thế kỷ
Hoàng Xuân Sơn — collage trịnh y thư / đồi hồng -- gia tài
Hoàng Nga — kẻ không chiến tuyến
Nguyễn Hòa Trước — thoại ca mùa
Nam Dao — VN, con người từ những bóng ma
Ngô Nguyên Dũng — khúc giao hưởng cuối ngày
Nhân Như — giọt lệ cho ngàn sau
Nguyễn Nam An — trong lòng -- qua sông
Lê Minh Hà — chữ nặng
† Nnguong — buồn thiu manh chiếu...
Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn nhà văn phan nhật nam
Hoàng Lộc — thơ tình viết ở hội an
Vũ Ngự Chiêu — sự thực sử học
Trần Thị Minh Nguyệt — trăng nóng
Trần Anh Tuấn — vài nhận xét về báo xuân...
Trần Thị Hà Thân — anh nhớ -- anh xa -- anh đi -- anh
Nguyễn Ý Thuần — chiến / lễ
Như Thương — pha màu
Hoài Ziang Duy — chết thuở quên cười
Xuyên Trà — lãng mạn
Trần Mộng Tú — hội cơm chỉ
Khê Kinh Kha — xin cám ơn cuộc đời
Mặc Bích — chuyến xe ngày thứ năm
MDTT — khoảng trống lục bát
Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân
Lý Thừa Nghiệp — nhánh rong -- rừng tràm
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới
226 Báo Văn Học — Số 226 (7,8-2005)

Ngọc Anh — thiếu đọc – dấu chỉ người việt...
Khoa Hữu — ải bắc
Trần Nhã Nguyên — ba mươi năm văn học hải ngoại
Phùng Cung — nuối tiếc - giọt lụy - lá chiêm bao
Nguyễn Hưng Quốc — ba chức năng chính của phê bình
Chân Phương — thơ hoa kỳ và tân hình thức
Lý Thừa Nghiệp — phía sau là mộng
Vũ Thùy Hạnh — một
Tạ Quốc Tuấn — các đề tài trong tiểu thuyết...
Nguyễn Việt Thường — lạnh... nóng... nơi đây
Tạ Chí Đại Trường — vấn đề tác giả và thời điểm
Trần Văn Tích — về bài thích an nam sự thi
Trần Thị Minh Nguyệt — tầng cao đêm murphy
Lêquỳnhmai — madame butterfly
Hoàng Xuân Sơn — đoản, đăm
Nguyễn Hoài Phương — sự đời hay mấy chuyện vớ vẩn
Lưu Chiêu Thư — tử sinh
Lê Lô — mùa thơm
Nguyễn Vĩnh Long — hạt muối chưa tan
Ngô Nguyên Dũng — mật thoại
Nguyễn Hòa Trước — mưa, mà sao vẫn
Như Thương — chuyện người điên
Hoàng Nga — duổi rong
Trần Nghi Hoàng — nhật ký của thời gian
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — chị em sinh đôi...
† Đỗ Quang Nghĩa — *
Ấu Tím — sang hè
Xuyên Trà — hồi xuân
Cổ Ngư — ngày bình thường
Đỗ Quyên — chuyện những người làm thơ
Nguyễn Nam An — của thuở gọi là m.
Triều Hoa Đại — với phan ni tấn
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Khê Kinh Kha — đêm mưa
Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân
MDTT — khoảng trống lục bát
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới
227 Báo Văn Học — Số 227 (9&10-2005)

T. Vấn — lời tình buồn gởi new orleans
Nguyễn Quốc Chánh — tao là đứa bé ngoẹo trên lưng linda lê
Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx
Phan Xuân Sinh — mừng bạn qua thăm
Tạ Chí Đại Trường — triều đình, đất nước lê trịnh...
Nguyễn Hoàng Văn — ngôn ngữ, văn học và chính trị
Trần Mộng Tú — em, thược dược và trăng
Nguyễn Huệ Chi — trao đổi cùng nguyễn văn hoàn
Như Thương — ôm đàn
Cổ Ngư — thơ tình cho hà nội
Quỳnh Thi — trả lời nhà thơ chân phương
Phùng Quán — người bạn lính cùng một tiểu đội
Khê Kinh Kha — ngập ngừng
Nam Dao — cánh bướm đen
Pablo Neruda (Đỗ Lê Anh Đào dịch) — saddest poem
Vũ Lê Phương Trinh — nhị hổ ở phố khâm thiên
Ngô Tự Lập — gã trốn lính
Phan Nhật Nam — nhân ngày 20 tháng bảy
Kinh Dương Vương — lão hạ
Nguyễn-Hòa-Trước — hư ngôn
Hoàng Nga — hoàng hậu
Trần Nghi Hoàng — thắp nén hương buổi chiều khô rượu
Nguyễn Danh Bằng — động cát
Nguyễn Hoài Phương — đoạn kết
Đặng Lê Nữ — tơ vương - trở giấc
Hồ Minh Dũng — câu nam ai thất lạc
Sử Mặc — tháo lụy
Lê Đại Lãng — trở lại hồng kông
Hoàng Lộc — tháng ba
Ch'oe Yun (Nguyễn Khánh Long dịch) — chất thơ của niềm khát khao
Lý Thừa Nghiệp — bên vườn nghe chim hót - góc trời
Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy
Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân
† Nnguong — vũng tàu, mùa thu
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
† Mdtt — khoảng trống lục bát
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới
228 Báo Văn Học — Số 228 (11&12-2005)

Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx
Tạ Quốc Tuấn — tản văn hiện đại trung quốc
Đặng Lê Nữ — tơ vương
Nguyễn Hưng Quốc — văn bản và liên văn bản
Đặng Hiền — cánh đồng mùa thu
Bùi Vĩnh Phúc — tô thùy yên: thơ, như một vinh dự
Trần Thị Hà Thân — tạ ơn người xin đừng chờ!
Ngọc Anh — những bàn tay phù thủy
Hoài Ziang Duy — đêm bến sông xưa
Nguyễn Huệ Chi — một vài gợi ý về phương pháp...
Nguyễn Nam An — tháng chín ngược về
Trần Văn Nam — những thời kỳ văn học miền nam
Như Thương — tràn ánh trăng
Hoàng Chính — nino và tôi
Hoàng Xuân Sơn — chuyến đi
Nguyễn Hoài Phương — anh thủ
Trịnh Thanh Thủy — sản phẩm thông minh
Kinh Dương Vương — bàn chân
Thường Quán — lưỡi câu
Nguyễn Tường Thiết — bà cẩm lợi
Neruda (Trần Mộng Tú dịch) — ca tụng tình yêu bí mật
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — thông báo kangaroo
Trần Thụ Ân — buổi sáng nào sót lại
Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy
Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân
† Mdtt — khoảng trống lục bát
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật
229 Báo Văn Học — Số 229 (1&2-2006)

Tạ Quốc Tuấn — chúc tết trong thi văn trung quốc
Khê Kinh Kha — như mây lạc đường
Vũ Quốc Thúc — gió đưa cành trúc la đà
Viên Dung — hái lộc
Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx
Trần Văn Tích — cổ duệ từ
Lại Nguyên Ân — tập thơ "tinh huyết" của bích khê
Nguyễn Huệ Chi — so sánh kim vân kiều truyện
Nguyệt Thư — về quê thăm mạ
Trần Mộng Tú — chó nhà và chó rừng
Hoàng Xuân Sơn — hát thể
Phan Xuân Sinh — quay nhìn lại một đoạn đời
Nguyễn Hoài Phương — công viên
Triều Hoa Đại — vàng hiên
Lâm Chương — mùi bùn non
Ngô Nguyên Dũng — cuối cùng, không còn lại
Như Thương — tràn ánh trăng
Ngọc Anh — đôi giày
† T. Hương Chu Kim Hải — bài thơ tám câu
Nguyễn Nam An — những ngày với dũng
Hoài Mỹ — hình như từ độ ấy...
Murakami Haruki — vườn cỏ buổi chiều cuối cùng
Kinh Dương Vương — thác với tình
Isaac Bashevis Singer — elka và meir
Trần Tự — hát nữa biển ơi!
† Phan Nhật Nam — ba cuốn sách,
Hoàng Thị Quỳnh Nga — bay lên bàn tay ơi!
Thiên Đức — nhật ký đặng thùy trâm
Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Hoàng Mai Đạt — mùa xuân theo mây thời gian
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách
230 Báo Văn Học — Số 230 (3&4-2006)

Trần Văn Tích — bài từ nhớ bạn
Hoàng Xuân Sơn — về trong chiều xưa
Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx
Phan Nhật Nam — tháng 11,...
Đào Đức Chương — tổ chức giáo dục thời hán học
Nguyễn Hoàng Văn — hướng đến một văn hóa phát triển
Ngô Tịnh Yên — đầu hàng - ngựa quên đường cũ
Nam Dao — gấu chợ
Trần Mộng Tú — cali sương và mây
Hoàng Nga — ở nơi đó
Lê Quỳnh Mai — căn phòng không mái ngói
Ngọc Anh — lãnh cảm
Nguyễn Nam An — chiều tà
Bùi Ngọc Khôi — cái thùng sách
Ngự Thuyết — qua phá
Võ Hoàng — tiếc gì một chút hương xuân muộn
Eric Viet — kẻ lạ trong tôi
Đỗ Lê Anh Đào — tình cờ gặp fidel castro
Nguyễn Việt Hà — hồn của bướm
Lý Thừa Nghiệp — qua sông
Trần Hoài Văn — chuyện nhỏ trên thành cổ
Lê Lô — quảng trị, khe sanh, chiến sĩ vô danh
Triều Hoa Đại — chiều phai. ngồi đợi em
Nguyễn Dũng Tiến — những người nữ mặc áo dòng
Nguyễn Hoài Phương — cà phê một mình
Tàn Tuyết (Lưu Hồng Sơn dịch) — đảo rắn
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — toni-takitani
Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Hoàng Mai Đạt — thứ tư về mỗi tuần
Lê Quỳnh Mai — tin sinh hoạt văn học
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách
231 Báo Văn Học — Số 231 (5&6-2006)

Thụy Khuê — thanh tâm tuyền (1936-2006)
Thanh Tâm Tuyền — dọc đường
Võ Phiến — thanh tâm tuyền
Thanh Tâm Tuyền — dạ khúc - bài ngợi ca tình yêu...
Nguyễn Vy Khanh — thơ thanh tâm tuyền -- nhân vật tiểu thuyết thanh tâm tuyền
Võ Kỳ Điền — thanh tâm tuyền, tỉnh bình dương
Lưu Diệu Vân — tuyết sài gòn
Tạ Quốc Tuấn — một bài trường hận ca mới
Nam Dao — bắt gió
Miên Du Đàlạt — em việt nam... mảnh dư đồ rách!
Song Thao — cay đắng
† Nnguong — thực tế
Hoàng Nga — giả tỷ - điên - tình yêu mật ngọt
Cao Thanh Phương Nghi — chuyện thời thơ ấu
Nguyễn Nam An — sáng nghe hoàng oanh...
Trần Thị Diệu Tâm — người tài xế da đen
Quỳnh Thi — sông đồng nai chảy khúc biên hòa
Trần Mộng Tú — con số vô tình
Phạm Ngũ Yên — thư viết từ đường heatherglen
Trần Hồng Linh — nước dấm đang sôi
Nguyễn Hòa Trước — thăm người một nửa-tôi
Ngọc Anh — "cánh đồng bất tận"...
Đoàn Nhã Văn — con gái của sông hương
Yukio Mishima (Nguyễn Vạn Lý dịch) — lòng ái quốc
Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — bi kịch mỏ than new york
Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy
Đàn Bách Kiếm — mỹ nhân sơ đầu ca
Hoàng Mai Đạt — đạp xe với thanh tâm tuyền
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách
232 Báo Văn Học — Số 232 (7&8-2006)

Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx
Lại Nguyên Ân — liệu có thể xem phan khôi
Phạm Xuân Hy — anh vũ, nam việt điểu
Nguyễn Nam An — gặp ở houston, hỏi nhau
Ban Mai — thân phận con người và tình yêu...
Lê Quỳnh Mai — gởi những ngày mất biệt
Trần Văn Nam — mùa thu mênh mông...
Hoàng Xuân Sơn — đường về
Nguyễn Tường Thiết — làm sáng tỏ một sự kiện văn học
Thế Giang — thơ đường luật -- hoài cảm
Đào Đức Chương — võ học bình định
Ngô Nguyên Dũng — bài tường trình buổi sáng
Hồ Đình Nam — trên trang giấy trắng...
Lý Thừa Nghiệp — về núi -- hí vang rừng núi cũ
Hoàng Ngọc Thư — người họa sĩ
Hoàng Ngọc Thư — giác quan
Nguyễn Dũng Tiến — bên kia đồi cao
Lưu Hy Lạc — cà phê, buổi chiều nhớ thi sĩ
Song Thao — trong vùng quên lãng
† Nnguong — nhân chứng
Bùi Ngọc Khôi — chân cầu vồng
Nguyễn Hoài Phương — tháng ngày vô nghĩa
Khê Kinh Kha — tự do
Trần Mộng Tú — quán trà thinh lặng
Đặng Hiền — cảm ơn
Dương Tiến Đình — ngược dòng ký ức
Tô Định — đỗ hoàng diệu và xã hội bóng đè
Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy
Đàn Bách Kiếm — les bijoux - lục lạc
Hoàng Mai Đạt — trái tim bukowski
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách
233 Báo Văn Học — Số 233 (9&10-2006)

Nguyễn Hưng Quốc — lưu vong như một phạm trù mỹ học
Ngu Lễ — không đề
Tạ Quốc Tuấn — lạc phu: thi sĩ siêu hiện thực đài loan
Võ Phiến — nguyễn mộng giác
Thụy Khuê — mùa biển động của nguyễn mộng giác
Nhật Tiến — nhớ lại một thời chữ nghĩa
Lưu Hy Lạc — lục bát, trời ơi
Lê Minh Hà — chân dung nhà văn
Trần Hữu Thục — nhân vật nguyễn huệ
Hoàng Khởi Phong — ngựa "mài" chân bon
Nguyễn Chí Kham — một niềm tin
Hoàng Xuân Sơn — một chữ thàng
Nam Dao — hình như, có điều gì...
Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn nguyễn mộng giác
Lê Quỳnh Mai — gởi placentia
Nguyễn Nam An — sáng trời mưa sáng ở factory coffee
Nguyễn Mộng Giác — sông côn mùa lũ - xuôi dòng...
Võ Phiến — chà láng
Hoàng Ngọc Thư — chiếc gương kỳ diệu
Hn Nguyễn Tấn Ích — chị tôi
Hoài Ziang Duy — lạ một chỗ ngồi
Trần Mộng Tú — kịch bản
Kawabata Yasunari — những truyện ngắn trong lòng bàn tay
Khê Kinh Kha — tự do
Quỳnh Thi — lần về thăm quê
Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách
234 Báo Văn Học — Số 234 (11&12-2006)
Số đặc biệt về Võ Phiến

Phạm Xuân Hy — nào ai mặc mặt...
Đào Đức Chương — giọng bình định
Nguyệt Thư — thị giả
Nguyễn Ngọc Bích — về lô-gích của phép đọc chữ nôm
Tuệ Tâm — lá đổ về dặm ngược thu phong
Trần Văn Tích — văn vần trong tiểu thuyết
Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn võ phiến
Võ Phiến — người nghĩa
Đặng Tiến — thần thơ võ phiến -- võ phiến điệu nhạc thầm và...
Khê Kinh Kha — thu đã về - để lại
Nguyễn Hưng Quốc — nhà tùy bút võ phiến
Lưu Hy Lạc — ở trưa
Bùi Vĩnh Phúc — nghĩ về võ phiến và...
Hoàng Khởi Phong — trong cõi riêng buồn thấy lại ta
Luân Hoán — võ phiến, cuối cùng tôi được gặp
Lê Quỳnh Mai — võ phiến, và meggie ở baltimore
Nguyễn Tường Thiết — mưa đêm cuối năm
Đỗ Kh. — hạnh phúc đường niger
Nguyễn Thị Thanh Bình — độc tố
Hoàng Ngọc Thư — người nhặt tro
Lý Thừa Nghiệp — về biển - tặng em, này nụ tầm xuân
Bùi Ngọc Khôi — carlos
Phan Minh Khánh — tóc ngày xuân trước
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi
Hoàng Mai Đạt — tìm ở sao trời
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học
Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách
235 Báo Văn Học — Số 235 (1&2-2008)

Tạ Quốc Tuấn — nỗi oán sầu ngày xuân
Đào Đức Chương — hội thơ không hẹn mà gặp
Viên Dung — giữa bến mười hai - ra giêng
Trần Văn Tích — bí mật của thổ cầu
Hoàng Chính — đêm
Trần Văn Tích — mạc mặt
Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx
Khê Kinh Kha — xuân lại về
Ban Mai — giáo sĩ đắc lộ trong thế giới huyền ảo
Lưu Hy Lạc — bài gửi rừng
Nguyễn Vy Khanh — hoàng xuân sơn và nỗi thơ đồng cảm
Trần Kinh Bắc — ông nguyên ngọc cần trung thực
Nhật Tiến — phong trào nhân văn giai phẩm
Hoàng Khởi Phong — nhân văn "người và việc"
Trần Tri Vũ — trập trùng oan nghiệt
Phan Ngọc Thùy — vài ý kiến nhân vụ hai ông "trùm"
Khúc Minh — cây xương rồng
Lê Quỳnh Mai — bờ ảo giác
Nguyễn Tường Thiết — thảm sương trên sông skooguamish
Đặng Phú Phong — tuyết tan
Hoàng Ngọc Thư — vỡ
Nguyễn Xuân Tường Vy — mưa phố cũ
Cao Hoàng — sao chiều
Võ Công Liêm — trăng hạ huyền
Cao Xuân Huy — hành phương nam
Đỗ Kh. — một dòng sông
Lý Thừa Nghiệp — khúc độc cầm - một trăm hành giả
Bùi Ngọc Khôi — ảo
Nguyễn Nam An — huỳnh thạch
Trần Đức Tiến — biến hình
Thu Hương — lúc xế chiều
Trần Hồng Linh — một chuyến viếng thăm
Cao Thanh Phương Nghi — tết ơi mơ một chỗ về
Thành Văn — con bé lọ lem
Nguyễn Hợi — bác mai
Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi - biệt hữu nhân
Hoàng Mai Đạt — tạp ghi - tìm ở sao trời
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật thế giới
236 Báo Văn Học — Số 236 (3&4-2008)

Trần Văn Tích — từ nhân việt nam
Tạ Quốc Tuấn — tiểu thuyết trung quốc...
Đào Đức Chương — vấn đề ghi chú và thư tịch...
Trần Văn Nam — lời nói của thi gia ở biên bờ hữu thể
Phạm Công Thiện — thơ
Nguyễn Vy Khanh — văn học miền nam tự do 1954-1975
Lương Thư Trung — thơ nguyễn hải thệ, nỗi buồn lặng lẽ...
Ban Mai — lynh bacardi và truyện "hậu sản"...
Võ Đình — chạm văn học nghệ thuật
Vũ Tiến Lập — ảo hóa
Lê Quỳnh Mai — bóng và bức tường gỗ đỏ
Nguyễn Lập Đông — huyền du - sương
Hoàng Nga — tưởng niệm một nhân vật
Lữ — viên sói dị dạng
† Nnguong — soi hồn ta một chút úa lòng
Song Thao — hoa - xuân
Khê Kinh Kha — huế của tôi
Nguyễn Tường Thiết — gặp hemingway nơi quán rượu
Lê Giang Trần — dọn mình
Nguyễn Hoài Phương — ngày của dì lisa
Cao Xuân Huy — trả lại tiền
Hoàng Vũ Thuật — bài thơ ban mai
Đặng Thơ Thơ — đi tìm bản kinh thánh cuối
Viên Dung — ở một nơi mà nhớ em
Thành Văn — con heo khắc phục
Nguyễn Nam An — huỳnh thạch
Cao Thanh Phương Nghi — giấc mơ
Hoài Ziang Duy — dường như hiu hắt bay
Trần Hồng Linh — hứa với dấu yêu
Algernon C. Swinburne (Tô Thẩm Huy dịch) — lần tăm về tối
Graham Swift (Hoàng Chính dịch) — đứa con trai
Võ Công Liêm — hành
Đoàn Thế Ngữ — mười năm không gặp...
† Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi - tiết phụ ngâm
Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật

No comments: