Tác giả: Claude Sonnet 5, dưới sự dẫn dắt và chỉnh sửa của Học Trò. Để xem các tạp chí đã số hóa, mời bạn đọc vào trang https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/TapChiVanHoc.php.
Bạn cũng có thể tới ngay báo nếu ấn vào số ấy, nằm ngay sau bộ "Cũ", "Mới", hoặc số báo.Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ)
| Xem Online | Nội Dung Số Báo |
|---|---|
| 1 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 1 (4-1978) Phạm Duy — nhạc Việt trên đất Mỹ Võ Phiến — đọc thơ Cao Tần Mặc Đỗ — kế hoạch chống đàn bà (truyện) Lê Tất Điều — nắng biển (truyện) Phạm Tăng — một chuyến đi (thơ) Thợ Vườn — bữa tiệc linh đình (thơ vui) Nguyễn Nhất Thanh Tâm — nụ cười buổi chiều -- bây giờ đã mất (thơ) Hoàng Dung — chàng Từ Thức Phú Yên (truyện) Pearl Buck — ba người con gái bà Lương (truyện dài rút ngắn) Lê Tất Điều (Bùi Tố Loan dịch) — the 492nd day of the cease-fire (truyện) † (không tên) — xem phim "Close Encounters of the 3rd Kind" † (không tên) — văn nghệ khắp nơi |
| 2 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 2 (5-1978) Kim Định — triết Việt trên đất Mỹ Mặc Đỗ — làm văn học nghệ thuật trong hoàn cảnh tị nạn Võ Phiến — cuối mắt đầu mày Trúc Chi — màu áo cũ Võ Đình — chiếc vòng Xuân Hiến — nô tiên sinh Xuân Hiến & Trúc Chi & Lê Xuân Giao — thơ Trần Kiến Hòa — Kontinent, tờ báo của trí thức Nga tị nạn Thư Trung — một ông cụ trẻ Alberto Moravia — khinh bỉ Linh Bảo — the noble man † (không tên) — sách Việt ngữ ở hải ngoại † (không tên) — văn nghệ khắp nơi |
| 3 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 3 (6-1978) Nghiêm Xuân Hồng — người Việt trên đất Mỹ Võ Phiến — nụ cười Á đông Phan Lạc Tiếp — người đàn bà xa lạ Hoàng Dung — hũ gạo Đồng Tâm Đăng Khoa — tình khúc buồn † Xuân Hiến & Trúc Chi & TN-V2 — thơ Hoàng Minh Kính — tân triết học Ba-Lê Ilya Ehrenbourg — con hẻm Mạc-tư-khoa Võ Phiến — the neighbor across the garden Lâm Chi — sách Việt ngữ hải ngoại Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi |
| 4 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 4 (7-1978) Mặc Đỗ — văn nghệ Việt Nam ở hải ngoại Trúc Chi — ven trời một lứa Lê Tất Điều — viện dưỡng lão Hoàng Dung — bạn bè dăm bảy đứa Nguyễn Thị Ngọc Liên — và nắng có phai Ngh. L. & Huy Lực & Xuân Hiến — thơ X.X. — Xuân Diệu, Huy Cận đến Đà Lạt † (không tên) — di chúc của những người tù yêu nước Constant-Virgil Gheorghiu — kẻ ra đi một mình Thạch Tâm & Nguyễn Phúc — văn nghệ khắp nơi † Nguyễn Văn Mộch — (phụ bản) tranh |
| 5 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 5 (8-1978) Võ Đình — hội họa Việt Nam ở hải ngoại Trúc Chi — chiếc vòng ngọc Đăng Khoa — cơn mê Nguyễn Xuân Quang — tô Đặng Ty & Ngọc Đức — thơ Ngô Trung — thư viện lớn nhất hoàn cầu André Maurois — bóng hồng tháng chín Hà Xuân — sách Việt hải ngoại Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi Võ Đình — (phụ bản) tranh |
| 6 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 6 (9-1978) Mai Thảo — văn nghệ Việt Nam trong và ngoài nước Nghiêm Xuân Hồng — triết lý nhận thức và nhân sinh của cộng đồng tha hương Việt Lôi Tam — chuyện viết cho con trai Huy Lực — khóc cha (thơ) Đặng Hải Âu — companion Ngô Đức Diễm — triền dốc (thơ) Vô Danh — một chút hương sen Nguyễn Thị Ngọc Liên — vì một ngày mưa bắt đầu Trần Thế Du — tôi đi Liên Xô Milan Kundera — vũ điệu tù ly Nam Chi — sách Việt hải ngoại Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi Lâm Triết — (phụ bản) tranh |
| 7 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 7 (10-1978) Võ Phiến — cái gốc Mặc Đỗ (dịch) — con người Nga trong khuôn đúc cộng sản Đăng Khoa — tiếng chim giữa trời Cao Tiêu — lưu lạc Nguyễn Thị Mưa Sa — nhớ người Võ Đình — xứ sấm sét Ngh. L. — cũng vì em Trần Thế Du — một ngày tại Kiev Xuân Hiến — khung trời tháng tư Yukio Mishima — ầm ầm tiếng sóng Ngọc Liên — cách mạng Pháp đi về đâu Thu Dung — du học sinh Việt Nam thế kỷ thứ XVIII Phạm Kim Vinh — tàn sát văn hóa và tự sát văn hóa Phan Lạc Tiếp — những nốt đàn kỳ diệu của Lưu Danh Bình Nam Chi — sách Việt ở hải ngoại Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi Nguyễn Văn Mộch — (phụ bản) tranh |
| 8 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 8 (Giáng Sinh-1978) Nguyễn Đình Hòa — bút, văn, tiền và liêm sỉ Bùi Vĩnh Phúc — kỷ niệm như một bông hoa huệ trong ngày Giáng Sinh Lôi Tam — lan Trúc Chi — chập chờn Cao Tần — mùa đông Hoàng Tiểu Bồ — bài thơ trong bình bát Nguyễn Thị Ngọc Liên — bến này đất nước Lê Ngọc Hồ — thu Tuệ Nga — bước sầu Ngh. L. — nhớ về con sông Thị Nại Phan Tùng Nguyên — buổi học tập Thụy Thùy Châu — lại một nỗi buồn Vĩnh Liêm — tình cờ Yên Vũ — những con sóc nhỏ của tôi Trần Thế Du — bên kia bức tường ô nhục Doãn Quốc Sỹ — the rat Thạch Tâm & Liên Hải — văn nghệ khắp nơi |
| 9 † | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 9 † (Xuân Kỷ Mùi-1979) Xuân Kỷ Mùi Lâm Chi — tình hình sách báo Việt ngữ năm qua Nguyễn Đăng Diệm — văn hào Isaac Singer (không tên) — một bài thơ xuân bảy trăm năm trước (không tên) — những câu thơ cuối cùng của Vũ Hoàng Chương Ảnh Nguyễn Tán — (phụ bản) người đẹp bên nét bút đẹp Linh Bảo — văn nghệ trốn đâu rồi Xuân Hiến — thơ chúc xuân Xuân Hiến — thiệp xuân Nguyên Vũ — ngày sinh nhật thứ ba mươi tám † (không tên) — tình hình tị nạn đến cuối năm 1978 Hoàng Dung — từ lúc đưa em về Huy Lực — xóm nghèo Hà Mai Kim — dang dở Thạch Tâm — các tác phẩm hay nhất trong năm 1978 Võ Phiến — tân niên tâm sự Trần Thế Du — Roma-ni for you for dollars Henrich Böll — làm con của người quá cố Phan Lạc Tiếp — một buổi với nhà văn Mai Thảo Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi |
| 10 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 10 (1979) Võ Phiến — người Mỹ cô đơn Trần Phong Vũ — một buổi sáng buồn Trúc Chi — dịch - Hải sao Đăng Khoa — ngày mù sương Phạm Tăng — cùng một nước cờ Phạm Tăng — nửa đêm Cao Thiên Lương — loài chim trốn lạnh Cao Tiêu — thả Cao Nhật Quang — góp gom kỷ niệm Ngô Đức Diễm — ru thai Nguyễn Văn Mộch — một vài thú chơi ngày Tết qua tranh dân gian Xuân Hiến — xẩm xoan di tản B.s. Nguyễn Xuân Quang — ngứa, buồn hay vui Thu Dung — những thành đạt về học vấn Phan Lạc Tiếp — sách Việt hải ngoại Thạch Tâm — văn nghệ khắp nơi Trần Thế Du — từ Lỗ sang Bảo Cao Tần & N.N.B. — thơ Cao Tần Nam Chi — chiến tranh Hoa Việt Lê Văn Khoa — (phụ bản) bến nước Trần Chí Trung — (phụ bản) đóng khung |
| 11 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 11 (1979) Ngũ Đại Hồ — một thủ đoạn văn hóa Nguyễn Thị Ngọc Liên — một chút xanh loang trời Phạm Tăng — tình quê Hồ Trường An — say chiều nắng hạ Nghi — tiêu dao Vĩnh Liêm — gã tị nạn Ng. Đ. L. — ảo ảnh Xuân Hiến — khóc một người điên Trúc Chi — vườn cũ Võ Đình — g. Ngọc Đức — dấu chân cát bụi Nam Cao — cái chết của con Mực Huyền Quang — xuân nhật tức cảnh Ngô Trung — triết học và đời sống ở Mỹ Hà Xuân — sách Việt hải ngoại Thạch Tâm & Tống Quân — văn nghệ khắp nơi Hồ Bạch Vân — tình hình đây đó Võ Đình — (phụ bản) tranh (trang 53, 63) |
| 12 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 12 (1979) Võ Đình — trường hợp Kuniyoshi Nguyễn Phương — kẻ không chịu làm bù nhìn Nguyễn Vũ — ngày rời Eau Claire Tịnh Cơ — tưởng như Lê Ngọc Hồ — trùng dương nỗi nhớ Lê Thị Huệ — cánh hoa trước gió Nguyễn Lương — tu hú trên rừng sim Nguyễn Qui Nhơn — ngày ta thành mây Đăng Khoa — ảo mơ Huy Lực — tà áo Việt Nam Văn Chương — chữ nôm Trần Bích Tiên — nói với em lớp sáu Hoàng Vũ Đ.V. — sách Việt hải ngoại Thạch Tâm & Tống Quân — thời sự văn hóa Hồ Bạch Vân — thời sự chính trị |
| 13 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ) — Số 13 (1979) Hoàng Minh Kính — triết lý và thời cuộc Lôi Tam — là biết xa ngăn trùng Hoàng Ngọc Ẩn — xóm nghèo Trúc Chi — phục vấn Thi Vũ — ngậm ngùi Nguyễn Thị Ngọc Liên — bây giờ tháng mấy † Cao Tiêu — nhập Võ Đình Tuyết — đêm ta nằm mộng Lê Phục An — gia đình Lê Thị Huệ — nhà trọ Đào Nguyên — nắng vàng quê hương Nguyễn Qui Nhơn — mai ta xuống núi Xuân Hiến — tình thơ giao cảm L. Trần — bài mưa cho mấy Hạ Nguyễn Diễm — văn học dân gian truyền khẩu † Võ Phiến — ế ị Nguyễn Bính — bài hành phương Nam Nguyễn Mộng Giác — tuổi thơ u ẩn † Võ Phiến (Võ Đình dịch) — ế ị (bản Anh ngữ) Thạch Tâm — thời sự văn hóa Ngọc Dũng — (phụ bản) tranh |
Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới)
| Xem Online | Nội Dung Số Báo |
|---|---|
| 1 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 1 (5-1985) Võ Phiến — nền văn học giữa hai cuộc di cư Nguyễn Mộng Giác — sự phản kháng của văn nghệ sĩ VN dưới chế độ cộng sản Bùi Vĩnh Phúc — kinh cầu nguyện cho nhà văn lưu vong Kiều Phong — bôi bẩn dân tộc Nhật Tiến — chân dung người nữ diễn viên Võ Đình — cũng thư gửi bạn Trần Diệu Hằng — trong gương Hoàng Dung — bà Tám Tồn Vô Ngã — người thời xưa, người hôm nay Nguyễn Bá Trạc — thung lũng nở hoa quince Phạm Quốc Bảo — đường về gian nan Hà Tiểu Thạch — một chốn xinh tươi Trúc Chi — thơ Trúc Chi Mai Thảo — tĩnh tọa † Chu Vương Miện — góc Yên Đổ, cuối 67 Thái Tú Hạp — phương xa, về thiếu thất Nguyễn Mạnh Trinh — thơ lục bát Phạm Cao Dương — hai tài liệu mới về Tôn Thọ Tường Hồ Dzếnh — thủ bút thi sĩ (không tên) — điểm sách Việt Nam (không tên) — thời sự văn học nghệ thuật quốc tế Võ Đình — (phụ bản) hai bức tranh |
| 2 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 2 (6-1985) Đặc biệt về Hội họa Nguyễn Quỳnh — nhận định về hội họa V.H.N.T. — phỏng vấn họa sĩ Thái Tuấn V.H.N.T. — phỏng vấn họa sĩ Nguyên Khai Nguyễn Văn Bảy — tiếng Việt, văn Việt Bùi Vĩnh Phúc — tân biểu hiện: trường phái của những người phản kháng Minh Đức Hoài Trinh — nghiệp Phan Thị Trọng Tuyến — mùa đông vô tận Trần Diệu Hằng — mưa đất lạ Nguyễn Bá Trạc — hoa dủ dẻ Nguyễn Giạ Viên — chút ân huệ Thạch Hãn — đọc "No more Vietnams" Nguyễn Văn — thời sự văn học nghệ thuật Hồ Đắc Ngọc — thi họa Hồ Đắc Ngọc Nguyễn Tất Nhiên — tự do Lê Mỹ Hương — nghĩ thầm Đoàn Thêm — xưa và nay Bắc Phong — muốn thở phải chặt gông Huỳnh Liễu Ngạn — tiếng khoan tiếng nhặt ngậm ngùi tiếng em Hồ Trường An — đề tranh Tứ Mỹ Ngọc Dũng — (phụ bản) tranh Ngọc Dũng Nguyễn Văn Ngà — (phụ bản) gặt lúa (trang bìa) Nguyễn Khai — (phụ bản) giọt sương Nguyễn Khai — (phụ bản) thiếu nữ |
| 3 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 3 (7-1985) Số đặc biệt về Nhất Linh Võ Phiến — Nhất Linh hậu chiến V.H.N.T. — phỏng vấn nhà văn Linh Bảo Nguyễn Tường Thiết — Nhất Linh, cha tôi Võ Phiến — Nhất Linh, siêu hình Phạm Duy — đi tìm một nhạc ngữ mới Nhất Linh — đời làm báo Nhất Linh — đời thi sĩ Nhất Linh — ký trình Nhất Linh — thư gửi Linh Bảo Nhất Linh & Diệu Viên — giấy giao kèo xuất bản Nguyễn Đình Thẩm — chân tình Hoàng Xuân Sơn — đời mấy thuở yên vui? Phạm Công Thiện — triều ngưỡng xa xưa Nguyễn Tất Nhiên — rào nhân bản Trúc Chi — thơ Trúc Chi Luân Hoán — thơ cho vợ Mịch La Phong — một giòng chia hai Hà Tiểu Thạch — thơ Hà Tiểu Thạch Phan Lạc Tiếp — mắt lưới Lafcadio Hearn — Mimi-Nashi-Hoichi Võ Ngã — đêm Linh Thành Phan Thị Trọng Tuyến — xóm nhỏ buổi trưa Quyên Di — hoa hồng nhà kín V.H.N.T. — điểm sách Nguyễn Văn — thời sự V.H.N.T. |
| 4 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 4 (8-1985) Lê Hữu Mục — Nhất Linh và tôi Phạm Duy — thời kỳ thành lập: những thử thách và thành quả đầu tiên Tưởng Năng Tiến — đọc truyện Nước Xuống Phạm Văn Kỳ Thanh — hành trình vào âm nhạc Việt Nhất Linh — con cá vàng Kiệt Tấn — em điên xõa tóc Lê Mỹ Hương — lỡ lầm Nguyễn Văn Sâm — nói với khoảng không Nguyễn Thị Ngọc Nhung — yêu một người Hoàng Xuân Sơn — bỗng dưng một ngày Hồ Công Tâm — sống trong cõi chết Đoàn Thêm — ra đi - đến nơi - lạc đường Ngu Yên — thơ Ngu Yên Thanh Nhung — tiêu hao Nguyễn Mai Thạch — trường hận Hoàng Xuân Sơn — điều ghi nhận ở một nơi đến Như Chi — an phận Trịnh Y Thư — thảo vấn (không tên) — vườn thơ văn cũ: thơ Tô Thùy Yên Nguyễn Đình Hòa — tự điển hay tự điển? Nguyễn Văn — thời sự văn học nghệ thuật V.H.N.T. — điểm sách, sách mới nhận được |
| 5 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 5 (9-1985) Số đặc biệt về Âm nhạc Cung Tiến — chất liệu và kỹ thuật tạo thanh mới trong âm nhạc Tây phương hiện đại Bùi Vĩnh Phúc — nhạc Rock 'n' Roll bên kia bức màn sắt Phạm Duy — thời kỳ thành lập xu hướng nhạc tình Nguyễn Ngọc Bích — hai năm qua, nhạc Việt có gì mới Phạm Văn Kỳ Thanh — hành trình vào âm nhạc Việt Võ Phiến — nghĩ về Nguyễn Mạnh Côn Nguyễn Bá Trạc — việc mới Phan Thị Trọng Tuyến — tình Thiên Thu Ludmila Shtern — đường Dostoevsky Nguyễn Mạnh Côn — bút mực mơ màng Đinh Tuấn — thơ Đinh Tuấn Nghiêm Xuân Hồng — hình hài vô lượng Đỗ Quý Toàn — ở xa mừng đám cưới Lộc Chu Định Nguyên — trăng xưa Hà Thúc Sinh — tứ tuyệt Phan Cung Nghiệp — buồn ơi vẫn buồn Bùi Vĩnh Phúc — cỏ bồng và trái tim lưu vong Nguyễn Văn — thời sự V.H.N.T. Ngô Đình Sở — điểm sách Phạm Duy — (phụ bản) thủ bút: vài lời về tổ khúc "Bầy Chim Bỏ Xứ" Cung Tiến — (phụ bản) nhạc bản: chiều cuối năm qua xóm nghèo |
| 6 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 6 (10-1985) Võ Phiến — chúng ta đọc có ít chăng? Cung Tiến — chất liệu và kỹ thuật tạo thanh mới (bài kỳ hai) Nguyễn Bá Trạc — văn chương và chối bỏ Phạm Duy — Dương Thiệu Tước. Nhóm Myosotis Hà Nội Vũ Huy Quang — giới thiệu Go Rin No Sho (Kỳ thư Ngũ Đại) Đào Trung Đạo — chủ thể văn chương Mai Thảo — nghe đất Hồ Trường An — trường hợp của Nhượng Võ Đình — Paris có gì lạ đâu em? Kiệt Tấn — chú tiểu bìm bịp Hoàng Liên — ánh sáng và bóng tối Lê Tâm — nhìn một mắt Đoàn Thêm — vầng trăng xứ lạnh Đào Trường Phúc — chiều nắng vàng phương xa Đào Trường Phúc — mưa trên quê hương tôi Nguyễn Thị Hoàng Bắc — đôi ngả Ngu Yên — chiều nhậu chả giò ở Houston Vi Khuê — đọc thơ Ngu Yên Định Tuấn — nhập cuộc tử sinh Định Nguyên — cho nhau V H N T — thời sự văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Sở — sách mới nhận, điểm sách Nguyễn Đình Hòa — hai kiệt tác VN dịch sang tiếng Nhật |
| 7 | Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Mới) — Số 7 (11-1985) Số đặc biệt: Ngôn ngữ học Nhật Tiến — một suy nghĩ của người cầm bút lưu vong Nguyễn Ngọc Bích — ngôn ngữ học Việt Nam đang đi về đâu? Nguyễn Đình Hòa — kiểm điểm những công trình nghiên cứu chữ nôm Huỳnh Hữu Cửu — nhận xét về vài trường hợp chính tả Phạm Văn Kỳ Thanh — hành trình vào âm nhạc Việt Hồ Trường An — trên dải tâm hồi Hoàng Liên — ánh sáng và bóng tối (2) Nguyễn Thị Hoàng Bắc — mặt trận dài Nguyễn Phước Nguyên — mảnh vườn Võ Phiến — thác đổ sau nhà Định Nguyên — tháng 10 Cali, bốn mùa ta Luân Hoán — một mình uống rượu, ngày qua ngày Trần Khải Đường — đọc Bão Nổi Nguyễn Văn — thời sự văn học nghệ thuật Văn Nghệ — tâm thư của nhà xuất bản |
Báo Văn Học
| Xem Online | Nội Dung Số Báo |
|---|---|
| 1 | Báo Văn Học — Số 1 (2-1986) ĐẶC BIỆT VỀ THI CA BÙI VĨNH PHÚC — Đi vào cõi thơ ĐỖ QUÍ TOÀN — Nói chuyện thơ NGUYỄN BÁ TRẠC — Tình hoang mang gợi tứ hoang mang QUYÊN DI — Thiên nga phi mình và và cô nhạn xuất quần † BÙI VĨNH PHÚC — Thơ, hình như trái tim VÕ ĐÌNH — Trường hợp ông Kim ĐỊNH NGUYÊN — Trăm năm chợt nhớ... NGUYỄN MAI THẠCH — Cùng chung chiến tuyến... HOÀNG XUÂN SƠN — Mùa đông ... LUÂN HOÁN — Hạnh phúc ta VÔ NGÃ — Tiểu muội lớn rồi... NGUYỄN ĐỨC LẬP — Ngựa Đông phương... THÁI TÚ HẠP — Cảm khái Đường thi CHU VƯƠNG MIỆN — Tương lai... LÊ THỊ HIỀN — Mời ... THANH NHUNG — Lên đường CUNG VŨ — Giang hồ vặt NGU YÊN — Đi về đâu hỡi kẻ mù NGUYỄN BAN SƠ — Ngủ say từ độ mây bay HUỲNH LIỄU NGẠN — Viễn mộng NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN — Phương tây... LÊ GIANG TRẦN — Dù em như sao khuất KIỆT TẤN — Đoãn khúc cho hình say rượu NGUYỄN TẤT NHIÊN — Cũng cần cho hạnh phúc NHẬT TIẾN — Cánh cửa HOÀNG LIÊN — Ánh sáng và bóng tối (kỳ 4) |
| 2 | Báo Văn Học — Số 2 (3-1986) NHỮNG CÂY BÚT NỮ HẢI NGOẠI NGUYỄN MỘNG GIÁC — Nghĩ về một số nhà văn nữ hải ngoại hiện nay NGUYỄN ĐÌNH HOÀ — Sự diễn biến của chữ nôm PHẠM DUY — Thời kỳ thành lập xu hướng nhạc tình: Lê Thương BÙI VĨNH PHÚC — Đọc Lớp Sóng Phế Hưng TRẦN DIỆU HẰNG — Bữa Tiệc PHAN THỊ TRỌNG TUYẾN — Đêm Trăng VI KHUÊ — Ngựa hồng trên đồi cỏ NGUYỄN THỊ HOÀNG BẮC — Trên triền dốc NGUYỄN THỊ NGỌC NHUNG — Lỗi thời gian PHẠM THỊ NGỌC — Trên con đường tìm về nhà NGUYỄN THỊ NGỌC LAN — Ngày xót xa đưa ĐỊNH NGUYÊN — Thủy Mạc (lục bát) VŨ THÙY HẠNH — Cỏ Mùa Đông, Thủy Mạc VÕ ĐÌNH — Chuông đồng ba tiếng gióng thênh thang TRẦM HƯƠNG — Trái yêu thương NGUYỄN NGỌC THUẬN — Nhà đâu ta về (truyền kỳ) HOÀNG LIÊN — Ánh sáng và bóng tối (5) NGUYỄN VĂN — Thời sự văn học nghệ thuật |
| 3 | Báo Văn Học — Số 3 (4-1986) SỐ ĐẶC BIỆT VỀ TIỂU THUYẾT BÌNH NGUYÊN LỘC — Vài ý nghĩ về truyện ngắn STEPHEN O. LESSER & THẠCH HÃN — Văn học Trung quốc sau Mao Trạch Đông KIÊM ĐẠT — Tiểu thuyết Mỹ hiện đại PHẠM DUY — Thời kỳ thành lập xu hướng nhạc tình: Đặng Thế Phong PHẠM VĂN HẢI — Chữ viết của người Việt trước thời bị Tàu đô hộ VÕ PHIẾN — Rụp rụp (tùy bút) NHẬT TIẾN — Một buổi diễn kịch VÕ ĐÌNH — Lô cấu HỒ TRƯỜNG AN — Tạp chủng NGUYỄN ĐỨC LẬP — Cũng còn cơ hội NGUYỄN THANH QUANG — Guitar NGUYỄN TẤT NHIÊN — Trời đất yêu thương ĐỊNH NGUYÊN — Ngày tháng Hạ VÔ NGÃ — Qua muôn ngàn ức kiếp BÙI VĨNH PHÚC — Ba mươi ba tuổi LÊ THỊ HIỀN — Kính lễ TRẦM HƯƠNG — Dấu mộng tiền thân NGUYỄN VĂN — Thời sự văn học HÀ QUÂN — Điểm sách Đáy Địa Ngục (điểm sách) |
| 4 | Báo Văn Học — Số 4 (5-1986) KỶ NIỆM 11 NĂM QUỐC HẬN Brancusi — Chim không gian (tượng) Tạ Tỵ — Biết đến bao giờ (tùy bút) Hoàng Xuân Sơn — Tay trái (thơ) Thái Tuấn — Tranh Xuân Vũ & Văn Học — Thực trạng giới nhà văn cộng sản Miền Bắc trước 1975 Ngọc Dũng — Tranh Bùi Bảo Trúc — Xa nhà đọc thơ Hạ Tri Chương (thơ) Stephen O. Lesser & Thạch Hãn — Văn học Trung quốc sau Mao Trạch Đông Định Nguyên — Ru người tháng Tư (thơ) Kiệt Tấn — Một người rất bận (tùy bút) Nguyễn văn Sâm — Ngày tháng bồng bềnh (truyện ngắn) Võ Đình — Tranh Đỗ Quí Toàn — Tiếng nói thơ Nguyên Khai — Tranh Như Chi — Sinh nhật yêu thương (thơ) Phan Ni Tấn — Hôn Lễ (thơ) Bình Nguyên Lộc — Với cái giá phải chết (truyện ngắn) Nguyễn Ban Sơ — Cuối cùng chỉ toàn là mây bay (thơ) Nguyễn thị Ngọc Lan — Một chút hạnh phúc nhỏ (truyện ngắn) Hạ Quốc Huy — Từ nước mắt em xa (thơ) Phạm Duy — Xu hướng nhạc hùng Thái Tú Hạp — Những chặng đường quê hương (thơ) Trần văn Tích — Vài nét về Nguyễn Hiến Lê sau 1975 Vũ Huy Quang — Bèo nước (truyện ngắn) Nguyễn Phước Nguyên — Trận chiến (truyện ngắn) Lê Diệp Cẩm — Cây hoa giấy và trái xoài (tùy bút) Phan Cung Nghiệp — Xuân về nào có hay (thơ) Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Nguyễn Xuân Hoàng — Giới thiệu Tháng Ba Gãy Súng (điểm sách) Nguyễn Bá Trạc — Thư gửi bạn từ San Jose Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật |
| 5 | Báo Văn Học — Số 5 (6-1986) TƯỞNG NIỆM THANH NAM Cung Vũ — Tống tửu thi Di ảnh Thanh Nam † Túy Hồng — Đến khi mất tiếng nói Nguyễn Mạnh Trinh — Riêng một cõi tôi Bình Nguyên Lộc — Vài kinh nghiệm viết lách với Thanh Nam Nguyễn Mai Thạch — Sáng tạo (thơ) Mai Thảo — Lần thăm cuối cùng Võ Phiến — Một trang thư về Hai mươi năm viết văn làm báo Trần thị Lai Hồng — Hồn xưa tiếng xưa Nguyễn Mộng Giác — Đất Khách: Khúc ngâm trên đất tạm dung Thanh Nam — Thơ Thanh Nam Thanh Nam — Tháng Tư Phú Quốc và thơ Cao Tần Phạm Quang Ngọc — Gửi bạn; Hai dòng sông (thơ) Tôn Thất Tuệ — Gói măng khô (truyện ngắn) Bắc Phong — Chỉ vì nhục (thơ) Phạm Duy — Thanh niên lịch sử ca Thế Giang — Cay đắng nở hoa (truyện ngắn) Ngu Yên — Nếu mai anh chết lời này là di chúc (thơ) Kiệt Tấn — Giờ tay ngoặc nguyệt (truyện ngắn) Trầm Hương — Bài thơ của Mai Vân Yên — Người con gái Việt Nam da vàng (truyện ngắn) Trầm Hương — Lệ trắng (thơ) Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Nguyễn văn Sâm — Về Bình Minh Câm của Nguyễn Đức Bạt Ngàn (điểm sách) Nguyễn Mộng Giác — Thư từ Quận Cam Nguyễn Văn — Thời sự văn nghệ Nguyễn Đình Hoà — Lục Vân Tiên dịch ra tiếng Nhật bản |
| 6 | Báo Văn Học — Số 6 (7-1986) TÂM CẢNH LƯU VONG Magazine littéraire — Tâm trạng các nhà văn lưu vong Nga Nguyễn Bá Trạc — Chị Quỳnh thân mến: Ông Võ Phiến, tháng ngày ở Mỹ và tôi Đặng Phùng Quân — Đưa người đi (thơ) Nguyễn Đình Hoà — Kiểm điểm những công trình nghiên cứu chữ nôm Định Nguyên — Chỗ tạm (truyện ngắn) Nguyễn Tất Nhiên — Trời đất yêu thương (thơ) Nguyễn Đăng Diệm — Thanh Nam và Đất Khách Huỳnh Liễu Ngạn — Một cuộc tình sớm mai (thơ) Như Chi — Thơ đêm (thơ) Phạm Duy — Hoàng Quý và Đồng Vọng Vũ Quỳnh Hương — Trăng ở Halfmoon Bay (thơ) Nguyễn Xuân Hoàng — Bạn bè ở Sài gòn năm 1973 (truyện) Bùi Bảo Trúc — Tình khúc mới (thơ) Hồ Trường An — Bèo bọt (truyện ngắn) Luân Hoán — Giặt áo quần cho vợ (thơ) Nguyễn Trần Việt — Đọc Đời viết văn của tôi Nguyễn Mai Thạch — Chiều hoàng cung, Mộng và Thực (thơ) Bùi Quang Triết — Mạng tù (truyện) Trịnh Gia Mỹ — Cõi riêng (truyện) Nguyễn thị Hoàng Bắc — Nương dâu (truyện) Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Nguyễn Hữu Nghĩa — Sinh hoạt văn nghệ tại Canada |
| 7 | Báo Văn Học — Số 7 (8-1986) Võ Phiến — Thi ca Miền Nam từ 1954 đến 1975 Nguyễn Hiến Lê — Kết quả sau 5 năm Định Nguyên — Như là mây trắng (thơ) Lỗ Tấn - Vụ Bản — Con diều giấy (truyện) Luân Hoán — Khiêng nước (thơ) Phạm Duy — Thời kỳ thành lập xu hướng nhạc hùng Đào Trường Phúc — Dạ Khúc (thơ) Hồ Trường An — Hai khuôn mặt (truyện) Lê thị Hiền — Bãi cát vàng mộ ta, Thắc Mắc (thơ) Phạm văn Hải — Hạnh (truyện) Vũ Quỳnh Hương — Thư gửi người yêu cũ (thơ) Lê Diệp Cẩm — Thằng Cuội (tùy bút) Hàn Song Tường — Trong cơn lốc vỡ (thơ) Hồ Đình Nghiêm — Ảo mộng (truyện) Ngu Yên — Nhất định không khóc. Những dư thừa nào bất hạnh (thơ) Bùi Vĩnh Phúc — Cho đi lại từ đầu (tùy bút) Nguyễn thị Bạch Yến — Hai người đàn bà không quê hương (truyện) Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Ngọc Hân — Vào cõi Hồng trần với thơ Cung Vũ (điểm sách) Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật |
| 8-9 | Báo Văn Học — Số 8-9 (10-1986) Văn Học — Nhà văn Vũ khắc Khoan đã từ trần Tạ chí Đại Trường — Một trú sở Việt của Thần linh Nghiêm Xuân Hồng — Bội tâm hành (thơ) Bình Nguyên Lộc — Tìm hiểu truyện Kiều Định Nguyên — Đợi em ta đợi đến bao giờ? (thơ) Mai Kim Ngọc — Vợ chồng (truyện ngắn) Nguyễn Huy Chương — Thơ Phạm Quốc Bảo — Ngã rẽ (truyện ngắn) Đặng Phùng Quân — Sinh nhật (thơ) Cung Tiến — Hoà âm và âm nhạc Tây phương thế kỷ thứ 20 Minh Khánh — Thuyền (thơ) Nguyễn Đức Bạt Ngàn — Thơ Vũ Quỳnh Hương — Miền vĩnh phúc (truyện) Nguyễn Bá Trạc — Bản nháp vài trang tiểu thuyết của một người di cư nhức đầu vừa phải (tùy bút) Thế Giang — Chỗ nước đọng (truyện) Tôn Nữ Ngộ Khê — Giọt lệ này (thơ) Thế Giang — Ba thằng cuối giời (truyện) Bắc Phong — Nhục nước, Ý thơ Phạm Duy — Thời kỳ thành lập: Xu hướng nhạc hùng Ngô Nguyên Dũng — Chia nhau những tờ thư phong (thơ) Vũ Huy Quang — Trưa nắng, thưa các anh (tùy bút) Ngu Yên — Thuật ký pháp của thơ Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) |
| 10 | Báo Văn Học — Số 10 (11-1986) Bùi Vĩnh Phúc — Vấn đề thẩm thức một tác phẩm nghệ thuật Nguyễn văn Sâm — Một ngôi sao nữa rụng Đặng Phùng Quân — Về Vũ Khắc Khoan Thạch Mai — Nắng thu phong (thơ) Mai Kim Ngọc — Nước mắt chảy xuôi (truyện ngắn) Tagore — Bùi Bảo Trúc — Tặng vật của tình nhân (thơ dịch) Tạ Chí Đại Trường — Một trú sở Việt của thần linh: Cái đình làng Định Nguyên — Tự hỏi, Giọt lệ bất ngờ, Rất xa (thơ) Ngô Nguyên Dũng — Bên kia rừng (truyện ngắn) Thái Tú Hạp — Vầng trăng huyền thoại (thơ) Phạm văn Hải - Vũ thị Dung — Dạy quốc ngữ theo phương pháp tự nhiên Phạm thị Ngọc — Cái nhà trong một cái nhà (truyện ngắn) Ngu Yên — Trong khi chờ phi cơ (thơ) Phạm Duy — Nhạc cách mạng lãng mạn (2) Hồ Đình Nghiêm — Thoáng mây (truyện ngắn) Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Bùi Vĩnh Phúc — Đọc Màu Cỏ Úa của Nguyễn Ngọc Ngạn Nguyễn Văn — Thời sự văn học |
| 11 | Báo Văn Học — Số 11 (12-1986) Văn nghệ sĩ hải ngoại — Lên tiếng chung Nguyễn Mộng Giác — Thư gửi một người bạn trẻ Nguyễn thị Sông Hương — Đọc Văn học Miền Nam: Tổng quan, của Võ Phiến Đỗ Quí Toàn — Buổi trưa ra đường, Ước chi (thơ) Nguyễn văn Sâm — Sống đời trôi giạt (truyện) Nghiêm Xuân Hồng — Gửi họ Vũ (thơ) Thái Tuấn — Một mùa thu không buồn Nguyễn Ngọc Thuận — Thánh giá oan khiên buổi phế thần (thơ) Võ Đình — Thư cho một hoạ sĩ trẻ Nguyễn Đức Bạt Ngàn — Huế (thơ) Nguyễn Xuân Hoàng — Chiếc mặt nạ (truyện) Đặng thị Quế Phượng — Hoá kiếp... (thơ) Nguyễn thị Ngọc Lan — Bước chân chim (truyện) Phạm Việt Cường — Hoá thạch (thơ) Kiệt Tấn — Vườn chanh miệt biển (truyện) Phạm Duy — Thời kỳ phát triển nhạc tình Trịnh Gia Mỹ — Bóng núi (truyện) Triều Khê — Tìm hiểu truyện Kiều Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Nguyễn Nam Anh — Đọc Dấu Bể của Phạm Quốc Bảo Nguyễn Mộng Giác — Đọc Mưa đất lạ, Thơ Hiền, Hoá ra nét chữ lên đàng quấn quanh, Đời sống và Cây bút chì Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật |
| 12-13 | Báo Văn Học — Số 12-13 (1&2-1987) XUÂN ĐINH MÃO Võ Đình — Phụ bản tranh bìa Nguyễn thị Hợp — Phụ bản tranh Tết; Lời chúc Tết của Văn Học † Cao Tiêu — Tùng (thơ) Đan Quế — Xuân Thanh (thơ) Kiệt Tấn — Em vịt vàng nhỏ của tôi (truyện) Thái Tuấn — Phụ bản tranh Nguyễn Mạnh Trinh — Ngày mồng Một Tết, Mùa xuân em anh (thơ) Bình Nguyên Lộc — Tết là gì? Đỗ Quí Toàn — Mở cửa ra em, Chân dung (thơ) Nguyễn Mộng Giác — Thư mùa Xuân gửi người bạn trẻ Tạ Tỵ — Lại mùa Xuân Ngọc Dũng — Phụ bản tranh Mai Thảo — Trả lời phỏng vấn của Văn Học Bùi Vĩnh Phúc — Trăng vỡ anh ra, Mưa-hương của đoá hoa giữa khuya (thơ) Nhật Tiến — Trả lời phỏng vấn của Văn Học Nghiêm Xuân Hồng — Hư tình khúc (thơ) Hoàng Khởi Phong — Thư gửi người vừa tới Nguyễn Bá Trạc — Mưa ở góc đường O'Farell và Larkin... (thơ) Nhật Tiến — Nhóm lửa (truyện) Đặng thị Quế Phượng — Tấu hoà nhập ma (thơ) Nguyễn văn Sâm — Mùa Xuân lọt qua kẽ hở (truyện) Nguyễn Đồng — Phụ bản tranh Như Chi — Chiều (thơ) Phạm Quốc Bảo — Trong nắng ấm cuối Đông bước sang Xuân Ngô Nguyên Dũng — Về một mùa Xuân năm xưa (truyện) Ngu Yên — Sáu ngày nghiêm chỉnh một ngày ngây ngô (thơ) Thế Giang — Tình yêu của những con ma (truyện) Hoàng Xuân Sơn — Vô kỳ, Ơ không (thơ) Nguyễn Xuân Hoàng — Bọc điều (truyện) Nguyễn Khai — Phụ bản tranh Vũ Huy Quang — Giòng lương thức (kịch) Nguyễn thị Hợp — Phụ bản tranh Nguyễn Đức Bạt Ngàn — Nỗi niềm đã xanh (thơ) Vi Khuê — Một lần ăn Tết ở đây (truyện) Như Chi — Tiêu Phong (thơ) Nguyễn Ngọc Thuận — Phát lưu ca (thơ) Mai Kim Ngọc — Một chút riêng tư (truyện) Uyên Nguyên — Đợi Xuân (thơ) Nguyễn thị Hoàng Bắc — Điều còn lại (truyện) Vũ Nam — Góp ý về vấn đề những cây bút trẻ Cao Bình Minh — Vườn bạn (truyện) Nguyễn Ban Sơ — Như một ngày mây bay (thơ) Hoàng Đỗ — Vợ Mỹ (truyện) Võ Đình — Ngày Xuân lại tìm hiểu truyện Kiều |
| 14 | Báo Văn Học — Số 14 (3-1987) Nguyễn Bá Trạc — Thoại Châu tôi biết trời chưa sáng (thơ) Thế Giang — Vũng lầy (truyện ngắn) Tạ Tỵ — Bài thơ cuối năm Nguyễn Thanh Hùng — Thư gửi Chú Võ Đình Phạm thị Ngọc — Tình truyện (truyện ngắn) Phạm Duy — Nhạc tình Ngô Nguyên Dũng — Đóng lại giùm tôi cánh cửa sau cùng (truyện ngắn) Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký) Bình Nguyên Lộc — Không lơ-là với Lơ-láo Kim Y Phạm Lệ Oanh — Góp ý về truyện Kiều Nguyễn Quỳnh — Mấy ý kiến về truyện Kiều Đào Trung Đạo — Đọc "Mùa hè một nơi khác" Nguyễn Ngọc Bích — Đọc "Văn học Miền Nam Tổng quan" của Võ Phiến Kiệt Tấn — Vườn chanh miệt biển (truyện ngắn) Nguyễn Ban Sơ — Còn có bao ngày (thơ) |
| 15 | Báo Văn Học — Số 15 (4-1987) Văn Học — Nhà văn Bình Nguyên Lộc đã từ trần Nghiêm Xuân Hồng — Lạc nẻo cố nhân (thơ) Nguyên Sa — Hoa sen và Hoa đào (thơ) Nguyễn Xuân Hoàng — Bình Nguyên Lộc ở rừng U Minh (tùy bút) Nguyễn Bá Trạc — Thơ đứng xoa râu, Bến sông xanh (thơ) Bình Nguyên Lộc — Chiều hồn nước (truyện ngắn) Như Chi — Tận khúc (thơ) Nguyễn văn Sâm — Nước mắt ly rượu (thơ) Sơn Nam xử sĩ — Tìm hiểu truyện Kiều Vũ Thùy Hạnh — Thơ ngày nghỉ bệnh Văn Học — Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Đức Lập Hoàng Xuân Sơn — Vô cầu, Về, Tuyết (thơ) Lê Tâm — Như màu đêm (truyện ngắn) Hồ Trường An — Mưa trên Lạc de la forêt d'Orient (thơ) Bùi Bảo Trúc — Người con gái có móng tay sơn đỏ gắt (truyện ngắn) Hạ Quốc Huy — Thư gửi người học trò đã đi xa (thơ) Nguyễn Mộng Giác — Đàm thoại với nhóm Thế Hệ ở Houston Diệu Tần — Đại bại mùa Thu (truyện ngắn) Phạm Duy — Nhạc tình: Văn Cao Bùi Vĩnh Phúc — Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy Nguyên Lương — Đọc thơ Ngu Yên Ngu Yên — Nguyền yêu em dù cuộc sống hoang đường (thơ) Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Đại học UCI — Thư gửi cộng đồng Việt Nam |
| 16 | Báo Văn Học — Số 16 (5-1987) KỶ NIỆM ĐỆ NHỊ CHU NIÊN Thái Tuấn — Mơ về nguồn cội Tạ Chí Đại Trường — Phổ hệ và chế độ nội hôn của nhà Trần Trần Nghi Hoàng — Viết cho Mây (thơ) Nguyễn Duy — Mưa San Jose nhớ Santa Barbara (thơ) Phan Ni Tấn — Em, Đi mưa (thơ) Đặng Phùng Quân — Hành trạng, Cõi tạm (thơ) Phố Tịnh — Nhân một vài hiện tượng văn học mới Huy Lực — Sinh nhật năm mươi trên đất người (thơ) Nguyễn Bá Trạc — Trời mưa ở Berkeley (tùy bút) Phan Ni Tấn — Thơ Hàn Song Tường — Vấn đề giải phóng phụ nữ trong văn chương nữ giới Đoàn văn Xuyên — Sau ngày bom nổ tìm hồn em trong vũ trụ vô cùng (thơ) Nguyễn Xuân Quang — Cô nàng Tô thị (truyện) Nguyễn Ban Sơ — Bài thơ cho con đầu lòng (thơ) Quyên Di — Hương ngâu (truyện) Lê Mỹ Hương — Cái rác (truyện phim) Thường Quán — Manh áo cũ (thơ) Phạm Duy — Nhạc tình Văn Cao (2) Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Bảo Lâm — Đọc Ngựa nản chân bon Đào Huy Đán — Đọc Cỏ biếc Phạm Vũ — Đôi khi (thơ) Nguyễn Văn — Thời sự văn học Một nhóm làm văn hoá — Tâm thư gửi đồng bào Việt Nam |
| 17 | Báo Văn Học — Số 17 (6-1987) SỐ ĐẶC BIỆT VỀ THI CA Nguyễn Hưng Quốc — Nhà thơ và cảm xúc thơ, Cấu trúc một bài thơ Cung Vũ — Lên non hái trái (thơ) Nguyễn Bá Trạc — Thư gửi người bạn thơ Nguyễn Lý — Không đảo, Cánh chim (thơ) Đoàn Xuân Kiên — Về vấn đề dịch thơ Đặng thị Quế Phượng — 49, Đinh Tiên Hoàng Ban mê thuột (thơ) Ngu Yên — Tạp ghi về thơ Nghiêm Xuân Hồng — Say vào Hoa tạng (thơ) Vũ Thùy Hạnh — Mùa Xuân trong vườn (thơ) Như Chi — Giữ giùm em (thơ) Hàn Song Tường — Lưu đầy (thơ) Bùi Vĩnh Phúc — Tôi là bọt sóng... Thường Quán — Xưa thơ (thơ) Ngô Nguyên Dũng — Câu chuyện của thầy Hương quản (truyện) Tuấn Huy — Quán tưởng (thơ) Nguyễn Tất Nhiên — Một nụ vô thường, Như là hôm qua (thơ) Ngu Yên — Đề nghị tái lập thời Địa đàng (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh — Ở Tân thủy, 1980 (thơ) Nguyễn Hiền Thảo — Giữa trưa, những bông hoa (truyện) Tạ Chí Đại Trường — Vấn đề loạn luân của họ Trần Nguyễn Xuân Quang — Cô nàng Tô thị (truyện) Phạm Duy — Nhạc tình Văn Cao Hoàng Liên — Ánh sáng và bóng tối (hồi ký) Đào Trường Phúc — Đọc Cậu bé và Hoa mai Nguyễn Văn — Thời sự văn học nghệ thuật |
| 18 | Báo Văn Học — Số 18 (7-1987) VĂN NGHIỆP BÌNH NGUYÊN LỘC Văn Học — Tiểu sử Bình Nguyên Lộc Hồ Trường An — Tổng quan về sự nghiệp Bình Nguyên Lộc Mai Thảo — Bên kia, Vẫn hoa, Đứng lên, Chân dung (thơ) Sơn Nam xử sĩ — Bình Nguyên Lộc tìm nguồn gốc dân tộc Việt Nam bằng phương pháp đối chiếu ngôn ngữ Phạm Công Thiện — Trở về sa mạc vùng Tây vực... (thơ) Nguyễn Bá Trạc — Rừng thiên nga (thơ) Diệu Tần — Bóng dáng người đàn bà Tàu và Bình Nguyên Lộc Nghiêm Xuân Hồng — Chiều tâm lượng (thơ) Phạm Duy — Gặp Bình Nguyên Lộc ở "Quán bên đường" Võ Phiến — Cá tính địa phương Hoàng Xuân Sơn — Mười mấy năm... (thơ) Cao Huy Khanh — Bình Nguyên Lộc, nhà văn của đời sống hàng ngày Thường Quán — Trưa tháng năm (thơ) Nguyễn văn Sâm — Xin được lần cuối gọi bằng Anh Luân Hoán — Lững thững theo đời (thơ) Nguyễn Ban Sơ — Vịnh người đồng hương (thơ) Triều Khê — Cái méo chuyên môn đáng yêu của Bình Nguyên Lộc Tuấn Huy — Bình Nguyên Lộc, cuống rún còn dính liền với đất nước Nguyễn Xuân Hoàng — Phỏng vấn nhà văn Bình Nguyên Lộc Trần Hoài Thư — Nam Ô (truyện) Huyền Châu — Bóng chiều tàn (truyện) Nguyễn thị Hoàng Bắc — Hương nồng đá nát (truyện) Lê Tâm — Cảnh tượng Nguyễn Hưng Quốc — Cảm xúc trong thơ (tản mạn về thơ 3) Họa sĩ Nguyễn thị Hợp — Bìa: Chân dung Bình Nguyên Lộc |
| 19 | Báo Văn Học — Số 19 (8-1987) Đỗ Quí Toàn — Đọc thơ Hoàng Xuân Sơn — Nhật, Vũ... (thơ) Nguyễn Hưng Quốc — Hình tượng thơ Như Chi — Nguyên sơ (thơ) Trần thị Núi Sông — Niềm mơ ước lặng thầm (thơ) Ngu Yên — Thơ Hài cú và Tân hài cú Thái Tú Hạp — Nghe suốt đời ta một núi sông (thơ) Trầm Phục Khắc — Đêm ta ghìm thép nổ (thơ) Lê Mỹ Hương — Trận địa lún (truyện) Nguyễn Mộng Giác — Tìm hiểu thế giới nhân vật của Võ Phiến Phan Bích Lâm Quân — Thèm có một quê hương (thơ) Trần Hoài Thư — Cái chết của người bạn văn (truyện) Nguyễn Ý Thuần — Nhắc nhau một thuở ấu thời (thơ) Vũ Huy Quang — Chuyện tình (truyện) Đặng Phùng Quân — Cõi ngoài (truyện) Phạm Duy — Nhạc tình (tiếp theo) Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký) Thụy Khuê — Đọc Tiếng Kèn của Nhật Tiến Bùi Bảo Trúc — Đọc Người Đi Trên Mây của Nguyễn Xuân Hoàng Nguyễn Mạnh Trinh — Đọc Ngày Tháng Bềnh Bồng của Nguyễn văn Sâm Nguyễn Văn — Thời sự văn học |
| 20 | Báo Văn Học — Số 20 (9-1987) VĂN NGHIỆP VŨ KHẮC KHOAN Bùi Vĩnh Phúc — Vũ Khắc Khoan và Samuel Beckett: Nghệ thuật, như một cái cớ Phan Ni Tấn (ND) — Tưởng Tiếc (thơ) Viên Linh — Ký hoạ: Cái bàn năm chân Tuấn Huy — Tưởng niệm "Thần Tháp Rùa" Nghiêm Xuân Hồng — Giấc ngủ chiều (thơ) Thanh Tâm Tuyền — Nghĩ về Thành Cát Tư Hãn: Cái cớ của Vũ Khắc Khoan Định Nguyên — Người dưng (thơ) Kiệt Tấn — Em áo chim (thơ) Văn Học — Phỏng vấn nhà thơ Viên Linh Nguyễn Nhật Duật — Quan điểm nghệ thuật của Vũ Khắc Khoan qua Thần Tháp Rùa Cao Huy Khanh — Vũ Khắc Khoan: Huyền truyện của những năm 50 Việt Nam Nguyễn Mạnh Trinh — Thơ gửi chàng lãng tử Nguyễn Bắc Sơn, Trăng Núi (thơ) Đặng Phùng Quân — Lộng Ngôn, như một cách nói Lê Huy Oanh — Một công trình sưu tầm của Vũ Khắc Khoan: vở chèo Quan Âm Thị Kính Điệp Mỹ Linh — Câu chuyện đứt ngang (truyện ngắn) Nguyễn Bá Trạc — Thơ tháng Sáu 1987 Nguyễn Phước Nguyên — Lối về (truyện ngắn) Diệu Tần — Thà đừng thương (truyện ngắn) Nguyễn Quỳng — Mai Ly, một tài năng mới Bùi Bảo Trúc — Đọc "Thằng Người Có Đuôi" của Thế Giang Nguyễn Văn — Thời sự văn học |
| 21 | Báo Văn Học — Số 21 (10-1987) SỰ NGHIỆP VĂN NGHỆ PHẠM DUY Phạm Văn Kỳ Thanh — Thế giới ca khúc Phạm Duy Phạm Duy — Tuổi thơ (hồi ký) Nguyễn Mộng Giác — Tạ ơn Đời, Tạ ơn Anh Hồ Trường An — Những giọng hát làm nổi bật nhạc Phạm Duy Duyên Anh — Phạm Duy còn đó Việt Nam Quỳnh Giao — Thư gửi Anh Bùi Vĩnh Phúc — Phạm-Duy-Tâm-ca, một Thi sĩ đắm đuối và phẫn nộ Lê Mỹ Hương — Nhạc trung hữu Hoạ Trần Văn Ân — Phạm Duy, nòi tình Hàn Vĩ — Nhạc kháng chiến của Phạm Duy Bùi Bảo Trúc — Phạm Duy, một Nguyễn Du giữa chúng ta Đỗ Ngọc Yến — Tâm ca Phạm Duy và Phong trào Du ca Ngu Yên — Thơ trong dòng nhạc Phạm Duy Tuấn Huy — Phạm Duy trọn đời khóc cười theo vận nước Hà Y — Ngục ca chấn động thế giới Phạm Duy — Tác phẩm đã phổ biến từ trước tới nay; Sơ đồ sáng tác |
| 22 | Báo Văn Học — Số 22 (11-1987) GIỚI THIỆU 9 NGƯỜI VIẾT TRẺ Nguyễn Thanh Hùng — Xuôi Nam (truyện) Nguyễn Ý Thuần — Westminster, một góc café và 4 cô casher (thơ) Tạ Thái — Mây xa (truyện) Tạ Thái — Gương, Tôi và Thiếu phụ (thơ) Chân Phương — Một chỗ cho người (truyện) Tiểu San — Thơ Nguyễn Phước Nguyên — Chuyến đi (truyện) Nguyễn Hoàng Nam — Ngày nghỉ (truyện) Nguyễn Hoàng Nam — Tự tình (thơ) Huỳnh Liễu Ngạn — Lục bát Hoàng Mai Đạt — Khu vườn của ông (truyện) Trần Trúc Giang — Con đường âm phủ (truyện) Thái Tuấn — Em hãy đi (thơ) Nguyễn Hiền Thảo — Ánh sáng trong căn phòng mù (truyện) Phạm Quang — Suy tư trong đêm (truyện) Nguyễn Tất Nhiên — Cảm người 9 năm (thơ) Thái Tuấn — Màu ánh sáng Võ Đình — Tranh thơ Nguyễn Bá Trạc — Chuyện một ngày, chuyện một ngày khác Đoàn Xuân Kiên — Tiếng lóng ở Sài Gòn Trần Hoài Thư — Cho con, mùa tựu trường Nguyễn Bá Trạc — Thơ cuối tháng 8.87 Đặng thị Quế Phượng — Dâu bể (truyện) Triều Khê — Văn chương, cách thể diễn tả hay phương tiện đấu tranh chính trị? Ngu Yên — Thở dưới những bàn chân (thơ) Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký, tiếp theo) Thụy Khuê — Điểm sách: Thằng Người Có Đuôi của Thế Giang & Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác (điểm sách) |
| 23 | Báo Văn Học — Số 23 (12-1987) Bùi Bảo Trúc — Brodsky, nhà thơ đoạt Nobel văn chương năm 1987 Ngu Yên — Joseph Brodsky, nhà thơ lưu vong tiêu biểu Hoàng Dương — Lời nguyện đêm Giáng sinh (thơ) Võ Phiến — Mười giờ (tùy bút) Võ Phiến — Đêm (thơ) Nguyễn Tất Nhiên — Dung khúc (thơ) Tạ Chí Đại Trường — Tiền giấy ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 14 - nửa đầu thế kỷ 15 Nguyễn văn Sâm — Đọc thư người tình cũ (thơ) Ngô Nguyên Dũng — Những vì sao (truyện) Như Chi — Chiều (thơ) Hoàng Xuân Sơn — Nuôi tóc (thơ) Nguyễn Ý Thuần — Số độc đắc (truyện) Nguyễn Mạnh Trinh — Rượu tiễn (thơ) Phạm Hiếu — Euclid, Lobachevsky và Bùi Vĩnh Phúc... Trần Trúc Giang — Sức đồng hoá trong thế hệ văn chương lưu vong Nguyễn thị Ngọc Lan — Được mùa yêu (truyện) Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký) Mai Kim Ngọc — Muôn kiếp cô liêu (truyện dài trích đăng) Bảo Lâm — Đọc "Những Cơn Mưa Trở Về" của Bùi Vĩnh Phúc Vũ Huy Quang — Đọc "Thép Đen" của Đặng Chí Bình Nguyễn Văn — Thời sự Văn học Nghệ thuật |
| 24-25 | Báo Văn Học — Số 24-25 (1&2-1988) TẾT MẬU THÌN Nguyễn thị Hợp — Phụ bản tranh Xuân Nguyễn Mạnh Trinh — Một năm văn học : Tác phẩm và Tác giả năm 1987 Nguyễn văn Sâm — Dịch thơ Lý Bạch Cao Tiêu — Thủy Nguyệt (thơ) Ngu Yên — Trong khi sắp viết về chủ đề Xuân Mai Thảo — Cõi bờ, Gọi thức, Chỗ đặt, Lao động, Không tiếng (thơ) Nguyên Sa — Thơ Xuân Nguyên Khai — Phụ bản tranh Xuân Xanh Nhật Tiến — Những sự thực cần được nói ra (truyện) Định Nguyên — Những giọt pha lê (thơ) Thái Tú Hạp — Trong vườn Xuân hạnh ngộ (thơ) Nguyễn Đồng — Phụ bản tranh Võ Đình — Một món Tết thật mặn mà (tùy bút) Lê Giang Trần — Lời nói của đêm (thơ) Nguyễn Hoàng Nam — Thơ đầu năm Nguyễn Xuân Hoàng — Buổi tối, trong một quán ăn trên đường Beach (truyện) Nguyễn Tất Nhiên — Tâm cảnh (thơ) Nguyễn Thị Hoàng Bắc — Xuân bất tận (truyện) Luân Hoán — Bạc tóc (thơ) Kiệt Tấn — Những đoá hạnh phúc không ngờ (truyện) Hoàng Xuân Sơn — Mai thạch (thơ) Như Chi — Mộ khúc (thơ) Phạm Duy — Viết về thơ "Tâm sự đêm Giao thừa" của Hoàng Cầm Bùi Bảo Trúc — K. khúc 1,2,3 (thơ) Lê Tâm — Mùa Xuân qua đèo (truyện) Phan Ni Tấn (ND) — Những bữa tiệc tù (thơ) Ngô Nguyên Dũng — Mùa Xuân xuôi Nam (truyện) Ngô Nguyên Dũng — Hoa (thơ) Bùi Vĩnh Phúc — Quá khứ (thơ) Nguyễn Ngọc Thuận — Không một chỗ (truyện) Thế Uyên — Bể dâu trong tiếng Việt Nguyễn Ý Thuần — Cuối năm (truyện) Hoàng Mai Đạt — Một mối tình đẹp tuyệt vời Trần Trúc Giang — Người thả chim đại bàng (truyện) Bùi Vĩnh Phúc — Góp ý với ông Phạm Hiếu... |
| 26 | Báo Văn Học — Số 26 (3-1988) Minh Phú — Di ảnh nhạc sĩ Vũ Thành Lê văn Khoa — Nhạc sĩ Vũ Thành và tôi Quỳnh Giao — Vũ Thành, người nhạc sĩ khí khái và ngạo nghễ Hồ Đình Nghiêm — Ở trạm cuối (truyện ngắn) Thế Uyên — Vấn đề Cao Miên và cuộc tranh chấp giữa hai dân tộc Thái và Việt Diệu Tần — Chuột và Người (truyện ngắn) Nguyễn Quỳnh — Jacques Derrida và Thuyết Phê bình Cơ cấu Nguyễn Thị Thanh Bình — Ở đời sống này (truyện ngắn) Tạ Chí Đại Trường — Tiền giấy VN vào cuối thế kỷ 14 đến nửa đầu thế kỷ 15 Nguyễn Phước Nguyên — Hàng rào (truyện ngắn) Vũ Đăng Khoa — Bước chân năm cũ (truyện ngắn) Ngô Duy Chinh — Thảo luận : Cuộc tao phùng giữa Đông Tây và Sinh hoạt người Việt tị nạn Thụy Khuê — Đọc Xứ Sấm Sét của Võ Đình Nguyễn Đình Hoà — Thơ Nôm Nguyễn Trãi được dịch ra tiếng Pháp Bùi Bảo Trúc — Đọc Tùy Bút II của Võ Phiến Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký) Mai Kim Ngọc — Muôn kiếp cô liêu (trích đoạn truyện dài) Nguyễn Tấn Hưng — Mùa Xuân này ta nên làm đẹp |
| 27 | Báo Văn Học — Số 27 (4-1988) Lê Tâm — Ba mươi năm sau bài "Phê bình lãnh đạo văn nghệ" của Phan Khôi Trần Thị Kim Lan — Edna (truyện ngắn) Thụy Khuê — Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm Nguyễn Việt Thường — Thơ Nguyễn Thị Tiêu Dao — Những cây bút phụ nữ phản kháng tại Liên bang Xô viết Nguyễn Bá Trạc — Xuân về trên đảo Bidong (thơ) Lê Mỹ Hương — Hai mảnh tim tươi của một nhà thơ Như Chi — Cõi Chết (thơ) Hồ Trường An — Trang sách thần tiên (truyện ngắn) Trịnh Y Thư — Dịch ba bài thơ của Solzhenitsyn Nguyễn Hiền Thảo — Ngủ không được (truyện ngắn) Bùi Bảo Trúc — James Arthur Baldwin, Chấm dứt một bản blues Nguyễn Mạnh Trinh — Buổi chiều ở phố núi (thơ) Nguyễn Hoàng Nam — Mưa, nhớ người phía Bắc (thơ) Võ Kỳ Điền — Bút pháp Kiệt Tấn qua "Nụ Cười Tre Trúc" Thế Uyên — Vài nhận xét về cuốn "Lịch sử dân tộc Việt Nam" của Phạm Cao Dương Đỗ Khiêm — Lỗi tại vì đêm (thơ) Triều Khê — Góp ý về bài "Bể dâu trong tiếng Việt" Hoàng Liên — Ánh sáng và Bóng tối (hồi ký) Mai Kim Ngọc — Muôn Kiếp Cô Liêu (trích đoạn truyện dài) |
| 28 | Báo Văn Học — Số 28 (5-1988) TUYỂN TẬP THƠ VĂN Mai Thảo — Tin Xuân, Rừng câm, Có Lúc, Lẻ Một, Ảo Thuật (thơ) Đỗ Kh. — Gaston (Alimad) Nhị truyện Viên Linh — Bờ Tâm Hải (thơ) Thế Uyên — Nhà văn các ông là đồ nhiều sự Nguyễn Việt Thường — Chưa ra trường đã biết... (thơ) Phan thị Trọng Tuyến — Chút gió còn lại (truyện) Trần thị Kim Lan — Kẻ lạ người thân (truyện) Trần Trúc Giang — Bài thơ tối thứ bảy Nguyễn đức Lập — Nửa thức đất (truyện) Thương Quân — Vườn Sương, Bóng Hình, Ga Chiều (thơ) Nguyễn Ngọc Thuận — Phía dưới khẩu hiệu (truyện) Vân Yên — Chi (truyện) Bùi Thanh Liêm — Sư Phụ (truyện) Mai kim Ngọc — Muôn kiếp Cô liêu (truyện dài) |
| 29 | Báo Văn Học — Số 29 (6-1988) LẠI BÀN VỀ THƠ Nguyễn Hưng Quốc — Tứ thơ Nguyễn Mạnh Trinh — Khi tưởng lại núi rừng (thơ) Ngu Yên — Tâm sự với người bạn thơ Như Chi — Ối những dòng sông... (thơ) Hoàng Xuân Sơn — Luân vũ (thơ) Trần thị Kim Lan — Gió đêm (truyện ngắn) Nguyễn Việt Thường — Mẹ, dòng cổ tích sầu (thơ) Đỗ Kh. — Chẳng cần lan can ở Vérone (truyện ngắn) Hà Trung — Một cành huệ mới đó đã gãy trong sân chùa (thơ) Đào Trung Đạo — Junk Mail (truyện ngắn) Thường Quán — Hương mùa ẩn tích (thơ) Nguyễn thị Thanh Bình — Que diêm kỷ niệm (truyện ngắn) Huỳnh Liễu Ngạn — Vòng hoa cho Hư vô, trơ† Ngu Yên — Đôi chim Mai Hoa (đoản văn) Xuân Vũ - Lê Mỹ Hương — Phạm Duy muốn nói gì với những trai gái của thế kỷ 21... Nguyễn Tấn Hưng — Lại làm đẹp Tranh bìa: Tranh dân gian Việt Nam đầu thế kỷ 20 |
| 30 | Báo Văn Học — Số 30 (7-1988) Trần văn Tích — Từ Pavlov đến Glasnot Bùi Bảo Trúc — 1980, Trở về căn nhà cũ ở Sài Gòn (thơ) Nguyễn Thanh Hùng — Thư gửi chú Võ Đình Nguyễn văn Sâm — Gặp người bạn cũ (thơ) Bùi Vĩnh Phúc — Một cách nhìn về 13 năm văn chương Việt ngoài nước Hạ Quốc Huy — Gọi đời trên dâu bể (thơ) Nguyễn thị Hoàng Bắc — Trăng biển (truyện) Ngu Yên — Khi bằng hữu biết nói (thơ) Ngô Nguyên Dũng — Chốn tâm tình ẩn náu (truyện) Ngô Nguyên Dũng — Mùa xanh vô cùng (thơ) Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc ở Đàng Trong Thường Quán — Đón đêm vào (thơ) Đỗ Kh. — Hình chụp ở Đồng Đăng (truyện) Đỗ Kh. — Thúy Lịch buổi sáng (thơ) Hồ Đình Nghiêm — Đi thực tế (truyện) Thế Uyên — Đọc "Việt Nam Quê Hương Tôi" của L.M. Dominici Đỗ Minh Trí Nguyễn Thanh Hùng — Tranh bìa Văn Học số 30 |
| 31 | Báo Văn Học — Số 31 (8-1988) DOÃN QUỐC SỸ Văn Học — Tiểu sử Doãn Quốc Sỹ Doãn Quốc Sỹ — Trích lời viết của Doãn Quốc Sỹ Đào Trường Phúc — Đằng sau vụ "xử" Doãn Quốc Sỹ Hoàng Xuân Sơn — Tinh thần, Và Bạo lực (thơ) Mai Thảo — Vài kỷ niệm với Ông Giáo Thường Quán — Đọc Khu Rừng Lau (thơ) Nhật Tiến — Vài kỷ niệm với nhà văn Doãn Quốc Sỹ Nguyễn Mạnh Trinh — Gửi Dòng Sông Định Mệnh (thơ) Võ Đình — Doãn Quốc Sỹ và Tiếng hát tự lòng đất Nguyễn Ngọc Thuận — Vài ý nghĩ rời buổi sáng (thơ) Nguyễn Mộng Giác — Doãn Quốc Sỹ người anh khả kính Nguyễn Xuân Hoàng — Đi xa với Doãn Quốc Sỹ Thế Uyên — Những khoảng đường chung với Doãn Quốc Sỹ Phạm Quốc Bảo — Nhớ về một trường hợp Nguyễn Nam Phong — Văn nghệ sĩ lại bị khủng bố Quỳnh Giao — Nhạc trong văn Doãn Quốc Sỹ T.V. — Điểm sách : "Những tên biệt kích cầm bút" Cao Xuân Huy — Cửa Việt (bút ký đăng nhiều kỳ) Văn Học — Học giả Hoàng văn Chí từ trần Võ Đình — Tranh bìa : Phác hoạ chân dung Doãn Quốc Sỹ, Sài gòn 1974; Hai phụ bản tranh |
| 32 | Báo Văn Học — Số 32 (9-1988) Mai Thảo — Thơ Võ Phiến — Tiếng Việt và người Việt ở hải ngoại Cao Đông Khánh — Di tản America (thơ) Diệu Tần — Con vịt một chân (truyện) Thụy Khuê — Hoạ sĩ Lê thị Lựu Luân Hoán — Nghe tiếng chim xưa (thơ) Hoàng Xuân Sơn — Trưa Sài gòn (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh — Đất khách đọc thơ Bùi Giáng và Tô Thùy Yên (thơ) Nguyễn Tất Nhiên — Tâm hương (thơ) Ngu Yên — Siêu vi khuẩn (truyện) Đỗ Kh. — Một đêm ở Hamburg (truyện) Hàn Song Tường — Như mây (thơ) Đặng Phùng Quân — Sinh nhật của T. (thơ) Vân Yên — Anh theo Tảo về (truyện) Nguyễn Việt Thường — Thơ đẹp như kinh, Tinh tấn đạo đời Nguyễn Hoàng Nam — Đánh dấu mùa hè thứ hai (thơ) Lữ Mộc Sinh — Sống và Thơ (thơ) Thường Quán — Mẹ-Đêm (thơ) Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc ở Đàng Trong (kỳ 2) Bùi Bảo Trúc — Đọc "Tiểu Thuyết" Võ Phiến Ngô Ngọc Mỹ & Nguyễn Đạt — Làm đẹp chữ Việt Bùi Ngọc Đường — Nhật Tiến : Một khuynh hướng sáng tác mới trong văn học hải ngoại (kỳ 1) |
| 33 | Báo Văn Học — Số 33 (10-1988) THƠ VĂN CÁC CÂY BÚT NỮ Tranh bìa: Tranh dân gian đầu thế kỷ 20 Nguyễn thị Hoàng Bắc — Máu se tàn lạnh (truyện) Trân Sa — Thơ Phạm thị Ngọc — Mưa đêm (truyện) Vũ Thùy Hạnh — Thơ Trần thị Kim Lan — Hoàng tử và Kẻ khờ (truyện) Như Chi — Mây (thơ) Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc Đàng Trong (kỳ 3) Võ Đình — Ý nghĩa một lời giới thiệu Nguyễn thị Thanh Bình — Người khách lạ (truyện) Thụy Khuê — Đọc Bèo Giạt của N.M.G. Nguyễn Tấn Hưng — Còn đâu thi vị Bùi Ngọc Đường — Nhật Tiến : Một khuynh hướng sáng tác mới trong Văn học hải ngoại (tiếp kỳ trước) |
| 34 | Báo Văn Học — Số 34 (11-1988) MỘT SỐ KHẢO CỨU VIỆT HỌC Trung tâm Văn Bút Nam Cali — Tuyên cáo... Phạm Công Thiện — Cộng sản Việt Nam vừa tuyên án tử hình hai thiền sư lỗi lạc... Định Nguyên — Túy Hành khúc (thơ) Đỗ Kh. — Nobel văn chương năm 1988 Nguyễn Mạnh Trinh — Một mình (thơ) Nguyễn Hưng Quốc — Nghĩ về Thơ (bài 1 & 2) Huy Lực — Thơ Huy Lực Trần văn Tích — Diện mạo bộ Y Tông Tâm Lĩnh (kỳ 1) Như Chi — Thí dụ, Thái dương (thơ) Nguyễn Đông Thái — Những người Mỹ đầu tiên tới Việt Nam Bùi Bảo Trúc — Lời gửi một mối tình 40 (thơ) Thường Quán — Vào đêm (thơ) Nguyễn Thuyết Phong — Thế giới âm nhạc Việt Nam Trịnh Y Thư — Bài hài cú về Thu Nguyễn Hiền Thảo — Ở một nơi toàn là đàn ông, Dọn sang nhà bên cạnh (truyện) Ngô Nguyên Dũng — Tiếng núi (truyện) Phan Ni Tấn (ND) — Nghĩ tội thơ Nguyễn Kỳ Phong — Người con gái tập hát (truyện) Nguyễn Thị Thanh Bình — Mù khơi (thơ) Tạ Chí Đại Trường — Tiền đúc ở Đàng Trong (kỳ cuối, phụ bản tiền cổ) |
| 35 | Báo Văn Học — Số 35 (12-1988) TUỆ SỸ & LÊ MẠNH THÁT Lê Hậu — Trước án tử hình, bóng dáng Tuệ Sỹ và Lê Mạnh Thát Tuệ Sỹ — Thơ Tuệ Sỹ Phạm Công Thiện — Một buổi sáng đọc thơ Tuệ Sỹ Thích Mãn Giác — Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát và con đường của Phật giáo Việt Nam Viên Linh — Trí, Tuệ (thơ) Lê Mạnh Thát — Nghiên cứu tình trạng Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn chống xâm lăng Tuệ Sỹ — Lô sơn Chân diện mục Lê Mạnh Thát — Trao đổi ý kiến về tác giả bài "Xuân nhật tức sự" Trân Sa — Bài ca năm 1986 : Không tuyệt vọng... Văn Bút Nam Cali — Đọc thơ Tuệ Sỹ tại TTVB Hoa Kỳ Nguyễn Hưng Quốc — Nghĩ về thơ (tiếp theo kỳ trước) Phạm Duy — Trích Hồi ký Trần thị Kim Lan — Đi trong giấc mơ (truyện ngắn) Trần văn Tích — Nội dung Y Tông Tâm Lĩnh (tiếp kỳ trước) Quỳnh Giao — Đọc truyện Thế Giang Thụy Khuê — Đọc "Muôn kiếp cô liêu" của Mai Kim Ngọc Viên Linh — Trình bày bìa Văn Học số 35 |
| 36-37 | Báo Văn Học — Số 36-37 (1&2-1989) TẾT KỶ TỴ Khánh Trường — Tranh bìa Võ Đình — Phụ bản tranh Năm Rắn Bùi Bảo Trúc — Nhìn lại tình hình sách vở năm 1988 Mai Thảo — Thơ: Ngũ tạng, Thủy tận... Luân Hoán — Thơ Xuân Kỷ Tỵ Nguyễn Ngọc Bích — Một năm văn học nở rộ : Tiểu thuyết Nguyên Sa — Bãi xa, Hậu giải phẫu (thơ) Định Nguyên — Quê hương, ngày nào? (thơ) Nguyễn Đồng — Tranh Tết, tìm lại những hình ảnh chưa bao giờ có thật Nguyễn Đồng & Nguyễn thị Hợp — Phụ bản phỏng tranh dân gian Nguyễn Bá Trạc — Kể chuyện (thơ) Nguyễn Văn ghi — Vài suy nghĩ của người sáng tác Nguyễn Mạnh Trinh — Xuân tận (thơ) Trần thị Kim Lan — Ngày Xuân ra phố (truyện) Trịnh Y Thư — Xuân tâm (thơ) Hà Trung — Xuân thì (thơ) Chân Phương — Thêm một mùa Xuân (truyện) Hoàng Xuân Sơn — Thơ hồng Nguyễn thị Ngọc Nhung — Trông vời quê mẹ (truyện) Phạm Quốc Bảo — Cuối thu ở Washington D.C. (thơ) Võ Đình — Xứ mây mù (truyện) Đào Trung Đạo — Sinh nhật thơ tù ngục (thơ) Thế Uyên — Kẻ sĩ và Thiền sư Khoa Hữu — Trái tim người qua sông Cửu Long (thơ) Ngô Nguyên Dũng — Bắt đầu năm thứ 19 (truyện) Nguyễn đức BạtNgàn — Lịch sử, Tổ quốc, Lên đường (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện — Phỏng vấn về Sinh hoạt văn nghệ hải ngoại Nguyễn Ngọc Thuận — Thơ Xuân Nguyễn thị Hoàng Bắc — Chi lạ rứa? (truyện) Nguyễn Việt Thường — Tình sử (thơ) Thụy Khuê — Các nhà văn viết về đàn bà Hoàng Khởi Phong — Tùy bút Nguyễn văn Sâm — Kẻ thua cuộc (truyện) Diệu Tần — Thư ngỏ gửi nhà văn Nhật Tiến Trần Diệu Hằng — Tháng bệnh của Bà Ngoại (truyện) Trần Hoài Thư — Gió qua Thành Nội (truyện) Nguyễn Ý Thuần — Rồi cũng yêu nhau (truyện) Đỗ Khiêm — Chuyện tình trong đường hầm (truyện) Bùi Vĩnh Phúc — Nhật ký lửa của một người thơ Nguyễn Hưng Quốc — Trải bốn phần năm Mùa Biển Động, nhìn lại... |
| 38 | Báo Văn Học — Số 38 (3-1989) SỐ TÂN NIÊN 1989 Trân Sa — Người làm nở hoa Quỳnh (truyện) Trân Sa — Thơ Hoàng Khởi Phong ghi — Vài suy nghĩ của người sáng tác (kỳ 2) Phạm văn Kỳ Thanh — Lạc âm thiều Phạm Duy — Hồi ký Thế Uyên — Bể dâu trong tiếng Việt (3) Thường Quán — Thơ Như Chi — Thơ Hàn Song Tường — Khu rừng cháy (thơ) Trịnh Gia Mỹ — Xa quê, ngồi nhớ Nguyên đán xưa (thơ) Ngô Nguyên Dũng — Một đoá bất ngờ (thơ) Nguyễn Tất Nhiên — Tâm chung (thơ) Hoàng Xuân Sơn — Thơ Tưởng Vũ Anh Thy — Mộng đắc tịnh liên tại hương thủy hải (thơ) Ngu Yên — Biết làm sao bây giờ (thơ) Nguyễn Ý Thuần — Tật nguyền (truyện) Lưu Đình Vong — Bốn nét chân dung (thơ) Bùi Vĩnh Phúc — Đêm và ngày, và Phạm công Thiện... Nguyễn Hưng Quốc — Kiệt Tấn, nụ cười tre trúc Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Nguyễn Xuân Hoàng — Những ý kiến về một bài báo đăng trên Đoàn Kết Bùi Ngọc Đường — Quanh những sáng tác của nhà văn Nhật Tiến, chào mừng đối thoại |
| 39 | Báo Văn Học — Số 39 (4-1989) Trần Ngọc Ninh — Câu Chuyện Danh Từ Khoa Học Và Danh Từ Y Khoa Hồ Mộng Trần — Về Dallas (truyện) Thường Quán — Ga Cuối Năm (thơ) F.E.E.R. — Phỏng vấn Salman Rushdie: Sự Kiện, Niềm Tin Và Giả Tưởng Nguyễn Xuân Hoàng — Tự Truyện Một Người Vô Tích Sự (truyện ngắn) Hoàng Khởi Phong ghi — Mấy Suy Nghĩ Của Người Sáng Tác (thảo luận) UCI Library Vietnam/Southeast Asia Archive — Thông báo Nguyễn Mạnh Trinh — Gửi Bằng Hữu Miền Đông, Mưa Lụt Ở Thủ Thừa 1980 (thơ) Nguyễn Hưng Quốc — Nghĩ Về Thơ: Cảnh trong thơ và màu sắc trong cảnh Nguyễn Ý Thuần — Đâu Cần Đợi Hiệp Ba (truyện) Nguyễn Tất Nhiên — Buồn Khúc (thơ) Nguyễn Đức Lập — Từ Bốn Mươi Năm Trước (truyện) Trần Sa — Giữa Những Hàng Ghế Trống (truyện) Bùi Ngọc Đường — Chào Mừng Sự Đối Thoại (tiếp theo kỳ trước) |
| 40 | Báo Văn Học — Số 40 (5-1989) BƯỚC QUA NĂM THỨ NĂM † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (đã thử ở #39, tốn quá nhiều thời gian giữa batch) |
| 41 | Báo Văn Học — Số 41 (6-1989) GIỚI THIỆU NHỮNG CÂY VIẾT TRẺ Ở ÚC Cheo Reo — Một vài mẫu đời với phần phụ chú (truyện) Cao Huy — Bà Lão (truyện) Uyên Nguyên — Ngộ nhận (thơ) Cao Huy — Khách lạ trên bóng nước (thơ) Hoàng Ngọc Tuấn — Những đêm không còn (nhạc) Thường Quán — Thu, Cánh đồng (thơ) Hoàng Tử Dương — Kìa, Ngôi sao (truyện) Uyên Nguyên — Hát một mình (thơ) Kiệt Tấn — Đi trong thành phố có nắng (truyện) Nguyễn Mạnh Trinh — Phỏng vấn Nguyễn Ý Thuần Nguyễn Đức An — Xuân tới một lần (truyện) Nguyễn thị Thanh Bình — Những gặp gỡ bất ngờ (truyện) Giáo sư Bùi Quang Tung — Đóng góp về vụ can thiệp hải quân Mỹ tại Đà Nẵng năm 1845 Nguyễn Lê Hồng Hương — Thư không viết Võ Đình — Giới thiệu Long Lanh Hạt Bụi Hoàng Khởi Phong — Giới thiệu sách mới Nguyễn Thành Nhơn — Tranh bìa Văn Học số 41 |
| 42 | Báo Văn Học — Số 42 (7-1989) Trần Vũ — Ngôi nhà sau lưng văn miếu (truyện ngắn) Mai Thảo — Em đã hoang đường từ cổ đại (thơ) Nguyễn Mộng Giác — Lời cuối cho một bộ trường thiên Hồ Đình Nghiêm — Gạch nối (truyện ngắn) Lê Bi — Sử mai (thơ) Nguyễn thị Hoàng Bắc — Mây lạc (truyện ngắn) Chân Phương — Ứng khẩu giữa nhà bếp và phòng ngủ (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh — Mùa hè đỏ lửa Phan Nhật Nam (thơ) Ngu Yên — Du phiếm (thơ) Diệu Tần — Hóa thân (thơ) Thụy Khuê — Kiệt Tấn, từ Nụ Cười Tre Trúc đến Thương Nàng Bấy Nhiêu (điểm sách) Ngô Nguyên Dũng — Nhạc chuông trong thời băng phiến (truyện ngắn) Lê Hoàng Minh — Cái quyền thứ tư (truyện ngắn) Nguyễn Xuân Thu — Giảng dạy và nghiên cứu Việt học ở Úc châu Thế Uyên — Hai mươi năm sau Phạm Quốc Bảo — Mùa hè tới, ở đâu có tranh đấu dân chủ tự do? Đỗ Kh. — Nói chuyện với Nguyễn Xuân Hoàng về cuốn Sa Mạc |
| 43 | Báo Văn Học — Số 43 (8-1989) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (đã thử ở #39, tốn quá nhiều thời gian giữa batch) |
| 44 | Báo Văn Học — Số 44 (9-1989) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (đã thử ở #39, tốn quá nhiều thời gian giữa batch) |
| 45 | Báo Văn Học — Số 45 (11-1989) Nguyễn Mộng Giác — Nhìn Lại Một Chặng Đường Trần Vũ — Hành Lang Tâm Thần (truyện ngắn) Nhược Thủy — Dòng Sông Sa Mạc (truyện ngắn) Nhược Thủy — Hoa Tháng Bảy (thơ) Nhược Thủy — Trăm Năm Người Vẫn Gọi Về (thơ) Văn Cũng Thường — Áng Mây Mê Ngủ (truyện ngắn) Ngọc Khôi — Kẻ Thứ Ba (truyện ngắn) Sĩ Liêm — Con Chim Thời Tiết (truyện ngắn) Triều Hoa Đại — Cõi Trăng Xa (thơ) Triều Hoa Đại — Có Kẻ Chợt Buồn (thơ) Hoàng Xuân Sơn — Thiên Hương (thơ) Thường Quán — Đêm Sen (thơ) Nguyễn Việt Thường — Bài Ca Của Người Có Đôi Mắt Chim Sâu (thơ) Nguyễn Tôn Nhan — Thèm Xưa (thơ) Võ Đình — Cái Nét Bất Thường Trong Truyện Võ Phiến Nguyễn Đức Lập — Phong Vũ Tiêu Tiêu, Lôi Vũ Động (truyện dài) |
| 46 | Báo Văn Học — Số 46 (12-1989) Nguyễn Đức Lập — Đứa Con Tập Tàng Đinh Thạch Trung — Suối Bãi Sông Hằng (thơ) Bùi Giáng — (thơ, không đề tựa) † Phạm Việt Cường — Một Vũ Trụ Tàn của Wolfgang Hildeseimer (truyện dịch) Trần Vũ — Mưa Bên Chồng (truyện ngắn) Khánh Trường — Có Yêu Em Không (truyện ngắn) Quỳnh Giao — Những Người Chết Đuối Trên Cạn Trong Mùa Biển Động Của Nguyễn Mộng Giác (điểm sách) Phạm Công Thiện — Giải Thưởng Văn Chương Nobel năm 1989 Tiểu Thuyết Gia Camilo José Cela Một Nền Văn Chương Đen Tối, Tàn Bạo, Hoang Trống, Khôi Dị, Điên Loạn, Khốc Liệt Và Vô Cùng Thơ Mộng (văn học nước ngoài) Vũ Thùy Hạnh — Thu (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh — Sinh Nhật (thơ) † Hoàng Xuân Sơn — Trăng Mùa (thơ) Nguyễn Việt Thường — Đá Và Mặt Nạ (thơ) Thường Quán — Trưa (thơ) Thường Quán — Chiều Tận (thơ) Phạm Việt Cường — Bảy Chấm (thơ) Chân Phương — Sáu Đoạn Tứ Tuyệt (thơ) Cao Đồng Khánh — Hoàng Hạc (thơ) Nguyễn Xuân Hoàng — Tiếng Đàn Tự Do Bên Bức Tường Ô Nhục (sổ tay văn học) Nguyễn Mộng Giác — Tạp Ghi Nguyễn Đức Lập — Phong Vũ Tiêu Tiêu, Lôi Vũ Động (truyện dài) Hoàng Khởi Phong — Trâu Đồng Ta Ăn Cỏ Đồng Ta (đất và người) |
| 47-48 | Báo Văn Học — Số 47-48 (1-1990) XUÂN CANH NGỌ † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 49 | Báo Văn Học — Số 49 (3-1990) VĂN CHƯƠNG PHẢN KHÁNG? Nguyễn Mộng Giác — đôi điều suy nghĩ Nguyễn Đức Lập — cảm nghĩ rời Nghiêm Xuân Hồng — gorbachev, bàn tay siêu bí ngạn Nghiêm Xuân Hồng — qua sông ni liên (thơ) Nguyễn Hưng Quốc — thơ mai thảo, tiếng mưa thầm Trần Sa — dặn bàn tay phải (thơ) Trần thị Kim Lan — điệp khúc (thơ) Thường Quán — cửa tân niên (thơ) Mai Thảo — mỹ không ăn liền (truyện ngắn) MLP — hỏi trăng (thơ) Huỳnh Liễu Ngạn — bài thơ xuân (thơ) Chân Phương — vài nhận xét về thơ Đỗ Kh. Ngọc Khôi — chỗ trọ trong rừng chuối (truyện ngắn) Cao Xuân Huy — luật báo chí 1990 Trần Thiện Hiệp — (thơ, không đề tựa) † Khế Iêm — rừng sâu (truyện ngắn) Nguyễn Kỳ Anh — như câu hát ru em (truyện ngắn) Phạm Việt Cường — phép lạ (thơ) Luân Hoán — sáu tám vu vơ (thơ) Chân Phương — bài thơ tân gia (thơ) Trần văn Tích — một số vấn đề văn học... Trần Văn Lệ — tìm một chỗ ngồi (thơ) Hoàng Đỗ — tuổi trẻ việt nam và tiểu thuyết hiện đại Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lôi vũ động (truyện dài) |
| 50 | Báo Văn Học — Số 50 (4-1990) VĂN CHƯƠNG PHẢN KHÁNG? Thụy Khuê — đại hội nhà văn Việt nam lần thứ IV Bửu Tiến — tham luận Định Nguyên — những tưởng (thơ) Trần Sa — họ chẳng có gì để tự vệ (thơ) Trầm Phục Khắc — nuôi bền (thơ) Hà Nguyên Thạch — lên đồi đón xuân (thơ) Hoàng Khởi Phong — ly thân, một trường hợp điển hình... Nhật Tiến — về dòng văn chương phản kháng Vũ Huy Quang — vài cảm nghĩ nhân đọc vàng lửa Vạn Giả — phôi pha (thơ) Nguyễn Huy Thiệp — vàng lửa (truyện ngắn) Nguyễn Ý Thuần — như diều đứt dây (truyện ngắn) Nguyễn Xuân Hoàng — thư gửi T. đang ở Sàigòn (tạp ghi) Lê Diệp Cẩm — trở lại biển, (thơ) † Thập Lang — của hương hỏa... (truyện ngắn) Tôn Thất Hưng — trăng (thơ) Lê Giang Trần — nguyệt rơi (thơ) Đông Nhân — nhật ký thiên an môn Phạm Văn Hải — xem buổi sáng một mình Hoàng Xuân Sơn — thủy thạch (thơ) Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) |
| 51 | Báo Văn Học — Số 51 (5-1990) Nghiêm Xuân Hồng — biện chứng của loài bò sát Hoàng Xuân Sơn — nam phố (thơ) Thụy Khuê — tiến trình văn học phản kháng từ 1980 đến 1990 Trịnh Y Thư — chiều đứng bên sông (thơ) Trương Vũ — vài suy nghĩ liên quan đến văn chương phản kháng Thập Lang — sĩ phu và sinh mệnh dân tộc Triều Hoa Đại — kinh đêm (thơ) Chân Phương — phía mặt trời lặn (truyện ngắn) Ngữ An — (thơ, không đề tựa) † Huy Lực Bùi Tiến Khôi — (thơ, không đề tựa) † Ngô Nguyên Dũng — đêm hóa trang (truyện ngắn) Nguyễn Đức Tùng — (thơ, không đề tựa) † Dương Như Nguyện — mùi hương quê (truyện ngắn) Trần Sa — ngày nào là ngày giỗ mẹ (truyện ngắn) † Trần văn Tích — tỳ bà hành, một kiệt tác dịch thơ hán ra thơ việt Thường Quán — đêm tháng giêng đọc bạch cư dị (thơ) Lê Bi — (thơ, không đề tựa) † Khế Iêm — trong một thoáng nhìn trời sao mà chuyển mộng (thơ) Hoàng Khởi Phong — đọc cánh cửa của nhật tiến Quỳnh Giao — căn nhà ngói đỏ của barbara, cảm nghĩ khi đọc tập truyện nguyễn xuân hoàng Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) |
| 52 | Báo Văn Học — Số 52 (6-1990) Nghiêm Xuân Hồng — một khuôn mặt populist: dương thu hương Thụy Khuê — những bài lý luận và phê bình Trương Vũ — những thiên đường mù, văn chương phản kháng trong tác phẩm dương thu hương Lưu Nguyễn — bóng ngựa (thơ) Bùi Bích Hà — tôi đọc Ly Thân của Trần Mạnh Hảo Hoàng Xuân Sơn — tiếng hát lên đường (thơ) Vũ Huy Quang — thông điệp của Ly Thân... và Trần Mạnh Hảo Mai Kim Ngọc — cứu lấy trẻ con Ngô Nguyên Dũng — đuổi gió (thơ) Kiệt Tấn — đọc buồn xưa bây giờ của Thụy Khanh Thụy Khanh — ngâm thơ cổ nhớ người Khánh Trường — nào có gì đâu, tôi đang sống đấy mà (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh — vàng nắng (thơ) Lê Anh Tuấn — nhớ trường sơn (thơ) Mịch La Phong — nhân nghĩa phù vân (thơ) Bắc Phong — nỗi mâu thuẫn hồng kông (thơ) Giang Hữu Tuyên — vườn mía (thơ) Nguyễn thị Hoàng Bắc — bài thơ cho ngôi nhà thờ đá (truyện ngắn) Hương Nhỏ — tiếng nói (truyện ngắn) Phan Tấn Hải — đọc mẹ quê hương và nước mắt của Vĩnh Hảo Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) |
| 53-54 | Báo Văn Học — Số 53-54 (7&8-1990) Nguyễn Hưng Quốc — phong trào đổi mới văn học tại việt nam: từ phản tỉnh đến phản kháng Nguyễn thị Chân Quỳnh — tinh phi, chiêu nghi, lễ sư, diệu huyền nguyễn thị du, vị nữ trạng nguyên độc nhất của ta sinh năm nào? Nguyễn Ý Thuần — hạt giống thui mầm Trần Sa — hẹn chiêm bao (thơ) Cao Hoàng — cancion triste khúc nhạc dưới trăng Khoa Hữu — đời hoang (thơ) Ngô Nguyên Dũng — nở muộn Hà Trung — bệnh (thơ) Trần Thiện Hiệp — chia em ngần ấy điều ta có (thơ) Chân Phương — những tấm ảnh mới nhất của mùa xuân (thơ) Thái Tú Hạp — ảo giác (thơ) Nguyễn Tấn Hưng — đổi đời (thơ) Trịnh Y Thư — câu chuyện ở tiệm ăn Thạch Miên — mưa (thơ) Thường Quán — trăng đầu (thơ) Nguyễn Tất Nhiên — minh khúc chín (thơ) Hoàng Khởi Phong — nắng chiều hải đảo Sĩ Liêm — gió lay bông sậy Cheo Reo — chuyện tình viết lại Trần Vũ — pháo thuyền trên dòng yang tsé Nguyễn Hưng Quốc — những họa phẩm của trần vũ Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) |
| 55 | Báo Văn Học — Số 55 (9-1990) Nguyễn Mộng Giác — phan huy ích ở phú xuân Nguyễn Xuân Hoàng — người khách Huỳnh Liễu Ngạn — phương trời (thơ) Mai Kim Ngọc — trốn về dĩ vãng Trần Sa — men mùa hạ (thơ) Hoàng Xuân Sơn — ngôn ngữ (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh — (thơ, không đề tựa) † Khánh Trường — thảm cỏ nát trong khu vườn hoang Nguyễn thị Ngọc Nhung — chuyện tình, đoạn cuối Giang Hữu Tuyên — tiếng kêu (thơ) Trần Dạ Từ — nụ hôn nhỏ (thơ) Trầm Phục Khắc — bên này - một người (thơ) Thụy Khuê — võ phiến Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) |
| 56 | Báo Văn Học — Số 56 (10-1990) Trần văn Tích — văn học "hại nay thói thuần" † Ngữ An — anh nhớ ra rồi - như chuyện mười năm (thơ) Võ Phiến — đối thoại về thịt cầy Trần Vũ — yêu người quan họ Phó Ngọc Văn — khói sóng (thơ) Thanh Tâm Tuyền — trú mưa trên phố hòa hưng - vượt biên (thơ) Triều Hoa Đại — mây bay tình cũ (thơ) Trần Mộng Tú — vàng thu - siu gương (†) - suối và lệ (thơ) Mai Hà — bông giấy - nụ cười - đưa võng - phố cũ (thơ) Hàn Song Tường — hạ thảo (thơ) Ngu Yên — những sợi tình cho nhau (thơ) Định Nguyên — môi điều (thơ) Isaac Bashevis Singer & Nguyễn thị Khoa Phương — nàng phù thủy (dịch) Thụy Khuê — võ phiến, văn học miền nam tổng quan Václav Havel — nghĩ về kafka (dịch) Trương Vũ — người đọc sách với cái thật, giả trong văn Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) |
| 57 | Báo Văn Học — Số 57 (11-1990) Nguyễn thị Chân Quỳnh — khoa cử dưới triều nguyễn Thanh Tâm Tuyền — bài nhớ thi sĩ (thơ) Nhược Thủy — phiến diện (truyện ngắn) Hoàng Xuân Sơn — lời quê (thơ) Thường Quán — gởi đường xuân và trận gió trưa (thơ) Khánh Trường — bí mật của rừng già (truyện ngắn) Lê Giang Trần — nhớ người tháng tám (thơ) Phạm Đình Cương — trong trí nhớ cuồng thầm (thơ) Vũ Hạ — tự hỏi (thơ) Raymond Carver & Mai Kim Ngọc — căn nhà của ông tá (truyện ngắn, phóng dịch) Thập Lang — nửa giọt máu bên kia (truyện ngắn) Chân Phương — chuyện phào (thơ) Phan Tấn Hải — trân trọng làm thơ (thơ) Sĩ Liêm — tình buồn câu vọng cổ (truyện ngắn) Sinh Hoạt Văn Học Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) |
| 58 | Báo Văn Học — Số 58 (12-1990) Đoàn Khoách — thắp nén hương lòng nhân năm mươi năm ngày giỗ cụ phan Lưu Huy Lạc — ở đêm (thơ) Nguyễn Đức Lập — phan bội châu, một chiến sĩ văn hóa Ngu Yên — biết làm sao bây giờ (thơ) Antoine de Saint Exupéry & Võ Đình — thư cho một con tin (dịch) Hoàng Xuân Sơn — ngụ ngôn (thơ) Hồ Đình Nghiêm — xin níu lại giùm (truyện ngắn) Mịch La Phong — lạc phụng (thơ) Vũ Thùy Hạnh — đêm im lặng (thơ) Chân Phương — giáng sinh (thơ) Nguyễn Mạnh Trinh — bài thơ cho gió tháng chạp (thơ) Lê Duy Linh — isaac bashevis singer với văn chương yiddish Isaac Bashevic Singer & Lê Duy Linh — gimple khờ (truyện ngắn, dịch) Lê Bi — địa chỉ lòng tôi (thơ) Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu... (chuyện dài) Thời sự Văn Học Thụy Khuê — trả lời ông Nguyễn Ái Anh |
| 59-60 | Báo Văn Học — Số 59-60 (1&2-1991) XUÂN TÂN MÙI Nguyễn Mộng Giác — góp ý về một cách nhìn (nhận định) Võ Đình — cuối năm nhớ khái hưng (tiểu luận) Khoa Hữu — sông đông êm đềm (thơ) Khoa Hữu — chị tôi (thơ) Vũ Quỳnh Hương — nẻo quyên ca (truyện ngắn) Phan Ni Tấn — tám bài tứ tuyệt gửi bạn ngày xuân (thơ) Bùi Vĩnh Phúc — mùa xuân nhìn gió trời ngất ngất (thơ) Luân Hoán — xuân ca (thơ) Trần Vũ — ben hur và messala (truyện ngắn) Hoàng Liên — con đường số chín (tùy bút) Nguyễn Đức Lập — kho tàng quý nhất (truyện ngắn) Hoàng Xuân Sơn — sao chẳng là xuân (thơ) Trần Sa — còn cả một đêm dài (thơ) Nguyễn thị Hoàng Bắc — ruồi (truyện) Khánh Trường — chỗ ngồi sau cửa sổ (truyện ngắn) Thụy Khuê — những ngày tháng ấy (tùy bút) Đỗ Quý Toàn — thơ ở làng cây phong Thập Lang — đối thoại với kẻ bỏ đảng (truyện ngắn) Ngọc Khôi — những ngôi nhà mà tôi đã ở (truyện ngắn) Lưu Hy Lạc — thưa em (thơ) Triều Hoa Đại — bài ca dao xuân (thơ) Thường Quán — trưa xuân về qua nhà cũ (thơ) Chân Phương — lời bạt cho những bì thư rỗng (thơ) Hoàng Khởi Phong — sông không sâu (truyện ngắn) Tranh bìa: Khánh Trường; Phụ bản: Thái Tuấn - Đinh Cường - Nguyễn Trọng Khôi |
| 61 | Báo Văn Học — Số 61 (3-1991) Trần văn Tích — chuyện vặt làng văn (biên khảo) Nguyễn Ngọc Bản Mường — bản mường (thơ) Khoa Hữu — tuyên ngôn của thơ (thơ) Trần Ái Nhân — tương lai - hãy nhắc anh (thơ) Mai Thảo — chạy bộ kiểu mỹ (truyện ngắn) Trần thị Lai Hồng — đông miên (thơ) Luân Hoán — bi ca (thơ) Ngô Nguyên Dũng — núi man rợ (truyện ngắn) Trần thị Diệu Tâm — một mẩu tin buồn (tùy bút) Ngữ An — cuối năm hoàng hôn (thơ) Sĩ Liêm — tình nghĩa thầy trò (truyện ngắn) La Toàn Vinh — suy niệm cho một ngày (thơ) Nguyễn Tất Nhiên — mưa nhẹ (thơ) John Broadus & Thanh Hương — nhớ, sợ và yêu (truyện ngắn, dịch) Đoàn Nhật Tấn — một vấn đề trong chính tả quốc ngữ: khôi phục lại dấu nối (biên khảo) Tôn Thất Ngự — giao thừa (thơ) Cao Xuân Huy — người muôn năm cũ (tạp bút) Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lối vũ động (truyện dài) Tranh bìa: Võ Đình; Phụ bản: Nguyễn Trọng Khôi |
| 62 | Báo Văn Học — Số 62 (4-1991) Minh Đức Hoài Trinh — đọc tô đông pha trong những năm tháng lưu đầy (biên khảo) Chân Phương — lý lịch của lời (thơ) Trần Mộng Tú — nhớ (thơ) Vĩnh Hảo — những ván cờ (truyện ngắn) Trúc Chi — vô đề (thơ) Lê Đại Lãng — mẹ ngồi che nắng lóng xương cha (truyện ngắn) Lưu Hy Lạc — mai về (thơ) Hoàng Mai Đạt — cái chết giết vợ tôi (truyện ngắn) Hoàng Xuân Sơn — đầu ngày (thơ) Trần thị Lai Hồng — hoa, bạn (thơ) Nguyễn Tất Nhiên — tình ơi hởi tình (thơ) Hàn Song Tường — gió núi (thơ) Cao Đồng Khánh — rừng lá rộng (thơ) Trần Mạnh Hảo — không đề, nắng mưa, buộc (thơ) Văn Cũng Thường — có một dòng sông. hư không (truyện ngắn) Hoài Mỹ — quần dọng (truyện ngắn) Đỗ Quý Toàn — thuyền nhân: trận động đất thứ ba trong nửa thế kỷ (điểm sách) Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lối vũ động (truyện dài) Tranh bìa: Khánh Trường; Phụ bản: Hà Quốc Huy |
| 63 | Báo Văn Học — Số 63 (5-1991) Trần văn Tích — mảnh quần hồng hoen ố rượu rơi (biên khảo) Nguyễn Tất Nhiên — em yêu dấu (thơ) Trúc Chi — tiếc (thơ) Võ Đình — "thằng môđi" và người nữ việt nam (phê bình) Cao Đồng Khánh — cánh cửa phù dung (thơ) Khánh Trường — những bàn tay đẹp (truyện ngắn) Phó Ngọc Văn — nhuận (thơ) Lưu Nguyễn — trăm năm một thoáng tà dương bay vèo (thơ) Triều Hoa Đại — phố núi (thơ) Hồ Đình Nghiêm — ma đè (truyện ngắn) La Toàn Vinh — dấu chân trên tuyết (thơ) Vạn Giả — hệ lụy (thơ) Dino Buzzati & Nguyễn Khanh — bạn vàng (truyện ngắn, dịch) Trần thị Diệu Tâm — tìm trong quá khứ (truyện ngắn) Dương Như Nguyện — em đã yêu bóng tối từ thuở tay anh kề cận (thơ) Phạm thị Ngọc — mảnh vỡ (truyện ngắn) Nguyễn Mạnh Trinh — đọc ánh sáng và bóng tối, hồi ký hoàng liên (điểm sách) Quỳnh Giao — đọc thi phẩm tĩnh tọa của hoàng liên (điểm sách) Nguyễn Đức Lập — phong vũ tiêu tiêu, lối vũ động (truyện dài) Tranh bìa: Nguyễn Trọng Khôi |
| 64 | Báo Văn Học — Số 64 (6-1991) Mai Thảo — ngoài muôn bến (tùy bút) Chân Phương — (thơ, không đề tựa) † Trần Sa — (thơ, không đề tựa) † Ngu Yên — những hoang mang khi thơ hỏi về sáng tác (biên khảo) Lưu Hy Lạc — (thơ, không đề tựa) † Thường Quán — (thơ, không đề tựa) † Phạm Việt Cường — (thơ, không đề tựa) † Thụy Khuê — tìm hiểu thi ca (biên khảo) Ngu Yên — (thơ, không đề tựa) † Luân Hoán — (thơ, không đề tựa) † Triệu Châu — hai mươi âm hưởng từ thơ "lộc trại" của vương duy (biên khảo) Hoàng Xuân Sơn — (thơ, không đề tựa) † Huỳnh Liễu Ngạn — (thơ, không đề tựa) † Đinh Cường — hoàng cầm, nhà thơ cho tôi yêu sông đuống (tạp văn) Như Chi — (thơ, không đề tựa) † Lê văn Lân — hàn mạc tử: đau khổ và thơ (biên khảo) Trần Mộng Tú — (thơ, không đề tựa) † Phan Ni Tấn (N.D.) — (thơ, không đề tựa) † Phạm Việt Cường — hai nhà thơ trẻ tiệp khắc Cao Đồng Khánh — (thơ, không đề tựa) † Hồ Ông — (thơ, không đề tựa) † Tường Vũ Anh Thi — án phòng the, vài góp ý với tác giả trần văn tích Tranh bìa: Đinh Cường |
| 65 | Báo Văn Học — Số 65 (7-1991) Đỗ Quý Toàn — thơ mọc lên như cỏ cây trên mặt đất (tiểu luận) Nguyễn Mộng Giác — đọc lại thơ tuệ sỹ (tạp văn) Hoàng Vũ Đức Vân — (thơ, không đề tựa) † Hoàng Xuân Sơn — (thơ, không đề tựa) † Võ Đình — nhân đọc "lộc trại của vương duy" (tạp văn) Trần Mộng Tú — (thơ dịch, không đề tựa) † Bùi Huệ Thu — (thơ, không đề tựa) † Thụy Khuê — nhận diện thơ (biên khảo) † nói chuyện với lê văn vũ bắc tiến (phỏng vấn) Phạm Chi Lan — (thơ, không đề tựa) † Thập Lang — dòng sông bị nguyền rủa (truyện ngắn) Hoàng Việt Thi — (thơ, không đề tựa) † Vũ Tiến Thủy — mả thuồng luồng bên bờ sông tô lịch (truyện ngắn) Mai Kim Ngọc — (thơ, không đề tựa) † Tôn Thất Ngự — (thơ, không đề tựa) † Trần Sa — câu chuyện hạnh phúc (truyện ngắn) Ngữ An — (thơ, không đề tựa) † Nguyễn thị Hoàng Bắc — xin đón xem hồi sau sẽ rõ (truyện ngắn) La Toàn Vinh — (thơ, không đề tựa) † Khánh Trường — đêm ngày một cõi (truyện ngắn) Phạm Việt Cường — (thơ, không đề tựa) † Vạn Giả — (thơ, không đề tựa) † Trần văn Tích — thương xác cùng ông tường vũ anh thy Hoàng Sử Mai — góp ý với ông tường vũ anh thy Tranh bìa: Nguyễn Đồng |
| 66 | Báo Văn Học — Số 66 (8-1991) Đoàn Khoách — bùi hữu nghĩa, một bài thơ ít người biết (biên khảo) Đỗ Quý Toàn — ánh lửa mênh mang buổi tình đầu (tiểu luận) Lưu Hy Lạc — (thơ, không đề tựa) † Thụy Khuê — nói chuyện với họa sĩ thái tuấn Thái Tuấn — thưởng ngoạn nghệ thuật Chân Phương — (thơ, không đề tựa) † Thế Giang — dựng cờ tây và dựng một văn nghiệp (tạp văn) Phan Ni Tấn — (thơ, không đề tựa) † John Broadus & Thanh Hương — cát bụi (truyện ngắn, dịch) Luân Hoán — (thơ, không đề tựa) † Phan Thị Trọng Tuyến — mùa xuân và những con dã tràng (truyện ngắn) Triều Hoa Đại — (thơ, không đề tựa) † Hoài Mỹ — cái chào (truyện ngắn) Trần Mộng Tú — mặt ngọc phương đông (truyện ngắn) Nguyễn Mạnh Trinh — đọc "tiểu thuyết vô đề", truyện dài dương thu hương Tranh bìa: Nguyễn thị Hợp |
| 67 | Báo Văn Học — Số 67 (9-1991) Nguyễn thị Chân Quỳnh — khoa cử thời hậu lê dưới mắt samuel baron Triều Hoa Đại — (thơ, không đề tựa) † Thanh Tâm Tuyền — (thơ, không đề tựa) † Hoàng Liên — ánh đèn ngoài khung cửa sổ Hồ Ông — (thơ, không đề tựa) † Thập Lang — chiếc thúng trôi sông Huỳnh Liễu Ngạn — (thơ, không đề tựa) † Ngô Nguyên Dũng — người đi bên cạnh tôi Trần Sa — (thơ, không đề tựa) † Phạm thị Ngọc — florence Nguyễn Lý — (thơ, không đề tựa) † Hoàng Xuân Sơn — (thơ, không đề tựa) † Nguyễn Mạnh Trinh — nói chuyện với nhà văn võ phiến Đoàn Nhật Tấn — (thơ, không đề tựa) † Trần Văn Tích — đọc "sông côn mùa lũ" Tranh bìa: Võ Đình; Phụ bản: Trần Sa |
| 68 | Báo Văn Học — Số 68 (10-1991) Thế Uyển — Văn nghị luận của miền Nam 1923 qua Hồ Biểu Chánh Khoa Hữu — (thơ) Thụy Khuê — (thơ, văn xuôi và văn vần) Khế Iêm — (thơ) Hồ Đình Nghiêm — Ngôi Sao Xấu Thường Quán — (thơ) Katherine Mansfield (Nguyễn Thị Chân Quỳnh dịch) — The Garden Party † (chữ in mờ/chồng ngay sau tựa, không đọc rõ đoạn tiếp) Trần Mộng Tú — (thơ) Trần Thị Diệu Tâm — Ngày Hè Trên Biển Luân Hoán — (thơ) Văn Cũng Thường — Đêm Trăng Đầy Ở Làng Saint Rémy Phan Ni Tấn (N.D.) — (thơ) La Toàn Vinh — (thơ) Quỳnh Giao — Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Một Thời Đã Qua... |
| 69 | Báo Văn Học — Số 69 (11-1991) Dương Đức Nhự — Đổi Mới Chữ Quốc Ngữ Vạn Giả † — (thơ) Hoàng Xuân Sơn — (thơ) Đoàn Nhật Tấn — Thảo Luận Với Độc Giả Về Vấn Đề Phục Hồi Dấu Nối Trong Chính Tả Việt Ngữ Nguyễn Mạnh Trinh — (thơ) Thụy Khuê — Ẩn Dụ Trong Thơ † (không rõ tác giả) — Nadine Gordimer: Nobel Văn Chương 1991 Cao Xuân Tứ — (thơ) Nadine Gordimer (Phạm Việt Cường dịch) — Khoảng Trống Niềm Tin Khế Iêm — (thơ) Thường Quán — (thơ) Trịnh Y Thư — Bẫy Chết Lưu Hy Lạc — (thơ) Hoài Mỹ — Ông Nguyễn Huỳnh Liễu Ngạn — (thơ) Thế Uyển — Đọc Sách Trong Tháng Nguyễn Đức Lập — Mảnh Vụn Một Đời |
| 70-71 | Báo Văn Học — Số 70-71 (12-91&1-92) XUÂN NHÂM THÂN † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 72-73 | Báo Văn Học — Số 72-73 (2&3-1992) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 74 | Báo Văn Học — Số 74 (6-1992) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 75 | Báo Văn Học — Số 75 (7-1992) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC (Thư Tòa Soạn kể tên tác giả bằng văn xuôi nhưng không ghi số trang) — cần trích tay từng bài sau |
| 76 | Báo Văn Học — Số 76 (8-1992) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 77 | Báo Văn Học — Số 77 (9-1992) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 78 | Báo Văn Học — Số 78 (10-1992) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 79 | Báo Văn Học — Số 79 (11-1992) Đặc biệt về truyện ngắn † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 80-81 | Báo Văn Học — Số 80-81 (12-92&1-93) XUÂN QUÝ DẬU † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 82 | Báo Văn Học — Số 82 (2-1993) tân niên † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 83 | Báo Văn Học — Số 83 (3-1993) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 84 | Báo Văn Học — Số 84 (4-1993) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 85 | Báo Văn Học — Số 85 (5-1993) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 86 | Báo Văn Học — Số 86 (6-1993) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 87 | Báo Văn Học — Số 87 (7-1993) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 88 | Báo Văn Học — Số 88 (8-1993) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 89 | Báo Văn Học — Số 89 (9-1993) nhà văn Christa Wolf † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 90 | Báo Văn Học — Số 90 (10-1993) Tưởng niệm thi sĩ Quách Tấn † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 91 | Báo Văn Học — Số 91 (11-1993) Mai Kim Ngọc — toni morrison, giải nobel 1993 Nguyễn Bình Giang — † nhũ lòng, bất lực, thân phận Ngu Yên — ngày 25 tháng 8 Thạch Hãn — toni morrison: hiển vinh cho người da màu Nguyễn Sơn — rồi mai phố thị em về Trần Hồng Châu — núi Võ Đình — chuyện anh tư Phạm Việt Cường — coup de grâce Hạo Nhiên — lửa người Cổ Ngư — bên sông nước cuốn Du Tử Lê — thư gửi tuyển ở, sài gòn và, trịnh, phụng ở đà nẵng Đoàn Nhật — ngày hẹn ở biển xưa Ngự Thuyết — dọc đường Hồ Phố Lại — nghĩ thân phù thế Phan Ni Tấn (N.D.) — về châu đốc Triều Hoa Đại — đêm bỗng trăng Triều Hoa Đại — đong đưa nắng chiều Trần Mộng Tú — vằng vặc trăng rằm Mai Kim Ngọc — lập thu Mai Kim Ngọc — huế Bernard Cooper (Trương Mỹ Vân dịch) — hái mận Sử Mặc — ẩn dòng, khổn xích Sĩ Liêm — nắng đỏ sau hè Hoàng Xuân Sơn — buồn lô dung Christa Wolf (Thạch Hãn dịch) — còn lại được gì Duy Lam — người thi sĩ già |
| 92 | Báo Văn Học — Số 92 (12-1993) Tuyển tập thơ văn Tất Niên 1993 Tạ Quốc Tuấn — bản chất thực của nhà triệu Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng — mưa rơi Triệu Châu — hội chứng tiêu viễn sơn Định Nguyên — tử sinh Thường Quán — cánh Nguyễn Bình Giang — khước từ, miền cố quận, qua chiều, mẹ ơi Trần Doãn Nho — cuộc chiến đấu Trần Hồng Châu — hành lộ nan Luân Hoán — quẩy bạn hè 93 Chân Phương — tự họa, một, tự họa, hai Cổ Ngư — giấc ngủ của mặt trời Nguyên Sơn — từ tà áo em Hàn Song Tường — tháng chạp Hoàng Chính — tên trộm Hoàng Xuân Sơn — nhớ anh võ ngọc trác Đặng Hiền — đã qua một ngày không gọi nhau Trần Mộng Tú — rượu thu, trăng kim nhũ, vào thu, mưa xanh Nguyễn Nguyên Thanh — bàn tay cụp bàn tay xòe: phạm tiến duật từ "vòng trắng" đến "số không" Hoàng Xuân Giang — vàng thu tháng mười Nghiêu Đề — là cỏ qua rừng... Mai Kim Ngọc — chị em |
| 93-94 | Báo Văn Học — Số 93-94 (1&2-1994) Xuân Giáp Tuất Tạ Quốc Tuấn — xuân xa nhà... thi ca việt nam Võ Phiến — bé bổ địch Trần Hữu Thục — xuân tình trong đường thi Nguyên Sa — mùa xuân Định Nguyên — vong quốc hành Trần Mộng Tú — thư viết đêm giao thừa Phan Ni Tấn (N.D.) — para elisa Luân Hoán — mời em lên ngựa Hoàng Liên — một ngày cuối năm Cao Xuân Huy — vãi bao cát Nguyễn Chí Kham — trắc ẩn Triệu Châu — hoa vì ta nở Nguyên Sơn — mùa xuân nối dài sợi gọi Thái Tuấn — một nhà sưu tập tranh Khế Iêm — cái gốc của thơ Cao Xuân Tứ — xuân Bùi Bích Hà — những cái thùng giấy Khế Iêm — chốn khác Quỳnh Giao — baccara Lê Thị Huệ — những viên kẹo,... Đinh Phụng Tiến — chuyến tàu quê hương Duy Lam — ai về? Trần Doãn Nho — cái giá của mùa xuân Nguyễn Chí Kham — ga lữ thứ Thường Quán — mùa xuân Phạm Chi Lan — tiếng động lá Chân Phương — sinh nhật của tôi và gió Hồ Phố Lại — bóng ngả, đêm về Hoàng Xuân Sơn — cỏ chi mùa đông - đường dừng Ngự Thuyết — chợ Nguyễn Nguyên Phương — kỷ niệm Song Thao — dong đưa cuộc tình Trần Hồng Châu — florida Nguyễn Minh Đức — đi đêm Trúc Chi — phú xuân thành hoài cảm Huỳnh Liễu Ngạn — phải chi em là mộng Trương Anh Thụy — bên trong thơ du tử lê Mai Kim Ngọc — chị em Nguyên Khai — tranh bìa |
| 95 | Báo Văn Học — Số 95 (3-1994) Trương Vũ — nói với chàng siêu Võ Phiến — họ đâu rồi? Trần Văn Tích — y, dược và chưởng, kiếm Vạn Giả — đồng âm Thạch Hãn — gặp gỡ Ngũ An — hoa tháng mười hai Ngũ An — lá tháng giêng La Toàn Vinh — đêm lưu lạc Cao Xuân Huy — cái lưỡi câu Đỗ Quyên — thi đàn Mai Kim Ngọc — núi Lê Tín Hương — nơi chốn phải về Cổ Ngư — đời thường Hoàng-Vũ Đức-Vân — quang hành khúc Trần Hoài Thư — thằng nhỏ bỏ đi Thường Quán — bước ra Jane M.H. Schereck (Nguyên Châu chuyển ngữ) — chiếc bánh hồng đào Hoàng Khởi Phong (phỏng vấn, Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện) — một cuốn sách, một cuộc phỏng vấn và những mảnh đời trong chiến tranh Xuân Vũ — sự phẫn nộ và nét điêu tàn trong tâm hồn thơ của triều hoa đại |
| 96 | Báo Văn Học — Số 96 (4-1994) Trần Văn Tích — ký Tô Thùy Yên — di về Võ Phiến — có khi... Đặng Phùng Quân — trường hợp trần đức thảo Lê Thị Thấm Vân — đợi chờ Trần Hồng Châu — biển yêu mê Hoàng Chính — tình ở đài bắc Yên Ty — câu hỏi Đoàn Nhật — không thấy mình đâu Ngô Nguyên Dũng — đàn lạnh Lê Tín Hương — trên dốc đồi Trần Mộng Tú — mười bảy năm mười bảy đoạn thơ Trần Doãn Nho — lạnh lẽo ánh trăng Hoàng Xuân Sơn — hóa thân Cao Xuân Tứ — bạn Phan Ni Tấn (N.D.) — qua cù lao ông chưởng Ngự Thuyết — dậy mà đi Hằng Hà Sa — đàn tiên Trúc Chi — nhắn gió Mai Kim Ngọc — chị em Huỳnh Liễu Ngạn — huế ơi |
| 97 | Báo Văn Học — Số 97 (5-1994) Tạ Chí Đại Trường — cơn mộng du ba mươi năm Võ Phiến — tiếng hát biên thùy Nguyễn Xuân Nghĩa — chương sáu: bước ra thế giới cạnh tranh Trần Hồng Châu — ngã ba sỏi đá Nguyễn Xuân Quang — † cái là được? Lê Tín Hương — bước mãi, dường như bước đã thừa Ngọc Khôi — au bon accueil Vạn Giả — bỗng nhiên Đỗ Quyên — lá thư chép lại Đỗ Quyên — lá thư chiều nay Ngô Thế Vinh — giã biệt cựu kim sơn Đặng Hiền — trong cuộc tình ân hận Mai Kim Ngọc — chị em Hoàng Xuân Sơn — cali, mười ba. chuyến muộn Lê Thị Thấm Vân — mặt đất và em Nguyễn Mộng Giác — đọc "người trăm năm cũ" của hoàng khởi phong |
| 98 | Báo Văn Học — Số 98 (6-1994) Trần Hồng Châu — đi vào mê hồn trận của thơ và tiếng nói Đặng Phùng Quân — trường hợp trần đức thảo Khoa Hữu — ly rượu gửi bằng hữu Khoa Hữu — đêm chia tay ở tân sơn nhất Khoa Hữu — viếng mộ đồng đội ở củ chi Khoa Hữu — trở lại thành cổ loa Khoa Hữu — khi ở nam Khoa Hữu — ngày về bắc Khoa Hữu — qua đất quân trường vạn kiếp Khoa Hữu — bản nháp từ di chúc Hồng Huy — nhớ trăng quê hương Ngu Yên — những chiều nắng nhẹ mà hiu Lê Lạc Giao — lối cũ Trúc Chi — viết thử bài thơ tuổi sáu mươi Nguyễn Chí Kham — cánh cửa Mai Kim Ngọc — chị em Thạch Hãn — con tim chưa rộn niềm vui Đặng Hiền — nhớ. |
| 99 | Báo Văn Học — Số 99 (7-1994) Khởi đầu thảo luận về văn học hải ngoại Nguyễn Văn Trung — khái niệm và thể loại văn chương Thế Uyên — góp ý về việc soạn thảo "hai mươi năm văn học hải ngoại" Nguyễn Mộng Giác — văn học lưu vong hay văn học di dân? Đỗ Quyên — em về Nguyễn Huệ Chi — vài cảm nhận văn học việt nam hải ngoại Ngô Nguyên Dũng — say hương tóc cũ Nguyễn Thị Hoàng Bắc — hai mươi năm, những thành phố Hoàng Xuân Giang — yêu em tóc ngắn Hoàng Xuân Giang — em gửi gì không Trần Doãn Nho — người chú Đặng Hiền — mưa chiều tháng sáu Đặng Hiền — tiễn đưa Nguyễn Chí Kham — chiến tranh Nguyễn Chí Kham — đôi mắt Trần Mộng Tú — họa sĩ vẽ chân dung Trương Nhân — trò chơi Nguyễn Mộng Giác — điểm: "cõi sa mù" và "cửa địa ngục" của trần long hồ |
| 100 | Báo Văn Học — Số 100 (8-1994) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 101 | Báo Văn Học — Số 101 (9-1994) Hoàng Khởi Phong — gối đầu lên chữ nghĩa Viên Linh — hai mươi năm văn học hải ngoại Hồ Minh Dũng — đại nội Trần Văn Tích — cùng một lứa Huy Tưởng — đêm trăng chia tay cùng em mọi nhỏ — để nhớ ngày em nhận lời yêu tôi Hoàng Chính — cầu tre lắt lẻo... Lưu Hy Lạc — lên chùa Song Thao — phận người Nguyễn Chí Kham — ngày mới Quỳnh Giao — clara và robert schumann Thường Quán — nói và gởi Đặng Phùng Quân — tiếng nói Luân Hoán — đi thăm quê tình hà nguyên dũng Cổ Ngư — khoảng trống trước mặt Phan Lê Thứ — tâm động Phạm Chi Lan — ý thức về dòng sông Thạch Hãn — tiếng nói việt nam: where the ashes are và south wind changing |
| 102 | Báo Văn Học — Số 102 (10-1994) Hoàng Khởi Phong — gối đầu lên chữ nghĩa (tiếp theo, nói chuyện với Mai Thảo) Trần Văn Tích — phú Trúc Chi — thu Tạ Quốc Tuấn — không gian và thời gian trong thơ vương duy Nguyễn Tấn Sơn — tình ma Mai Kim Ngọc — trong phòng hồi sinh Nguyễn Tấn Sơn — mộng du Trần Doãn Nho — ảo ảnh Trần Hồng Châu — còn lại cây sáo trúc Hoàng Liên — nắng chiều trên thái bình dương Chân Phương — giao hợp với mùa thu Chân Phương — huyền thoại hai người Hoàng Chính — nạn nhân Vạn Giả — mùa nạn Thạch Hãn — tiếng nói việt nam: where the ashes are và south wind changing |
| 103 | Báo Văn Học — Số 103 (11-1994) Văn Học — Kenzaburo Oe, Nobel Văn chương 1994 Triệu Châu — văn học giữa hai cõi Bùi Văn Học — ở bên này munich Cung Trầm Tưởng — † "Ansi parlait le poète" Phan Thị Vàng Anh (Văn Học giới thiệu) — hoa muộn Nguyễn Thị Thu Huệ (Văn Học giới thiệu) — chị tôi Phan Triều Hải (Văn Học giới thiệu) — cửa sổ Thường Quán — phế tích Nguyễn Mộng Giác — triển vọng của văn học hải ngoại Nguyễn Chí Kham — người tình Yuan Ch'iung Ch'iung (Võ Đình Mai dịch) — lỗ tai của người tình Bai Xiao-Yi (Võ Đình Mai dịch) — vụ nổ trong phòng khách Hồ Minh Dũng — mạt lộ Trần Mộng Tú — bóng tối Nguyên Chân — nghĩ chi về đời sống Cổ Ngư — đối nghịch Triều Hoa Đại — đoạn đoạn những ưu phiền Hoài Ziang Duy — mù sương cũng biết mơ Minh Ý — giàn hoa tím Huỳnh Liễu Ngạn — chia cả anh rồi - chia cả sông Robert Olen Butler (Thạch Hãn dịch) — salem Trần Văn Tích — tao đàn nhị thập bát tú tiếng đức Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 104 | Báo Văn Học — Số 104 (12-1994) Số đặc biệt Giải Nobel Văn chương 1994 Triệu Châu — tiền tài trong cõi nhị phân Nguyễn Nam Anh — đi xa với nhà văn nữ kim lefèvre Hoàng Lộc — bữa say ghé chùa ông, hội an Hoàng Lộc — thấm mùi lưu lạc Crystal Brown — nói chuyện với võ đình Trương Mỹ Vân — phản kháng và phẫn nộ trong tác phẩm của kenzaburo oe Trần Hồng Châu — đáo thằng long thành tố như hữu cảm Mai Kim Ngọc — vài cảm nghĩ về kenzaburo oe Kazuo Ishiguro — đối thoại với oe Nghiêm Xuân Hồng — mơ tịch dương Trần Vĩnh Phố — ôi em đàn bà Kenzaburo Oe (Thạch Hãn dịch) — kẻ bị bắt Nghiêm Xuân Hồng — đêm mưa mơ long nữ Trần Doãn Nho — cuộc đời ở một phía khác Hồ Đình Nghiêm — vùng đất thấp Trúc Chi — sực nhớ bài hoàng hạc lâu Hồ Minh Dũng — đám tro tàn ngày ấy Trần Thiện Hiệp — trở về một nơi tạm dung Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 105-106 | Báo Văn Học — Số 105-106 (1&2-1995) Giai Phẩm Xuân Ất Hợi 1995 Nguyễn Văn — vài ghi nhận về sinh hoạt văn chương và xuất bản năm qua Phan Minh Khánh — mùa Trần Văn Tích — ngày tết bàn về mai và bông trong truyện Kiều Trần Mộng Tú — gọi anh mùa xuân Quỳnh Giao — hoàng hoa Luân Hoán — montréal, viếng núi St. Royal Đỗ Quí Toàn — làm thơ ở giữa nhân gian Định Nguyên — đường thi cuồng Đào Trung Đạo — bản đồ tiểu thuyết... Lê Thị Huệ — bên ghềnh Mendocina, nhớ về người hóa đá cũ Lê Thị Huệ — canh thức cùng thơ mộng Diễm Âu — người đàn bà và chiếc ổ rơm Lê Tín Hương — bài ca dao cho em Phùng Quán — chút nghĩa cũ càng Nguyễn Việt Thường — thấy lại chút Sài gòn Trần Hồng Châu — New York, N.Y. gặp lại "croissant doré" Cao Xuân Tú — gửi bạn Tạ Chí Đại Trường — an thái, quê hương - niềm hoang tưởng Ngự Thuyết — ngày giỗ mẹ Hà Trung — ngẫu hứng Ngô Nguyên Dũng — huyền thoại sao Huỳnh Liễu Ngạn — một lần Minh Ý — dải ngân hà năm xưa Ngũ An — chạnh nhớ chiều xưa hồ dzếnh Hoài Ziang Duy — chiều chiều lại nhớ Hồ Minh Dũng — ngày xuân, tình cũ, tạ ơn Đào Trung Đạo — mây vô xứ Mai Kim Ngọc — hư cấu (truyện vừa) Nguyễn Chí Kham — hình ảnh thời gian Nguyễn Mộng Giác — chúc tết Phùng Nguyễn — tháp ký ức Phan Ni Tấn (N.D.) — về bạc liêu Saki (Ng. T. Chân Quỳnh dịch) — người tử tù (truyện dịch) Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 107 | Báo Văn Học — Số 107 (3-1995) Tưởng niệm Phùng Quán (1932-1995) Mai Kim Ngọc — Phùng Quán (1932-1995) Mai Kim Ngọc — Về hai nhà thơ Nga và Phùng Quán Phùng Quán — Chống Tham Ô Lãng Phí Phùng Quán — Lời Mẹ Dặn Nguyễn Đặng — Những lá thư cuối cùng của Phùng Quán Thường Quán — Bài ghi trên vách gỗ Chòi Ngó Sóng Thường Quán — Một góc trời Phùng Quán Thường Quán — Đêm cuối ở Chòi Ngó Sóng Đặng Nguyên Thường — Khúc Hát Mùa Xuân Nguyễn Thế Việt — Từ Truyện Kiều, tìm hiểu quy luật tiếp nhận văn học dân gian Hoàng Xuân Sơn — Đọc Tĩnh Tọa Nguyễn Bá Trạc — Thơ của một người ba phải Nguyễn Thị Vinh — Câu Chuyện văn học Trần Hồng Châu — Em gái cà phê Doãn Quốc Sỹ — Hơi mát Khoa Hữu — Những bài thơ tạm biệt thơ Đào Trung Đạo — Bản đồ tiểu thuyết Trần Vĩnh Phố — Chim quyên ăn trái nhãn lồng Hà Thúc Sinh — Tiếng lòng đất Trần Doãn Nho — Một nơi để đi, một nơi để đến Scott Kraft (Văn Học) — Nên bao cấp văn hoá chăng? Phỏng vấn François Barre Robert Pear (Văn Học) — Jane Alexander biện hộ Nguyễn Huy Thạch — Ghi chép |
| 108 | Báo Văn Học — Số 108 (4-1995) Tạ Chí Đại Trường — Sử học và truyền thống Hùng vương Ngô Nguyên Dũng — Mảnh sáu, tám Tạ Quốc Tuấn — Thơ mới Trung hoa Nguyễn Thuyết Phong — Tiếng hát trên sông Hương Đỗ Thì Kênh G. — Gái quê Du Tử Lê — Sự biện bạch của những cơn bão Nguyễn Nam Anh — Đi xa với Hoàng Xuân Hãn Nguyễn Minh Đức — Thuyền trăng Nguyễn Mộng Giác — Trời xanh, bên kia sông Huỳnh Liễu Ngạn — Mùa lá lục Lâm Chương — † Hâm dịa Hoài Mỹ — Quyên Minh Ý — Cuối đường Trần Thiện Hiệp — Có loài hoa tên thục nữ Trúc Chi — Giọt nắng Hoàng Chính — Vùng ký ức đớn đau Ngu Yên — Hãy cho ta chết giùm đời nhau Trần Doãn Nho — Vướng víu Hoàng-Vũ Đức-Vân — Sáo trúc vô thanh Nguyễn Chí Kham — Thành phố trong hư tưởng Hồ Minh Dũng — Ở Cali phân ưu Phùng Quán Nguyễn Huy Thạch — Ghi chép: Văn học thời kỳ mới ở Trung quốc; Hồi ký về Nam Cao |
| 109 | Báo Văn Học — Số 109 (5-1995) Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại Mai Kim Ngọc — vài cảm nghĩ về văn học hải ngoại Phan Kim Khánh — tương phùng Nguyễn Mộng Giác — hai mươi năm văn xuôi hải ngoại Đặng Hiền — hai mươi năm xa quê Nghiêu Đề — về núi thăm người Lê Đại Lãng — tranh luận về văn học miền nam Nguyễn T. Sông Hương — sơ thảo hai mươi năm văn học hải ngoại Hoàng Xuân Sơn — mù trôi Nguyễn Chí Kham — duyên ước Nguyễn Xuân Hoàng — hai mươi năm, những trang sách,... Mai Thảo — vai trò dưới nắng Nhật Tiến — những dấu chân chim Vạn Giả — thời gian Đỗ Quyên — căn phòng đêm ấy Nguyễn Ngọc Ngạn — tin đồn Nguyễn T. Hoàng Bắc — kéo neo mà chạy Cung Trầm Tưởng — requiem Hà Thúc Sinh — đêm hè Hồ Minh Dũng — mượn Hoài Ziang Duy — sáu mùa đông trên chiếc xe tang Nguyễn Trung Hối — xuân muộn Hoàng Nga — bay đi cánh chim biển Trần Doãn Nho — chiều 29.4 trên đường công lý Hoàng Chính — trí nhớ loài chim Hoàng Lộc — tắm ngựa giùm bạn Phùng Nguyễn — † diện đàm Hà Trung — ở nơi không có một dòng sông Trần Vĩnh Phố — "cách mạng" Nguyễn Huy Thạch — ghi chép Văn Học — giữa người đọc và người viết |
| 110 | Báo Văn Học — Số 110 (6-1995) Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại Trần Văn Tích — văn học trong kim dung Trần Hồng Châu — lên non xuống biển Tạ Chí Đại Trường — lan man từ một quyển sử hiện đại Lê Thị Huệ — trả lời phỏng vấn Lê Thị Huệ — trong khi sáng tạo những nhân mạng Hoàng Xuân Sơn — trần son Bùi Bích Hà — trả lời phỏng vấn Bùi Bích Hà — chỗ về Đặng Hiền — bài hai mươi Hồ Đình Nghiêm — trả lời phỏng vấn Hồ Đình Nghiêm — nhiệt đới Cao Xuân Tú — hành hương Võ Đình — tiểu sử và tác phẩm Võ Đình — bách hương Hoàng Lộc — † dôi dường ân oán Đặng Mai Lan — trong sương mù Nguyễn Hiền — buổi đi thăm bất đắc dĩ Thom Jones (Thạch Hãn dịch) — rửa tay gác kiếm Ngự Thuyết — quê hương Song Thao — gang tấc còn xa Đặng Hiền — mùa xuân và vòng tròn Nguyễn Huy Thạch — ghi chép Văn Học — giữa người đọc và người viết |
| 111 | Báo Văn Học — Số 111 (7-1995) Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại Tạ Quốc Tuấn — bạch thoại trong thơ trung hoa hiện đại Huỳnh Mạnh Tiên — ngải thơ Hoàng Phủ Cương — vào khuya Mai Kim Ngọc — nguyễn quang thiều: một tác giả, hai truyện ngắn, hai văn phong Phan Minh Khánh — tháng 5 Nguyên Sa — trả lời phỏng vấn Nguyên Sa — đo lụa hà đông Nguyên Sa — tháng giêng và anh Nguyên Sa — nói chuyện với phạm công thiện Nguyên Sa — tuyệt chiêu Nguyên Sa — tiếng biển Trần Hồng Châu — trả lời phỏng vấn Trần Hồng Châu — anh không đi về hư vô Trần Hồng Châu — đêm loạn nghe tiếng hát l. t và k.l Trần Hồng Châu — núi yêu một lá Ngu Yên — trả lời phỏng vấn Ngu Yên — cái ấy Ngu Yên — tìm em. âu yếm tôi Vi Khuê — trả lời phỏng vấn Vi Khuê — bà hàng xóm mỹ Du Tử Lê — trả lời phỏng vấn Du Tử Lê — tình yêu, trang ruột và, bìa sách Hoàng Xuân Sơn — trả lời phỏng vấn Hoàng Xuân Sơn — đơn điệu Nguyễn Quí Đức — đêm thâu Hoàng Nga — mộng đời trôi nổi Triều Hoa Đại — chẳng cùng về Nguyễn Ý Thuần — người đàn ông chủ nhật Thơ Thơ — mùa xuân xám Đỗ Thì Kênh G. — tuyệt đỉnh hồng hoang Phùng Nguyễn — nàng và tôi Nguyễn Phan Thịnh — chiều - long lanh Trần Vĩnh Phố — trồng một cây cờ Trần Mộng Tú — dưới gốc hoa đào Nguyễn Hữu Nhật — nhà thơ, hoa vàng, chim khuyên.... Bùi Vĩnh Phúc — quyên đi và mắt nhìn thân ái.... Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 112 | Báo Văn Học — Số 112 (8-1995) Hai mươi năm văn học Việt Nam hải ngoại Nguyễn Văn Trung — văn học hải ngoại? Thụy Khuê — cấu trúc hình thức thi ca Lâm Chương — đọc thư người bạn cũ Võ Phiến — trả lời phỏng vấn Võ Phiến — buổi sáng giữa đồng Lê Tất Điều — tiểu sử & tác phẩm Lê Tất Điều — thơ cao tần Hoàng Liên — tiểu sử & tác phẩm Hoàng Liên — cuốn hồi ký của một người bạn Hoàng Chính — cuối đường khổ nạn Nguyễn Minh Đức — bến mơ Nguyễn Hiền — chiếc sập gụ của gia đình tôi Trần Vĩnh Phố — muộn, ngẫu tượng ở st. denis Trần Doãn Nho — cũng là điều bình thường Trần Hoài Thư — ra biển gọi thầm Nguyễn Phan Thịnh — thơ hoa Phùng Nguyễn — "ruộng gió" Triều Hoa Đại — còn không... Cỏ Đồng — thơ tình Nguyễn Trung Hối — mấy truyện thật ngắn Hoàng Xuân Sơn — cây cũ Trịnh Khắc Hồng — cố hương Nguyễn Chí Kham — thương nhớ Hồ Minh Dũng — vườn bỏ hoang Nguyễn Nguyên Thanh — đọc Phố của Chu Lai Lê Đại Lãng — đọc Đồng Cỏ của nguyễn đình toàn... Phan Minh Khánh — đoản khúc tình Văn Học — giữa người đọc và người viết Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 113 | Báo Văn Học — Số 113 (9-1995) Mai Kim Ngọc — văn học và chính trị Trần Văn Tích — từ trong truyện kim dung Thụy Khuê — nguyên lý song song Trần Thị Lai Hồng — khi về Đoàn Nhật — tháng giêng, tháng hai Ngô Nguyên Dũng — trả lời phỏng vấn Ngô Nguyên Dũng — chủ nhật của những người yêu nhau Hải Phương — khỏa thân Nguyễn Ý Thuần — trả lời phỏng vấn Nguyễn Ý Thuần — cuối năm Vạn Giả — tiếng động từ quá khứ Thế Uyên — trả lời phỏng vấn Thế Uyên — truyện già cao Lệ Hằng — đêm phi châu Đặng Mai Lan — bờ xa đã cạn Thuận Nhiên — kiều ơi! Võ Đình — lầu xép Trần Doãn Nho — nắng trên đồi Trần Mộng Tú — uống trà Nguyên Hương — quà muộn Văn Học — giữa người đọc và người viết Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 114 | Báo Văn Học — Số 114 (10-1995) Nguyễn Ngọc Tuấn — võ phiến, nhà tùy bút Ngu Yên — hai mươi năm thơ hải ngoại Hoàng Xuân Sơn — cây cũ Nghiêm Xuân Hồng — bài ca nằm bệnh Vũ Khắc Khoan — tiểu sử và văn nghiệp Vũ Khắc Khoan — bên kia, bên này Trương Anh Thụy — trả lời phỏng vấn Trương Anh Thụy — ánh mắt Trần Vũ — trả lời phỏng vấn Trần Vũ — nhã nam Mai Kim Ngọc — hà nội Trần Mộng Tú — trả lời phỏng vấn Trần Mộng Tú — anh có yêu không mùa hạ của em? Trần Mộng Tú — hai con thỏ trắng Hoàng Nga — thiên hạ lìa xa Thơ Thơ — cụ và chắt Trần Hoài Thư — cho con, ngày vào trường thuốc Phùng Nguyễn — "rick" Nguyễn Trung Hối — vọng ngôn Huy Văn — giấc mơ sân cỏ Trương Vũ — phía bên kia thiên đường Phan Minh Khánh — tự truyện Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 115 | Báo Văn Học — Số 115 (11-1995) Ngu Yên — giải văn chương nobel 1995 Thạch Hãn — vài suy nghĩ về phía bên kia thiên đường Nguyễn Ngọc Tuấn — võ phiến, nhà tạp luận Cỏ Đồng — hãy thả linh hồn đi lang thang.... Hoàng Chính — trả lời phỏng vấn Hoàng Chính — về cõi trầm luân Hoàng Xuân Sơn — nơi chốn Phạm Ngũ Yên — trả lời phỏng vấn Phạm Ngũ Yên — lang thang cánh gió Võ Kỳ Điền — tiểu sử & tác phẩm Võ Kỳ Điền — một thời để yêu Ngô Tịnh Yên — tình ơi Trang Châu — trả lời phỏng vấn Trang Châu — hãy coi nhau như tình nhân Trang Châu — sinh nhật Luân Hoán — trả lời phỏng vấn Luân Hoán — bài ký niệm tròn 10 năm ở canada Tạ Chí Đại Trường — chập chồng thế kỷ Trần Mộng Tú — núi Trần Doãn Nho — căn phòng thao thức Hoài Ziang Duy — ông tướng sang sông Thơ Thơ — vườn trong mộng tưởng Nguyễn Quốc Trụ — như lính giữa rừng Nguyễn Xuân Thiệp — như một lời chia tay Nguyễn Mộng Giác — viết về chiến tranh việt nam Nguyễn Quí Đức — tâm tình thế hệ trẻ Hồ Minh Dũng — nợ Bùi Vĩnh Phúc — ở một nơi nào Nguyễn Mộng Giác — đọc "vết xước đầu đời" Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 116 | Báo Văn Học — Số 116 (12-1995) Trần Văn Tích — nhà viết sử và tiểu thuyết Cao Xuân Tú — trong xanh - mắt Bùi Bích Hà — linda lê... Ngu Yên — lời của linda nguyễn & đều đều Thụy Khuê — phân tích bài nguyệt cầm Hoàng Lộc — ra tù, về lại hội an Trần Long Hồ — trả lời phỏng vấn Trần Long Hồ — người chị Tường Vi — trăng sáng vườn thu Hoàng Bích Đào — ý thu Vĩnh Hảo — trả lời phỏng vấn Vĩnh Hảo — những ván cờ Nguyễn Hữu Trí — trả lời phỏng vấn Nguyễn Hữu Trí — một lời thề Phan Ni Tấn — ba điệu lý Trần Diệu Hằng — trả lời phỏng vấn Trần Diệu Hằng — tự truyện của bóng Hoàng Ngọc Biên — thần thoại việt nam Phan Ni Tấn — trả lời phỏng vấn Phan Ni Tấn — bài ca đoàn tụ Andrew Lâm — quay cuồng trong điệu vũ Thơ Thơ — lưỡi dao cạo Nguyễn Thị Thanh Bình — thơ cho chim nhỏ Trần Hoài Thư — bãi chiến Nguyễn Xuân Thiệp — kẻ sĩ nga sơn, nửa thế kỷ soi dòng lịch sử Nguyễn Xuân Thiệp — con chim màu đỏ Hoài Ziang Duy — mỗi ngày mỗi xa Cổ Ngu — chuyện năm mươi năm Hồ Đình Nghiêm — đường đèo Trần Hồng Châu — ta hờn người đi trước... Phùng Nguyễn — điện thư Kinh Dương Vương — ba truyện thật ngắn Tạ Quốc Tuấn — giữa người đọc và người viết Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 117-118 | Báo Văn Học — Số 117-118 (1&2-1996) Nguyễn Mộng Giác — nhìn lại một năm văn chương Cao Xuân Tú — đêm trừ tịch Mai Kim Ngọc — câu chuyện văn đầu năm Nghiêm Xuân Hồng — giả đò Thạch Hãn — tôi thuộc về đâu? Văn Học — giới thiệu nguyễn đại hải Văn Học — giới thiệu trần đệ Văn Học — giới thiệu andrew q. lâm Andrew Q. Lâm — gỗ mun và hồn ma bóng quế Văn Học — giới thiệu lưu trường khôi Lưu Trường Khôi — chiếc áo trắng Trần Mộng Tú — chiều cuối năm ở isaquah Văn Học — giới thiệu nguyễn phương quỳnh trang Nguyễn Phương Quỳnh Trang — anh hai Đinh Linh — hai kẻ đăng trí Hoàng Bích Đào — mùa xuân và tuyết Văn Học — giới thiệu nguyễn quí đức Nguyễn Quí Đức — tết tại tenderloin Nguyễn Thành Việt — mùa bão Văn Học — giới thiệu lại thanh hà Lại Thanh Hà — bà bán rau thì-là Lily Dizon — đi tìm đại úy nguyễn tấn hưng Hoàng Lộc — về hội an, uống rượu đợi người Dương Như Nguyện — những cỗ quan tài của tĩnh tâm Đoàn Nhật — lời cho yêu dấu Bùi Vĩnh Phúc — bùi bích hà, một mình trong nỗi nhớ Ngũ An — những cuối năm buồn Phạm Xuân Đài — thư viết trong mùa xuân Võ Phiến — nhà văn Trần Hồng Châu — cựu thời hoa Thảo Trường — xóm nghèo Hải Phương — di chỉ, mùa xuân năm 2000 Hoàng Nga — cố nhân Nguyễn Mạnh Trinh — dường như Thơ Thơ — trăng mật Hồ Minh Dũng — phù thịnh Triều Hoa Đại — đường xuôi xa Phùng Nguyễn — cành lê hoa mùa đông Thường Quán — nước non ngàn dặm Ngụ Thuyết — đi tìm Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 119 | Báo Văn Học — Số 119 (3-1996) Tạ Quốc Tuấn — thơ mông lung Phan Minh Khánh — nói với thời gian Nguyễn Thanh Châu — chùm oán thi tứ tuyệt mới Phạm Thị Hoài — đổi mới. những hội nghị Trần Văn Tích — hồn thơ Hồ Minh Dũng — mộng Văn Học — phỏng vấn lệ hằng Lệ Hằng — mượn hồn Văn Học — phỏng vấn nguyễn văn sâm Nguyễn Văn Sâm — lời trù ẻo của thằng cùi Văn Học — phỏng vấn triều hoa đại Triều Hoa Đại — lời từ tâm Võ Đình — chuyện vợ chồng người đào vàng Trần Doãn Nho — một ngày hơi khác mọi ngày Nguyễn Đức Thanh — gọi em Ngô Nguyên Dũng — có chở trăng về kịp Hoàng Chính — chứng tích tình yêu Lâm Chương — uẩn khúc Điệp Mỹ Linh — bên giòng skagit Trần Văn Nam — văn học hải ngoại Trần Văn Tích — qua hay quá? Nguyễn Huy Thạch — ghi chép Nguyễn Việt Thường — thức suốt cùng đêm |
| 120 | Báo Văn Học — Số 120 (4-1996) Mai Kim Ngọc — cảm nghĩ cổng chùa Nguyễn Việt Thường — nhiều lần Tạ Quốc Tuấn — thơ mông lung...(tiếp) Hoàng Lộc — thơ của gã học trò già Văn Học — giới thiệu hàn song tường Hàn Song Tường — đêm trăng biển Văn Học — phỏng vấn phạm quốc bảo Phạm Quốc Bảo — ngã rẽ Tưởng Năng Tiến — chuyện phiếm cuối năm Lê Thị Thấm Vân — thả lòng Đặng Mai Lan — giải đáp Nguyễn Xuân Thiệp — điệu hoài hương xanh Phạm Chi Lan — barbara Bùi Bích Hà — gạch đỏ Nguyễn Hiền — cho một lần gặp gỡ Trần Hồng Châu — chân không - chân không Hoàng Liên — tan vỡ Hoàng Xuân Sơn — đông ngạc, một đi phố huyện về Nguyễn Thị Hoàng Bắc — trang sách ước Đặng Ngọc — còn một chốn làm thơ Song Thao — về, mười mảnh vụn Kinh Dương Vương — thư viết cho con Hà Nguyên Dũng — cuộc chia ly Triều Hoa Đại — thương tích Nguyễn Trung Hối — nắng xuân Phùng Nguyễn — văn học trẻ trên internet Thụy Khuê — phỏng vấn phạm chi lan |
| 121 | Báo Văn Học — Số 121 (5-1996) Ngu Yên — thơ cụ thể Thường Quán — xứ bắc Tạ Quốc Tuấn — thơ mông lung (tiếp theo) Tạ Chí Đại Trường — đi tìm điều còn thiếu Võ Hoàng — trong lòng cách mạng Luân Hoán — lục bát Phan Thị Trọng Tuyến — welcome to india Lưu Nguyễn — cõi miền thịt da Đỗ Kh. — thế giới là một nhà Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn nguyễn mộng giác Đặng Hiền — chiều cuối năm với bạn già Andrew Lâm — trên sông hương (thạch hãn dịch) Nguyễn Quí Đức — nơi trú ẩn về đêm Trần Mộng Tú — thư tháng tư gởi về hà nội Phạm Ngũ Yên — hạnh phúc ở quanh đây Võ Đình — lại chuyện cây bàng Nguyễn Trung Hối — thù Phùng Nguyễn — kim nga Song Thao — nhạt màu phố cũ Nguyễn Xuân Hoàng — nguyễn đình toàn, sàigòn, pagode Nguyễn Huy Thạch — ghi chép Hồng Khắc Kim Mai — tango blues Văn Học — giữa người đọc và người viết |
| 122 | Báo Văn Học — Số 122 (6-1996) Nguyễn Xuân Hoàng — hiện thực và tưởng tượng Nguyễn Thanh Châu — những chiều arizona Trần Văn Tích — lời thơ Nguyễn Thạch Miên — marie sến: tự truyện của một thế hệ... Triều Hoa Đại — phỏng vấn nguyễn xuân tính Đỗ Tiến Đức — một câu chuyện rất việt nam Văn Học — phỏng vấn khánh trường Khánh Trường — dưới sâu. biển Văn Học — phỏng vấn hà thúc sinh Hà Thúc Sinh — lạc nhau Trần Long Hồ — một chốn an lành Đỗ Quyên — nói với em khi đã ở rất gần Hồ Minh Dũng — đường phượng bay Diên Nghị — giai điệu vùng đất Hoàng Chính — kiếp sau Định Nguyên — velvety Trần Hoài Thư — sợi tóc nhớ thương Bùi Bích Hà — thư viết cho con gái lúc dọn nhà Hồng Khắc Kim Mai — chúc mừng Hoàng Nga — nhà có hoa tím Phan Ni Tấn (n.d.) — về cà mau Nguyễn Huy Thạch — ghi chép Văn Học — giữa người đọc và người viết |
| 123 | Báo Văn Học — Số 123 (7-1996) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (chỉ có Thư Tòa Soạn dạng văn xuôi, không đánh số trang) |
| 124 | Báo Văn Học — Số 124 (8-1996) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (chỉ có Thư Tòa Soạn dạng văn xuôi, không đánh số trang) |
| 125 | Báo Văn Học — Số 125 (9-1996) Nguyễn Thế Việt — chính thống và phi chính thống Tạ Chí Đại Trường — gresham trong sử học Ngũ An — bạn bè xưa Tạ Quốc Tuấn — từ hải có chết đứng không? Hồ Minh Dũng — soi gương Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn thái tú hạp Văn Học — tiểu sử, phỏng vấn Song Thao — âm vang ngàn sóng Văn Học — tiểu sử, phỏng vấn Ngụ Thuyết — câu chuyện của nó Trần Minh Hiền — tự họa Mai Kim Ngọc — dung nhan Hải Phương — nghĩ về mẹ, em, biển... Trần Doãn Nho — chị ấy, ở phía sau Luân Hoán — vẫn thấy mẹ về trong giấc mơ Nguyễn Hữu Trí — mưa đêm Hàn Song Tường — nắng đã tàn rồi Nguyên Phong — ru em mùa hạ Triều Hoa Đại — mùa hạ ở biển daytona Hồ Minh Dũng — nước non ngàn dặm Trần Hoài Thư — mai em về Nguyễn Quí Đức — lão thầy tây Duy Khang (thạch hãn dịch) — vượt biển Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi bên lề thơ... Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 126 | Báo Văn Học — Số 126 (10-1996) Tạ Quốc Tuấn — thế nào là truyện cực ngắn Quỳnh Giao — ngàn năm vẫn chưa quên Nguyễn Thanh Châu — về một nỗi chết không rời Nguyễn Mộng Giác — sang sông Hà Thúc Sinh — ngộ nhận Đỗ Quyên — đón sinh nhật trong một lần ra biển Văn Học — phỏng vấn nguyễn hưng quốc Nguyễn Hưng Quốc — một bài thơ cụ thể Văn Học — giới thiệu nguyễn bá trạc Nguyễn Bá Trạc — thư gửi bạn Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn hồ trường an Trúc Chi — chiều ngồi xem báo ở los angeles Hoàng Chính — jessica Trần Ngọc Tuấn — lòng tin Nguyễn Quốc Trụ — cõi khác Nghiêm Xuân Hồng — hai đứa Hoàng Nga — thụy ơi, tình ơi... Ngu Yên — làm thơ giữa cảnh sát Lập Phương — thử thách, trưởng thành Hồ Đình Nghiêm — thằng bù nhìn Ngô Nguyên Dũng — chờ đê vỡ Đặng Hiền — lao đao nhớ Phạm Chi Lan — chuyện một ngày Phạm Thành — thúy kiều Hoàng Bích Đào — những đường trăng Trần Văn Nam — văn chương hải ngoại có gì lạ... Nguyễn Huy Thạch — ghi chép |
| 127 | Báo Văn Học — Số 127 (11-1996) Thạch Hãn — "khác nhau như hai giọt nước" Tuấn Anh — giải nobel văn chương 1996 Ngu Yên — thi sĩ wislawa szymborska Trần Hồng Châu — đã ở cùng ta Dean Murphy — phỏng vấn wislawa szymborska Lâm Chương — chuyện không bình thường Nguyễn Xuân Hoàng — vài suy nghĩ về chàng và nàng Ngu Yên — làm thơ Nguyễn Hưng Quốc — cái sợ của võ phiến Trần Văn Tích — thời điểm viết truyện kiều Nguyễn Xuân Thiệp — trà, thơ, sinh nhật vợ Nguyễn Mạnh Trinh — đi xa với nguyễn xuân hoàng Nguyễn Thị Thanh Bình — mừng em, xanh, đi Y Chi — dòng sông sa mạc Định Nguyên — tháng mười Võ Đình — phòng sau Hà Văn — mắt nai Trần Mộng Tú — cắm trại Trần Ngọc Tuấn — mùa hè của tôi đâu? Kinh Dương Vương — mến ơi! Đỗ Quyên — gửi huế cùng nguyễn bính Trần Doãn Nho — dí lụy, một phần đời Hoàng Bích Đào — hờn dỗi Phùng Nguyễn — thủy tinh Mai Kim Ngọc — nhân đọc "giữa hai chân trời" Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 128 | Báo Văn Học — Số 128 (12-1996) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau (chỉ có Thư Tòa Soạn dạng văn xuôi, không đánh số trang; thư này cũng xác nhận mục "Hai mươi năm văn học hải ngoại" chính thức kết thúc ở số này) |
| 129-130 | Báo Văn Học — Số 129-130 (1&2-1997) Trần Diệu Hằng — trí huệ, mỹ huệ † KHÔNG CÓ MỤC LỤC CHO TRANG 5-109 — mục lục tìm được (PDF trang 3-4) chỉ liệt kê từ trang 110 trở đi; trang 5 mở thẳng vào bài "văn chương" của Võ Phiến, không có trang mục lục riêng nào cho phần đầu, chưa trích tay Nguyễn Đăng Bảo Lộc — mưa Du Tử Lê — ai di truyền gene ấy cho ta Hoàng Nga — ngồi trên con vực mùa xuân Trần Hồng Châu — buổi chiều góc cạnh Ngụ Thuyết — mùa xuân đang về Hồ Minh Dũng — mùa xuân, mưa vui... Nguyễn Thúc Đượng — thư gửi bạn vong niên Thận Nhiên — vàng phai Lệ Hằng — cánh đồng khô khát Diễm Âu — đỉnh ngàn sao Hoàng Xuân Sơn — đường nguyệt Đỗ Quang Nghĩa — hà nội Lê Minh Hà — chuyện nhà Hoàng Khởi Phong — gặp gỡ ở phan thiết Phùng Nguyễn — chuyện tình kể lại Sương Mai — hỏi lại Trần Thị Diệu Tâm — trăng ảo Hoàng Huyền Thanh — có bao giờ anh nhớ Hoàng Bích Đào — tên trộm chừa chóp Nguyễn Mộng Giác — hoạt cảnh ngày xuân Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 131 | Báo Văn Học — Số 131 (3-1997) Võ Đình — cái văn cái vẽ và cái đẹp Nguyễn Xuân Thiệp — trong vườn tôi hoa phù dung vẫn nở Nguyễn Thế Việt — từ phương pháp tiếp cận... Định Nguyên — bốn mùa Nguyễn Quảng Tuân — trả lời ông trần văn tích Nguyễn Trung Hối — vấn nạn của bill Khoa Hữu — gửi n.b.t. Hoàng Nga — đêm huyền mộng Kiêm Thêm — khi từ biệt sài gòn Lê Minh Hà — cái bát Hoàng Lộc — đọc lại hoàng hạc lâu Hoàng Mai Đạt — con u trấn, bố xanh xao Đặng Hiền — tuyệt nhiên Trần Hoài Thư — xóm slum Hoàng Bích Đào — dòng sông và tôi Nguyễn Quí Đức — đám cưới Nguyễn Mạnh Trinh — mưa buổi sáng trên xa lộ phía nam Hoài Ziang Duy — cơn gió chạy vòng Ngũ An — năm bài ngũ ngôn Huy Văn — chiến trường xa lắc Nguyễn Thanh Châu — bến sông xưa, chiều nào Nguyễn Hàn Thư — núi Nguyễn Đức Thanh — mưa Huỳnh Liễu Ngạn — trời mưa Vạn Giả — cát bụi Điệp Mỹ Linh — tìm vết chân xưa Đỗ Tiến Đức — duyên anh, cuối đời Nguyễn Thị Thanh Bình — trả lời phỏng vấn, truyện ngắn Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 132 | Báo Văn Học — Số 132 (4-1997) Phố Tịnh — phạm duy, người nghệ sĩ tự do Trần Minh Hiền — tháng giêng và em Ngu Yên — diễn văn, quá muộn Võ Thu Tịnh — triết lý dân tộc VN qua tục ngữ Y Chi — mừng xuân vội, mâu thuẫn Nguyễn Đình Hoà — thương tiếc hoàng lão-sư Khoa Hữu — thứ dân Trùng Dương — phan khôi, ngọn hải đăng... Lê Minh Hà — nợ Nguyễn Quí Đức — tâm thần Hồ Minh Dũng — thị lộ Trần Mộng Tú — máy trợ thính Hàn Song Tường — về nhà Sử Mặc — phương đông Như Chi — tưởng vọng Phạm Chi Lan — lớp vỏ Kinh Dương Vương — những truyện thật ngắn Triều Hoa Đại — ở lại cùng cây cỏ Nguyễn Hiền — chút hương kỷ niệm Hoài Mỹ — ba truyện ngăn ngắn Trúc Chi — hai lần tiễn đưa..., tùy bút Nguyễn Đức Thanh — mưa, em và quê nhà Mai Kim Ngọc — đầu xuân đọc sách Nguyễn Thượng Đức — chuyện (dài) làng thơ Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi Văn Học — giữa người viết và người đọc |
| 133 | Báo Văn Học — Số 133 (5-1997) Nguyễn Vy Khanh — văn học chiến tranh sau 1975 Nguyễn Xuân Thiệp — trên vùng tuyết tan Nguyễn Bá Trạc — chuyện những vì sao... Vạn Giả — sang sông Y Chi — nụ em Ngu Yên — allen ginsberg, làm đẹp bằng sự thật Nguyễn Chí Kham — cỏ dại Nguyễn Mộng Giác — "đi với về cùng một nghĩa như nhau" Trần Hồng Châu — nghĩa trang westminster gặp bạn cũ Hồ Đình Nghiêm — hậu cứ Vương Thúy Lệ — bốn mùa Phùng Nguyễn — tuổi thơ Nguyễn Nam An — qua biển về đây Ngô Nguyên Dũng — mưa Huệ Thu — hai bài lục bát Hoàng Nga — sinh nhật Định Nguyên — lục bát 9 Nguyễn Thị Long An — đường về quê mẹ Phạm Ngũ Yên — cổ tích Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn nhà văn tạ ty Hoàng Xuân Sơn — sông về tới bến Văn Học — giới thiệu nhà thơ lưu nguyễn Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi Trần Vấn Lệ — đường chiều |
| 134 | Báo Văn Học — Số 134 (6-1997) Tạ Chí Đại Trường — lịch sử và chính thống Hoàng Xuân Sơn — ám sinh Thành Tôn — kín chỗ Đỗ Minh Tuấn — khế ước văn hóa... Nguyễn Hưng Quốc — trả lời ông đỗ minh tuấn Hoài Khanh — tương tư đất Nguyễn Quốc Trụ — nơi người chết mỉm cười Khoa Hữu — lịch sử ca Nguyễn Vy Khanh — 40 năm văn học chiến tranh Phan Minh Khánh — tháng 4, nhớ qui nhơn Hoàng Chính — thang máy Hoàng Lộc — thượng uyển chi hoa Trần Ngọc Tuấn — bụi than Đỗ Quang Nghĩa — chân dung Lê Minh Hà — về làng Nguyên Khôi — hoang đảo Dã Vy — mơ Trịnh Y Thu — những con dốc ở virginia Ngụ Thuyết — đào thoát Văn Học — giới thiệu nhà thơ trúc chi Thụy Khuê — đọc "trốn vào giấc mơ em" Đỗ Quyên — giời ơi! Trần Bình Nam — ý kiến |
| 135 | Báo Văn Học — Số 135 (7-1997) Tuần Báo Economist — nhân quyền và ngoại giao Nguyễn Xuân Thiệp — thảo nguyên Tạ Quốc Tuấn — các đặc điểm truyện cực ngắn Nguyễn Đức Thanh — sông núi Hoàng Nguyên Nhuận — một góc trần hồng châu Trần Văn Tích — trao đổi cùng ông n. q. tuấn Lâm Chương — người di cư... Ngô Nguyên Dũng — điểm tâm ở new york Nghiêm Xuân Hồng — luân vũ xoay vòng Võ Đình — ôi paris! Miêng — hải nữ Đặng Hiền — ở đó Hoàng Bích Đào — lá thư tình không gửi Vạn Giã — tiếng đêm Nguyễn Quí Đức — mùa tang tóc Ngu Yên — kinh nghiệm sau khi sém chết Văn Học — phỏng vấn Điệp Mỹ Linh Điệp Mỹ Linh — dưới bóng cổ thụ Ngự Thuyết — đào thoát (tiếp) Khoa Hữu — thơ gửi người tù t.đ.u. Triệu Châu — đêm tưởng là ngày Hồ Minh Dũng — uống rượu một mình, và... Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 136 | Báo Văn Học — Số 136 (8-1997) Tuyển Tập Văn Chương Trần Hữu Thục — tâm thức, trong sáng tạo... Nguyễn Xuân Thiệp — bài oán thi. đêm. phương nam Đỗ Minh Tuấn — về cái bẫy văn hóa của NHQ Cao Thị Nguyệt Lãng — trăng Phạm Thị Hoài — thủ lãnh trong bóng tối Trần Bát Nhã — lời cuối Mai Kim Ngọc — đọc truyện Hoàng Nga Định Nguyên — ru Tạ Quốc Tuấn — đề tài truyện cực ngắn Trần Mộng Tú — cựu ước Lê Minh Hà — những giọt trầm Phan Ni Tấn (N.D.) — đêm phương thụy Hoàng Nga — ấu thời hiu quạnh Thường Quán — anzac day Nguyễn Trung Hối — địa đàng bình an Thận Nhiên — giao khúc I Hoàng Chính — bắt hụt niềm vui Trần Hoài Thư — lưu lạc khúc Trần Long Hồ — nơi có thể quay về Nguyễn Hữu Nhật — mưa cõi phúc Vy — mừng tuổi anh, tháng bảy Trần Minh Hiền — thắp đuốc hồn mình tìm kẻ tri âm Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi Đoàn Nhật — đêm hương mật |
| 137 | Báo Văn Học — Số 137 (9-1997) Trần Văn Tích — đọc thơ Ngô Nguyên Dũng — đại dương đau nặng Khoa Hữu — những bước chân buồn quê hương Nguyễn Hưng Quốc — lại trả lời Đỗ Minh Tuấn Lê Thị Thấm Vân — di sản Phạm Thị Hoài — trận con cóc Trần Hồng Châu — dù trong dù đục Đặng Tiến — cóc lại nhảy ra Hoàng Lộc — sâm thương một nỗi Nguyễn Thị Vinh — tuổi thơ sớm mất Triều Hoa Đại — núi đá xanh Lê Minh Hà — trên tay còn tuổi Nguyễn Thị Thanh Bình — khúc hát nửa vời Kinh Dương Vương — thằng điếm Phùng Nguyễn — bia ôm Hoài Mỹ — bố Trương Nhân — yêu Nguyệt Thu — vầng trăng giữa sách Nguyễn Phúc — nói chuyện với nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn Hoàng Ngọc Biên — chuyến xe Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 138 | Báo Văn Học — Số 138 (10-1997) Thụy Khuê — góp ý về phê bình văn học Nguyễn Xuân Thiệp — những buổi chiều qua trong đời tôi Bùi Vĩnh Phúc — về mỹ học tiếp nhận & thuyết hồi ứng của người đọc Vy — không đề Mai Kim Ngọc — câu chuyện bảo tồn văn hóa Trần Hoài Thư — trung đội Nguyễn Quý Đức — một lần đi Hoàng Nga — một chỗ để ngắm nhìn Định Nguyên — khúc tháng chín Hồ Đình Nghiêm — giới nghiêm Khánh Hà — vết thương cùng, mù tăm Đặng Hiền — tuổi nhỏ, phố nhỏ, hôm qua Hồ Như — thiên thần Mạc Hoài — tôi đi tìm lại Lê Minh Hà — kịch bản Hoàng Bích Đào — bàng khuâng Nguyễn Thạnh Phú Đông — phỏng vấn Cao Đông Khánh Nguyễn Phúc — nói chuyện với danh ca Minh Trang Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi Nguyễn Quảng Tuân — đôi lời tâm tình với Trần Văn Tích Thi Sĩ Vô Danh — thư về thơ con cóc Nguyễn Hưng Quốc — trả lời Đặng Tiến |
| 139 | Báo Văn Học — Số 139 (11-1997) Nguyên — dario fo, người hề nobel Nguyễn Xuân Thiệp — con chim màu đỏ... Tạ Quốc Tuấn — nhận xét về câu thơ Truyện Kiều Lê Nguyễn — sông núi Nguyên — thời bình thản Tạ Chí Đại Trường — đọc muộn The Birth of Vietnam Khoa Hữu — gửi lệ khi ở k6 Hoàng Xuân Sơn — ngày hạn, mình như, cây kiểng Nguyễn Đình Hòa — vài điều về thơ Nôm Nguyễn Trãi Luân Hoán — những cọng lục bát tháng 9 Mai Kim Ngọc — phán xét Trần Mộng Tú — mưa đầu thu Như Chi — dường như là tuyệt vọng Ngự Thuyết — mai Phan Minh Khánh — lời cổ thạch Vy — nói với cha Nghiêm Xuân Hồng — tàn thiên niên kỷ Jorge Luis Borges (Nguyễn Quốc Trụ dịch) — phép lạ bí ẩn Cao Thị Nguyệt Lãng — thuyền giấy Tâm Thanh — mây Đặng Thị Quế Phượng — thiên nga, trung niên Trần Doãn Nho — khoảng trống bàng khuâng Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 140 | Báo Văn Học — Số 140 (12-1997) Đoàn Xuân Kiên — phương pháp dạy học vần... Ngô Nguyên Dũng — tháng 10 sao lá vẫn chưa vàng Trần Văn Tích — hứng thơ Hoàng Lộc — nói chuyện đối với Nguyễn C. Trứ Tạ Quốc Tuấn — họ từ tên hải vốn người Việt Đông Đỗ Quyên — lòng hải lý Đỗ Đức Hiếu — đọc văn chương Trần Hồng Châu — hạt bụi Nguyễn Văn Sâm — từ thơ tương trương ngáo... Phan Minh Khánh — thư gửi elise Hoàng Nga — hôn lễ Nguyễn Thị Hoàng Bắc — ánh chớp Tâm Thanh — phấn thông Thường Quán — hay là Phùng Nguyễn — khách quen Đặng Hiền — không tiếc, chiêm bao Lê Minh Hà — thành sương Sử Mặc — phương đông Nguyễn Hiền — lão bân Hoàng Bích Đào — dấu xưa Vạn Giã — nỗi nhớ đầu ngày Điệp Mỹ Linh — bên bờ hạ long Trần Thái Vân — trăng Trần Hoài Thư — valentine Đỗ Quang Nghĩa — gửi Nguyễn Đức Việt Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi Văn Học Nghệ Thuật — phỏng vấn Nguyễn Mộng Giác |
| 141-142 | Báo Văn Học — Số 141-142 (1&2-1998) Xuân Mậu Dần 1998 Văn Học — phỏng vấn văn hữu Văn Học & Triều Hoa Đại — nhìn lại một năm qua Khoa Hữu — hồng hạc Nguyễn Bá Trạc — căn nhà di động Nguyễn Hưng Quốc — đọc chơi vài bài ca dao Trúc Chi — nghe đàn Vy — nỗi nhớ câm Tạ Quốc Tuấn — ba bài thơ xuân của thi phái mông lung Phan Ni Tấn (ND) — suối yến Trần Nguyên — văn hoá rối nước Trần Hồng Châu — nguyện nhật tống hữu Tâm Thanh — trích tiên Ngữ An — thơ xuân Ngô Nguyên Dũng — xuân về giữ lửa Phùng Nguyễn — ngọn lửa nhỏ mùa đông Nguyên Lang — ý chỉ Mạc Hoài — nguyên thủy Nguyễn Thị Hoàng Bắc — hai người bạn (kịch) Triều Hoa Đại — giêng. hai mấy thuở Quỳnh Giao — tình khúc của Trương Hoài Ziang Duy — nụ tầm xuân Lê Minh Hà — gió trở Nguyễn Xuân Thiệp — tempe. thơ qua hoang mạc Nguyễn Trung Hối — rừng phong dần đỏ Nghiêm Xuân Hồng — cây liễu rủ Hoàng Chính — thiên thu Khánh Hà — tháng chạp quê nhà Hoàng Nga — đưa tay lên tóc Nguyễn Khánh Hòa — lục bát Nguyễn Khánh Hòa Hồ Như — khoảnh khắc mùa xuân Hoàng Lộc — thơ trên chuyến về Hoàng Bích Đào — ảo ảnh Nguyễn Mạnh Trinh — anh vừa năm mươi tuổi Mauro Senesi (Trần Doãn Nho dịch) — lỗ trống (the breach) Trương Nhân — góc riêng tư Bùi Bích Hà — tây tạng và góc phố đỏ Trịnh Gia Mỹ — tình Nguyễn Mộng Giác — đi vào cõi thơ Khoa Hữu Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi Văn Học — về cuộc tranh luận thi pháp Đỗ Minh Tuấn — trả lời Nguyễn Hưng Quốc |
| 143 | Báo Văn Học — Số 143 (3-1998) Vĩnh biệt nhà văn Mai Thảo Nguyễn Mộng Giác — vĩnh biệt nhà văn Mai Thảo Khoa Hữu — vĩnh biệt Mai Thảo Trần Long Hồ — hơi thở văn chương Phan Ni Tấn (N.D.) — tháng giêng Mai Thảo Nghiêm Xuân Hồng — bất toại từ Huệ Thu — bài thơ cho Mai Thảo... Khánh Hà — thế giới người Thế Uyên — bàn thêm về Lục Vân Tiên Quan Dương — lục bát quan dương Tạ Chí Đại Trường — nói với người bạn trẻ Ngu Yên — thơ Tạ Quốc Tuấn — thời gian Thúy Kiều lưu lạc Phạm Việt Cường — vầng trăng trên kia Ngô Thế Vinh — trở về pattivattna... Tường Vũ Anh Thy — thuở hẹn Hồ Minh Dũng — dĩ vãng Sương Mai — giống như tình yêu Võ Đình — đời hoa, đầu đông Đặng Hiền — có lẽ Trần Mộng Tú — lạc chỗ Quỳnh Giao — giọt lệ mỵ châu Nguyễn Khánh Hòa — ơn em Thơ Thơ — điều ký ức không dám nhớ Đỗ Quyên — hoặc là Ngự Thuyết — đà lạt Hoàng Xuân Sơn — thủy băng đầu 98 Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 144 | Báo Văn Học — Số 144 (4-1998) Nguyễn Hưng Quốc — nhà văn như một kẻ thống dâm Nghiêm Xuân Hồng — thiên cổ sự Trần Hữu Thục — khoa hữu, nỗi bi phẫn bất tận Nguyễn Xuân Thiệp — ánh trăng Nguyễn Đình-Hoà — mối tình Việt-Pháp tuyệt đẹp Triều Hoa Đại — mùa xưa Hoàng Chính — lạc khúc tình ca Khánh Hà — cành hoa tưởng nhớ, tâm Song Thao — auld lang syn Hoàng Nga — hải Phạm Việt Cường — mùa hạ cũ Nhật Nguyễn — người đàn bà lạ mặt Ngu Yên — ảnh gia đình / những lời thiếu lịch sự Hoàng Du Thụy — không lời để lại Trúc Chi — chuyện ngày mưa Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi Đỗ Minh Tuấn — trả lời Phạm Thị Hoài Trần Bình Nam — ý kiến về vấn đề về nguồn Hoài Hương — ý kiến về ca dao Lê Trung Định — ý kiến về bài của Thế Uyên Vi B. Vương — ý kiến về bài của Nguyễn H. Quốc Võ Công Lý — ý kiến về bài của Thế Uyên |
| 145 | Báo Văn Học — Số 145 (5-1998) Vĩnh biệt Nguyên Sa Mai Kim Ngọc — người Mỹ đọc Đặng Dung Nguyễn Xuân Thiệp — thì em về cho mùa vông nở Nguyễn Mạnh Trinh — tháng tư, tiễn biệt Võ Phiến — tác phẩm lớn, tác phẩm nhỏ Phạm Việt Cường — tình thơ Nguyên Sa Ma Văn Kháng — tấm gương phản chiếu văn hóa Nguyễn Thanh Châu — thơ Nguyễn Thanh Châu Trần Bình Nam — chừng nào VN có đại tác phẩm? Lê Thị Huệ — tương tư đất Ngô Nhựt Tân — góp ý với Nguyễn Hưng Quốc Trần Hồng Châu — dự phóng về một nỗi nhớ Trúc Chi — đoạn cuối Phương Nguyễn — mơ hoa Như Chi — mê khúc Nguyễn Trung Hối — sinh nhật trắng Nguyễn Khánh Hòa — thơ Nguyễn Khánh Hòa Ngô Nguyên Dũng — đường xuống vực Trần Mộng Tú — cô gái nghi tàm Tâm Thanh — nước non Trần Ngọc Tuấn — những món tiền xây mộ tổ Hoàng Xuân Sơn — âm thức Hoàng Nga — ước mơ Nguyễn Thị Minh Thủy — phục sinh Nhật Nguyễn — hương Quan Dương — tản mạn nắng đầu mùa Nguyễn Hữu Nhật — cõi hương trăm thức Thiên Yên — chuyện giòng sông Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 146 | Báo Văn Học — Số 146 (6-1998) Võ Đình — "mặn" và "chay" Khoa Hữu — biển yêu Đỗ Ngọc Yên — ng. đ. chiếu, nghệ sĩ hay hủ nho? Tường Vũ Anh Thy — trên sông khói Nguyễn Minh Tường — diện mạo văn hóa của Đồ Chiểu Thiên Yên — con mắt rách Thế Uyên — một chút Nguyên Sa Đức Phổ — trăng mười sáu Lê Minh Hà — gió biếc Cao Xuân Tú — đêm hà nội Lê Thị Huệ — sông không bến Đỗ Quang Nghĩa — thơ Đỗ Quang Nghĩa Lâm Chương — thượng du, miền thương nhớ Trúc Chi — mấy mảnh vụn Phạm Việt Cường — trên đường dây viễn liên Hồ Như — chị em Vy — không còn trong trí tưởng Sử Mặc — bên kia xương cụt Phạm Hải Anh — ngựa ô Hoàng Bích Đào — đôi ngả Khánh Hà — biệt, hồi âm Nam Dao — chim trong lồng Trần Thái Vân — về quê hương Grendel Lajos — điều bị loại khỏi thời sự Phan Xuân Sinh — hầu chuyện cùng ngũ tử tư Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 147 | Báo Văn Học — Số 147 (7-1998) Trần Hữu Thục — nhân vật tiểu thuyết Đặng Hiền — thành phố nắng Trần Văn Tích — tự do và sáng tạo Nguyễn Thanh Châu — nguyệt rạng Trần Hồng Châu — ảnh hưởng văn hóa Tây phương... Ngữ An — thơ năm chữ Thụy Khuê — Trần Hồng Châu, khát vọng biển Minh Nguyệt — phỏng vấn Lê Minh Hà Hoàng Lộc — về một khúc đàn tình Trần Mộng Tú — về một cảnh đời Quỳnh Thi — thành thơ Lệ Hằng — bên kia là núi Hà Trung — thơ tình cho Huế Khánh Hà — tiếng hát lạc loài Quang Dương — vài đoản khúc về New Orleans Tâm Thanh — hai chiếc bóng Hoài Mỹ — lời trăn trối Nguyễn Đức Thanh — mai này Vy — bước đi cùng quá khứ Sử Mặc — hồi hướng Lê Thị Huệ — đứng bên hiên chùa Kim Liên Ngự Thuyết — khúc hát ly hương Nguyễn Hoàng Đức — đọc chơi vài bài luận về ca dao Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 148 | Báo Văn Học — Số 148 (8-1998) Nguyễn Hữu Lê — quan hệ tư duy nghệ thuật và hình thái ý thức xã hội Đỗ Ngọc Yên — di chứng chiến tranh... Ngu Yên — ai là tác giả? Nguyễn Đạt Vận — huyền thoại về Cao Bá Quát Triều Hoa Đại — cùng như lai Lê Minh Hà — tản mạn về Chí Phèo Nghiêm Xuân Hồng — đường vào thiên thu Quỳnh Giao — tìm về thiên thai Nguyệt Thu — yêu dấu Trúc Chi — cành phượng tím Tường Vũ Anh Thy — mơ hồ Tưởng Năng Tiến — những phút ngã lòng Phan Minh Khánh — bên chén mù sương Hà Thúc Sinh — đối đầu Cao Thị Nguyệt Lãng — lá cỏ non Tâm Thanh — không nỡ Hoàng Liên — cái còn lại Lâm Chương — mưa rừng miền đông Thảo Trường — bên bờ suối Inna Malkhanova — các bạn đang làm gì nhỉ? Thiên Yên — bầy chim đen Nhật Nguyễn — rồi cũng qua đi Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 149 | Báo Văn Học — Số 149 (9-1998) Đặng Tiến — đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp Trần Hồng Châu — trống không Nguyễn Vy Khanh — về Ng. Đ. Chiểu và lý luận văn học Hoàng Lộc — rượu Huế uống ở Hội An Nguyễn Văn Sâm — truyện thơ Nôm Triệu Ngũ Nương Hồng Khắc Kim Mai — bụi đời mười phương Phố Tịnh — bàn về "đánh dấu thanh"... Trịnh Gia Mỹ — chiêm bao Phan Minh Khánh — gót mưa Nguyễn Đình Hoà — đúng năm mươi năm trước tôi đặt chân lên đất Mỹ Ý Liên — mùa hạ Hồ Như — trở về Khánh Hà — trở về hạ thu Lê Minh Hà — bão Huệ Thu — mai thảo Phùng Nguyễn — chim gáy sau vườn Trần Mộng Tú — tình gọi Hồ Đình Nghiêm — mãn thiên hoa vũ Triều Hoa Đại — bài thơ ngày trước Quan Dương — bất chợt một buổi chiều Trần Bình Nam — người chị dâu Cao Xuân Tú — đêm trên quê hương Thơ Thơ — ba sẽ về...ngày mai Nguyễn Mộng Giác — kho tàng của quá khứ Buzzati, Moravia... — truyện ngắn hay Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 150-151 | Báo Văn Học — Số 150-151 (10&11-1998) Số Đặc Biệt: Văn Nghiệp Võ Phiến Niên biểu Võ Phiến Tác phẩm Võ Phiến Nguyễn Hưng Quốc — Đến với Võ Phiến Võ Đình — Võ Phiến, Nhìn và Thấy Triều Hoa Đại — Khởi lên từ ngọn bút Trần Hữu Thục — Võ Phiến: Tâm và Cảnh Trần Doãn Nho (phỏng vấn Võ Phiến) — Nhà văn và Cuộc sống Nguyễn Hoàng Văn — Võ Phiến: Tình nghĩa giáo khoa thư Lê Minh Hà — Đọc lần 1, lần 2 và...tùy bút Võ Phiến Nguyễn Hữu Lê — Đọc tạp luận Võ Phiến Trúc Chi — Lại đối lời Minh Nguyệt — Ám ảnh thời gian trong thơ Võ Phiến Hoàng Nga — Nhân vật Nguyễn Vy Khanh — Võ Phiến những năm 60 Tạ Chí Đại Trường — Từ Đoàn Thế Nhơn đến Võ Phiến Huệ Thu-Hà Thượng Nhân — Võ Phiến (thơ, thơ họa) Quỳnh Giao — Võ Phiến với chúng ta Ngự Thuyết — Đọc lại Võ Phiến Trần Long Hồ — Võ Phiến: Một đời để tùy nghi Ngô Nguyên Dũng — Vài cảm nghĩ nhân đọc "Hoan ca" của Võ Phiến Trần Văn Nam — Nhà văn thích xuề xòa mà viết tinh tế Sử Mặc — Gợi hứng từ Võ Phiến Hoàng Xuân Sơn — Viễn Trần Hoài Thư — Cây đa bên cầu Nguyễn Bá Khanh — Chân dung Võ Phiến (và bà Võ Phiến) Võ Phiến — Cái còn lại Võ Phiến — Thời gian Võ Phiến — Văn phong, Nhân cách Võ Phiến — Xong cả Võ Phiến — Thơ dịch Nguyễn Quốc Trụ — Tạp ghi |
| 152 | Báo Văn Học — Số 152 (12-1998) Nguyễn Quốc Trụ — saramago, nobel văn 1998 Nguyễn Hoàng Văn — về nơi cố quận... Cung Trầm Tưởng & các tác giả khác — thơ tiếc thương thi sĩ Bùi Giáng Schafer & Thế Uyên — tiểu thuyết xuất hiện ở Nam Kỳ Đỗ Minh Tuấn — ám ảnh hoa trong Truyện Kiều Đỗ Ngọc Yên — Chí Phèo, bản thân bản ngã Việt Khoa Hữu — những vần thơ mới viết Song Thao — chớp mắt ngoái lại Thành Tôn — rượu, đời ta Lâm Chương — gió ngược Thái Tú Hạp — dòng sông chảy ngược Trần Thu Miên — đám tang người khách hàng Nguyễn Thị Hoàng Bắc — bữa đó Lê Thị Huệ — đà lạt my nương sầu Nguyễn Khánh Hòa — hiểu ra duyên nợ Hàn Song Tường — trốn tuyết Hồ Minh Dũng — tạ ơn Khánh Hà — một chút quê nhà Cao Xuân Tú — có thể Trần Mộng Tú — người thuê phòng Hoàng Bích Đào — tâm sự dòng sông Như Chi — lời cỏ Nguyễn Hoài Phương — chương phềnh Nguyễn Nam An — khai quang Đặng Phú Phong — người muốn lấy cái đã mất Nguyễn Quốc Trụ — tạp ghi |
| 153-154 | Báo Văn Học — Số 153-154 (1&2-1999) Tết Kỷ Mão Nguyễn Mộng Giác — tình trạng lão hóa trong sinh hoạt văn học Tạ Quốc Tuấn — các bài thơ xuân đầu tiên trong văn học Việt Nam Thành Tôn — tặng vợ buổi đầu xuân Trần Hữu Thục — kinh nghiệm và tri thức. Tác phẩm lớn Nguyễn Khánh Hòa — thơ Nguyễn Khánh Hòa Bùi Vĩnh Phúc — tưởng tượng và thực tại trong văn chương Hoàng Xuân Sơn — thời nhỏ ở vườn kinh Triều Hoa Đại — xuân về. ta với ngựa Mai Kim Ngọc — nhà thương quận Thái Tú Hạp — nẻo về / bồi hồi cỏ hoa Hồ Minh Dũng — cuối năm Ngô Nguyên Dũng — tháng giêng em nhớ mềm hương nếp Trần Hồng Châu — trường an tây vọng Trần Mộng Tú — lạnh ở dưới phố Song Thao — sabrina Lê Thị Huệ — lô cốt Trúc Chi — bên cạnh một lá thư Khoa Hữu — lục bát viết từ Việt Nam Tâm Thanh — ngôn ngoại Phạm Việt Cường — thơ tình năm 86, viết muộn Nguyễn Văn Sâm — chờ cho trăng lặn Cao Xuân Tú — ngày xuân trả nợ quê hương Nguyễn Trung Hối — huyền trân Hồ Như — kẻ lạ Phan Ni Tấn (ND) — quê núi Ngự Thuyết — con đường chiều Nguyệt Thu — mùa xuân năm ngoái Khánh Hà — còn cội mai già Nguyễn Quốc Trụ — một chuyến đi Thế Uyên — hà nội, thập niên chót thế kỷ hai mươi Lê Ngân H. — quê hương như một ám ảnh Hoàng Bích Đào — xuân trắng Triều Hoa Đại — ngày xuân, chuyện trò cùng tác giả "tôi cùng gió mùa" Đỗ Minh Tuấn — sự khám phá nhân cách văn hóa Việt, nhân đọc bộ SCML |
| 155 | Báo Văn Học — Số 155 (3-1999) Số Tân Niên Tạ Quốc Tuấn — các bài thơ xuân đầu tiên mang ảnh hưởng Nho giáo Hà Nguyên Dũng — lời say với rượu Trần Văn Tích — luật thơ Đức Phổ — ngày đầu năm Nguyễn Hữu Lê — quan hệ giữa tư duy nghệ thuật và hình thái xã hội Khoa Hữu — sài gòn, giao thừa 1999 Hoàng Nguyên Nhuận — hành trình chuỗi hột sen hồ tịnh Trần Mộng Tú — gió không biết tôi bao nhiêu tuổi Phạm Hải Anh — đỉnh tuyết Hoàng Chính — rác Giang — bên thềm nhà cũ, cà phê Ngô Thế Vinh — trên cánh đồng chum Quan Dương — chỉ còn thơ Hoài Mỹ — nhập Nguyễn Xuân Thiệp — mùa cuối Nguyễn Vy Khanh — tìm hiểu truyện Hồ Minh Dũng Hồng Khắc Kim Mai — trầm kha Từ Dũng, Nguyễn Hưng Quốc & Thế Uyên — tranh luận về "sống và viết ở hải ngoại" Nghiêm Xuân Hồng — nào ngờ ảo hóa |
| 156 | Báo Văn Học — Số 156 (4-1999) † KHÔNG CÓ TRANG MỤC LỤC — cần trích tay từng bài sau |
| 157 | Báo Văn Học — Số 157 (5-1999) Đoan Hùng — nhân xem tranh mộc bản, suy nghĩ về 1 dân tộc "mù chữ" Võ Đình — hàng xóm Trần Mộng Tú — sợi tóc Nguyễn Xuân Thiệp — ôi! phong linh Trần Văn Tích — khoảnh khắc tâm thức Việt? Cung Trầm Tưởng — limbô Võ Kỳ Điền — thế giới văn chương Hồ Trường An Khánh Hà — tiếng suối giao mùa Cao Xuân Tú — đường lên xứ lạng Ngô Nhựt Tân — nhận định về "sống và viết..." Hồng Khắc Kim Mai — bước chân lưu vong Dũng Văn — mánh lới cuối cùng... Triều Hoa Đại — trôi theo đường mây Trúc Chi — huế, một đêm mưa Hoàng Lộc — một lần huế-quảng Nam Dao — loạn kiều binh Quan Dương — lỡ hẹn Bùi Bích Hà — mùa phục sinh Tâm Thanh — lông hồng Song Thao — biết nói chi Thạch Hãn — tạp ghi Triều Hoa Đại — phỏng vấn Lê Minh Hà |
| 158 | Báo Văn Học — Số 158 (6-1999) Nguyễn Hưng Quốc — chẳng lẽ mãi mãi là một nền văn học nghiệp dư? Trần Đăng Khoa — chân dung xuân diệu Nguyễn Quảng Tuân — "sương gieo" hay "sương siu"? Lê Nguyễn — trên biển khuya Trúc Chi — hàn huyên Thảo Chi — nửa đoạn sau Đặng Mai Lan — chiêm bao Quan Dương — ai bảo em... Ngô Nguyên Dũng — bướm Trần Yên Hòa — mưa Hồ Minh Dũng — đường mây Lê Thái Lâm — ban sơ Nguyệt Thu — biển đêm Cổ Ngư — tản mạn một chuyến đi Thu Thuyền — những nhánh sông mất biển Giang — chân dung Phạm Hải Anh — culi Phan Minh Khánh — bóng quê Vũ Hồi Nguyên — những vùng hoang Minh Nguyệt — phỏng vấn Trần Hữu Thục Trần Hồng Châu — đọc "Trong Mê Cung" Thạch Hãn — tạp ghi |
| 159 | Báo Văn Học — Số 159 (7-1999) Dạ Quỳnh — quan niệm văn học Hoàng Xuân Sơn — huệ tổ, giả thử Nhược Trần — về chuyện...mới cũ Trần Thị Lai Hồng — panthéon A. Solzhenitsyn (Nguyễn Phúc dịch) — sự kiên trì tôn thờ cái mới đã tác hại ra sao trong thế kỷ này Nguyễn Thị Minh Thủy — gửi về mẹ Nguyễn Hữu Lê — tư duy nghệ thuật... Nguyễn Vy Khanh — văn chương và thể loại Thái Tú Hạp — bàng bá lân & giao hưởng số 6 Tâm Thanh — lụa bạch Hoàng Nga — chia lìa Nguyễn Nam An — ru giấc còn mây Lâm Chương — trường sơn, gửi lòng ở lại Trần Thiện Hiệp — trí nhớ nàng Ngô Nguyên Dũng — hòn còng lửa Hoàng Bích Đào — muộn màng E. Hemingway (Trần Thu Miên dịch) — the killers (hai kẻ giết mướn) Đức Phổ — ngũ ngôn, hiểu ra chữ nghĩa Mai Kim Ngọc — suy nghĩ về phim "ba mùa" Nguyễn Mộng Giác — đọc "thiên nga giữa cõi người" Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 160 | Báo Văn Học — Số 160 (8-1999) Võ Đình — chuyện anh họa sĩ cà lăm Nguyễn Xuân Thiệp — thời gian Vương Trí Nhàn — nói chuyện với người đã chết Nguyễn Đức Thanh — sài gòn Triều Hoa Đại — trúc chi: huế-sàigòn-hànội Nguyễn Thị Minh Thủy — lục bát từ biển, buổi chiều Lê Hữu Nghị — "điểm" qua các bài điểm sách Nguyễn Hưng Quốc — viết văn với ... cây búa Trần Hồng Châu — tôi vẫn theo em Trần Doãn Nho — một đêm Nguyễn Tư Phương — cuối đời, sao nỡ ngắt trăng về Lê Minh Hà — sông vẫn còn chảy mãi Lê Thị Huệ — cường lưu chữ Bùi Bích Hà — đôi cánh ước mơ của con Đặng Hiền — mưa đông appex Nguyễn Quí Đức — mười ngày ở bled Huỳnh Liễu Ngạn — nỗi nhà Nguyễn Hiền — trăm luân Nguyễn Thị Thanh Bình — thơ không lời đáp Phạm Hải Anh — cửa sổ Ngũ An — tâm huế Thạch Hãn — vĩnh biệt bố già Mario Puzo — chọn một giấc mơ Nguyễn Mộng Giác — đọc "chân mang giày số 6" Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 161 | Báo Văn Học — Số 161 (9-1999) Hoàng Nguyên Nhuận — đường mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về Nguyễn Xuân Thiệp — những giọt lệ đồng thảo Ngụ Thuyết — mấy thế kỷ sau Cao Xuân Tứ — biển Trần Văn Tích — tịch mịch hồng Trần Thảo Lư — cali như một chốn quê nhà Nguyễn Hoàng Văn — bi kịch một nụ cười Hoàng Xuân Sơn — ngày mùa, tiếp dư Trúc Chi — gánh Nguyên — thơ tôi thị Hoàng Nga — bỏ mặc con đường Thanh Hà — trung thu, đôi khi buồn Ngô Nguyên Dũng — nhật ký mùa phượng vĩ Lưu Hy Lạc — ôm hoa Cổ Ngư — nhạt nắng Trần Thị Lai Hồng — lý ngọ ý, lý tơ vương Hoàng Liên — ánh đèn viện sách Cao Huy Thuần — tôi ở bên này, tôi ở bên kia Hồ Đình Nghiêm — đất hẹp Hoàng Mai Đạt — những ngày ở biên hòa Phan Minh Khánh — nằm trong vườn chùa đợi phật Nguyễn Mộng Giác — đọc Miêng Thạch Hãn — tạp ghi Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 162 | Báo Văn Học — Số 162 (10-1999) Nguyễn Mộng Giác — hai con đường vào đời, vào thơ Cổ Trúc — tứ tuyệt Nguyễn Quảng Tuân — cách phiên âm từ "nhẫn nhụi" Bùi Vĩnh Phúc — lại "tịch mịch hồng" Cao Xuân Tứ — vệt máu còn tươi Lương Thư Trung — chất thơ trong văn Trần Hoài Thư Ngô Nguyên Dũng — chân không trong lưỡi dao thời gian Trúc Chi — chị đàn Trần Thảo Lư — hiu hắt quê nhà Tâm Thanh — túp lều của chị tôi Hà Nguyên Du — khúc ly tao Trần Doãn Nho — chớm thu Ngngdung † — cũng đọc thiên thư Thu Thuyền — nước mắt Phan Xuân Sinh — đêm nằm nhớ Ức Trai Nguyễn Thị Thảo An — xóm hưu Thận Nhiên — mưa giàn giụa mặt một người... Đỗ Minh Tuấn — chuyện thánh gióng kể ngược Đặng Hiền — cuối cùng anh cũng hiểu Nguyễn Hoài Phương — ngày chủ nhật vui vẻ Sử Mặc — ngàn thu Huy Văn — mưa sài gòn Hoàng Mai Đạt — sài gòn dưới cơn mưa trở về Ngụ Thuyết — xa lộ Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 163 | Báo Văn Học — Số 163 (11-1999) Thạch Hãn — gunter grass, nobel văn chương 99 Nguyễn Hưng Quốc — sáng tác và phê bình Ngô Nguyên Dũng — mảnh vụn sương tuyết... Hoàng Ngọc Tuấn — góp ý với hoàng nguyên nhuận Trần Thảo Lư — nghiệp chướng Nguyễn Vy Khanh — đọc "qua mấy trời sương mưa" Hoàng Xuân Sơn — đêm thu Trúc Chi — một nét thu Nguyễn Thị Minh Thủy — trầm luân Tâm Thanh — trái mùa Trần Thị Lai Hồng — sacre coeur Nguyễn Thị Thảo An — mrs. jeans Đỗ Quyên — đống chữ (trích trường ca) Thu Thuyền — lồ phổ nả Hồ Minh Dũng — mùa đông mới tới Lê Hữu — cầu cho sự bình an Phạm Hà Trang — những ngày mưa cũ Giang — mắt biếc Hoàng Mai Đạt — những ngày về biên hòa Trần Mộng Tú — thơ và bệnh Nguyễn Văn Sâm — trường thi "việt nam thương khúc" Khánh Hà — mùa thu phương bắc Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 164 | Báo Văn Học — Số 164 (12-1999) Thạch Hãn — isabel allende Isabel Allende — nghiệp văn Trần Văn Tích — lục nghị Nguyên — già thi sĩ Đoàn Nhã Văn — nguyễn thị hoàng bắc và những câu chuyện kể Nguyễn Xuân Thiệp — dạ khúc Hoàng Nga — về trong phố xưa Trần Thảo Lư — nhạn môn quan Lê Minh Hà — có thật, thiên đường Phan Ni Tấn — thơ phan ni tấn Nguyễn Hoài Phương — có một giáng sinh Tâm Thanh — gỗ thức trên rừng Ngô Nguyên Dũng — puzzles cảnh quê nhà Vũ Đình Kh. — những mùa ớt trong đời Hà Nguyên Du — người muôn thuở Ngô Nhựt Tân — gánh bánh nậm Thảo Chi — buồn chân đi bộ buổi sáng mùa thu Hoàng Mai Đạt — những ngày về biên hòa Vy — dặn Nguyễn Mộng Giác — đọc tùy bút của Trúc Chi Văn Học — sinh hoạt văn học Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 165-166 | Báo Văn Học — Số 165-166 (1&2-2000) Tết Canh Thìn Trần Mộng Tú — nhìn nhau rất xa Tạ Chí Đại Trường — giao tiếp đông tây ở VN Trần Hồng Châu — trừ tịch trắng Trần Long Hồ — đầu xuân nói chuyện sách Lâm Chương — tội tình chi Hoàng Xuân Sơn — thơ hoàng xuân sơn Tạ Quốc Tuấn — những bài thơ xuân của ba thi tăng trung quốc Nguyễn Hưng Quốc — người đọc, vinh quang và trách nhiệm Nguyên — nghệ thuật Võ Đình — chữ Đức Phổ — lệ vỡ thành giòng Thụy Khuê — sự hình thành và phát triển văn học quốc ngữ t.k. XX Đoàn Nhã Văn — những nỗi ám ảnh của hoàng nga Nguyễn Nam An — thơ nguyễn nam an Triều Hoa Đại — đến thăm nhà bạn Nguyễn Xuân Thiệp — cúc vàng & những truyện khác Kinh Dương Vương — bài thơ cho chim nhỏ Quỳnh Giao — hương xuân và giai nhân Nguyễn Thị Minh Thủy — thơ tình tháng chạp Phùng Nguyễn — tỏ tình với bình minh Giang — homeless Nguyễn Mạnh Trinh — tự họa Hoàng Nga — ở nơi không có tết Nghiêm Xuân Hồng — tâm chim sẻ, mặt trời Đặng Mai Lan — mùa nắng cuối cùng Luân Hoán — dặn chừng, đi theo Ngô Nguyên Dũng — giao thừa của chị lam Trần Hoài Thư — bệnh xá mùa xuân Đặng Hiền — đi qua trí nhớ Nguyễn Thị Hoàng Bắc — thuần ơi! Phan Nhiên Hạo — những chiếc đồng hồ điện tử Tâm Thanh — cành mai sân trước Khánh Hà — cảm ơn ta có nhau Song Thao — những con cá của già sam Phan Ni Tấn — xuôi nam Hoàng Chính — khi loài chim thôi hót Phạm Hải Anh — một chuyến đi Nguyễn Thị Thảo An — những dòng sông thôi chảy Phan Thị Trọng Tuyến — ra đi chiến trường |
| 167 | Báo Văn Học — Số 167 (3-2000) Trần Long Hồ — đầu năm nói chuyện sách (tiếp) Phạm Xuân Nguyên — buồn vui văn học cuối thế kỷ Tô Thùy Yên — chia tay ải Tây Đoàn Nhã Văn — tầm bắn trước và sau của Thảo Trường Nguyệt Thu — bước qua thế kỷ Nguyễn Mộng Giác — nhìn lại những trang viết cũ Khoa Hữu — bao giờ, đêm mơ gặp tô đông pha về Hà nội nhớ Sài gòn Miêng — chiếc mũ Thảo Chi — xuân này xuân xưa Y Chi — mây trắng Hoàng Liên — tiền Trần Yên Hòa — buổi chiều ở Mỹ Vi Khuê — chào đón tân thiên niên kỷ Phùng Nguyễn — đêm oakland. câu hỏi Thu Thuyền — con đầu lòng Ngụ Thuyết — dài thế kỷ Lê Hữu — xuân muộn Vũ Hồi Nguyên — giao tuyến Vũ Đình Kh. — ngọn cỏ vàng trên thung lũng mùa đông Sương Mai — kìa xuân đã về Văn Học — giới thiệu sách mới Phổ Đức — vô ưu |
| 168 | Báo Văn Học — Số 168 (4-2000) Tạ Chí Đại Trường — tiền bạc, văn chương và lịch sử Nguyễn Xuân Thiệp — mưa Đoàn Nhã Văn — trái tim Miêng và nỗi bất hạnh của người phụ nữ Cao Xuân Tứ — tây mổ Dung Nham — thơ dung nham Triều Hoa Đại — phỏng vấn hồ minh dũng Tạ Quốc Tuấn — về hai câu 45-46 trong bản dịch chinh phụ ngâm Nguyễn Hữu Nhật — học nguyễn tuân, chém treo ngành Mười tác giả — những truyện thật ngắn Nghiêm Xuân Hồng — trên ngọn tử sinh Trúc Chi — chút nắng và chút tình Nguyễn Thanh Châu — đêm. sa mạc lan dần Nguyễn Văn Sâm — kể chuyện ngày xưa Hoàng Nga — nhịp sống Hoàng Chính — giải oan cho biển Ngô Nguyên Dũng — dấu giày đón bình minh Hoài Mỹ — lão già otto Nam Dao — kịch câm Bùi Vĩnh Phúc — giới thiệu "giữa hai miền mưa nắng" Văn Học — giới thiệu sách mới Văn Hữu — ý kiến |
| 169 | Báo Văn Học — Số 169 (5-2000) Văn Học — phỏng vấn nhà văn Võ Phiến về bộ sách "văn học miền nam" Đức Phổ — trí mã lực Nguyễn Thanh Sơn — phê bình văn học cảm tính Lê Minh Hà — chân dung nhà văn, trong một thế nhìn Ngu Yên — cuối thiên niên: ký Đoàn Nhã Văn — hồ minh dũng, ngòi bút của tình thương Trần Thị Lai Hồng — tầm vông Tâm Thanh — sau mùa lũ sông côn Võ Đình — bạn cũ Đặng Hiền — tháng năm xanh Kiệt Tấn — những mùa ảo tưởng Nam Dao — trong buốt pha lê Thận Nhiên — thơ không đặt tựa # 17 Lâm Chương — đi giữa bầy thú dữ Trần Hồng Châu — không. tôi chưa muốn chào vĩnh biệt Nguyễn Thị Thảo An — đỉnh trời tròn Nguyễn Thanh Châu — dạ âm, lạc lối Trần Thảo Lư — chiều cancun xa quê Đặng Thơ Thơ — vườn lan Trần Thiện Hiệp — tháng giêng em về Văn Học — giới thiệu sách mới Nguyễn Đức Thanh — huế tháng tư |
| 170 | Báo Văn Học — Số 170 (6-2000) Văn Học — nhà văn Nghiêm X. Hồng từ trần Nhật Tiến — chuyện trò với bạn đọc về cuốn "thềm hoang" Tạ Chí Đại Trường — vì sao có bản mới "thần, người và đất việt" Triều Hoa Đại — nỗi lòng Đoàn Nhã Văn — ngô thế vinh, người oằn vai với những giấc mộng con Lương Thư Trung — cảm nhận về cách viết truyện ngắn của Lâm Chương Trần Mộng Tú — hai mươi lăm năm qua Ngụ Thuyết — vài ý kiến về dịch thuật Giang — bỏ san diego Nguyễn Quảng Tuân — bản kiều nôm trong thư viện anh Cao Xuân Tứ — phía bên kia trời Trần Văn Tích — chinh phụ ngâm bản dịch, c.45,46 Nguyễn Thị Minh Thủy — sống bình yên Nam Dao — chớp sao Nguyễn Chí Kham — mùa thu Trúc Chi — về một cái địa chỉ Hoàng Nga — tổ ấm Thanh Hà — chiều bãi san trí nguyên Hồ Minh Dũng — dưới chân đền tế trời Nguyễn Nam An — trở về theo mơ qua Lê Hữu — có một vì sao Hà Nguyên Du — em tín nữ Nguyễn Thanh Sơn — giới thiệu Nguyễn Bình Phương Thụy Khuê — phỏng vấn nhà văn Nhật Tuấn |
| 171 | Báo Văn Học — Số 171 (7-2000) Huyền Không — một ngọn đèn không tắt Tường Vũ Anh Thy — tâm lung linh Nguyễn Sỹ Hưng — nghiêm xuân hồng, một đời trăn trở xuôi về đọc kinh The Economist — hear the soulbird sing Thế Uyên — nhìn lại một vài tác phẩm trong quá khứ Đoàn Nhã Văn — gió, lửa, thân phận sĩ phu qua ngòi bút Nam Dao Sử Mặc (H.X.S.) — được mùa thơ Hoàng Nguyên Nhuận — thưa thốt và dựa cột Phan Nhiên Hạo — trong những chiếc tàu ngầm Nguyễn Thị Hoàng Bắc — phía hoa vàng Trúc Chi — hộp cơm chay Hoàng Chính — cơn ghen cuối mùa Viêm Tịnh — 94 đã tới Mạch Nha — sông lấp Trần Thảo Lư — trời bataan mưa lâu Hoài Mỹ — một ngày có nắng Trần Thị Lai Hồng — thơ trần thị lai hồng Vũ Đình Kh. — ở thời chưa đánh mất Ngu Yên — một mình ở nhà Trần Cà Mau — bên lề một chuyến âu du Lê Cần Sơn — giả dụ sau cơn liệt Hoài Ziang Duy — nhân gian một chỗ Văn Học — sinh hoạt văn học đó đây |
| 172 | Báo Văn Học — Số 172 (8-2000) Văn Học — phỏng vấn Doãn Quốc Sỹ về khu rừng lau Tạ Chí Đại Trường — tham gia đối thoại sử học Viêm Tịnh — khúc thời gian Dạ Quỳnh — nghệ nhân và cuộc sống Nguyễn Hưng Quốc — văn học trong một nền văn hóa điện tử Thích Nguyên Hạnh — một cõi đi về Lê Cần Sơn — hoang ngôn Trúc Chi — mây hồng Trần Hồng Châu — suối orphée suối ophelia Diễm Âu — dường tro bay Trần Yên Hòa — dụ ngôn cho bé nhỏ xíu Trần Thị Ng.H. — sinh nhật Triều Hoa Đại — mùa hạ, ngồi chờ bóng trăng soi. Điệp Mỹ Linh — cuộc tình xa Dung Nham — muối-đường-ta Nguyễn B. Phương — trí nhớ suy tàn Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 173 | Báo Văn Học — Số 173 (9-2000) Nguyễn Vy Khanh — văn chương truyện thật ngắn Cao Xuân Tứ — thanh hóa Nguyễn Thanh Sơn — di sản và đổi mới Khoa Hữu — thơ viết cho tháng 4.2000 Tâm Thanh — còn đóa hoa quỳ Trần Thị Ng.H. — lexomil Nguyễn Mạnh Trinh — tháng 6 và những tháng 6 Ngô Nguyên Dũng — triết lý của tóc Trịnh Gia Mỹ — niềm vui, nỗi nhớ Song Thao — trên đường thiên lý Hồ Đình Nghiêm — đường âm hồn Đỗ Quyên — buồn muộn cùng thế kỷ Hoàng Chính — vời vợi non cao Hoàng Xuân Sơn — đừng có sợ, ngậm ngùi... Nguyễn Hữu Nhật — nhà in Hà Nguyên Du — mạch dẫn cho tim Nguyễn Thị Thảo An — tên thị nữ xứ đàng trong Đặng Hiền — da tình chi Phan Triều Hải — câu chuyện chén dĩa Nguyễn Bình Phương — trí nhớ suy tàn (tiếp theo) Hoài Ziang Duy — di Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 174 | Báo Văn Học — Số 174 (10-2000) Nguyễn Văn Trung — tưởng niệm Việt Nam Cộng Hòa Nguyệt Thu — sắc không Đoàn Nhã Văn — kiệt tấn và những đam mê đời thường Thường Quán — lửa băng nước Trần Mộng Tú — thư viết từ assaquah Đức Phổ — những sớm mai, còn nhớ được Vũ Hồi Nguyên — một độ khóc cười Mạc Hoài — gối chăn Nguyễn Thị Minh Thủy — đời giữa đêm sâu Trúc Chi — tiếng ca dưới sóng Vạn Giả — thục Võ Đình — bàn thờ nhà bà Soa Ngu Yên — 31 tháng 7 năm 2000 Hoàng Nga — nỗi niềm Lê Cần Sơn — chào em, vì đôi mắt đá Lê Minh Hà — ngày xưa cô Tấm Phạm Hải Anh — viết cho người không hiểu Ngụ Thuyết — con đường về Như Chi — tháng 7, tháng 8, tháng 9 Thu Thuyền — cha con Ngô Nguyên Dũng — che không hết núi Song Thao — mùa hè đã qua Nguyễn Bình Phương — trí nhớ suy tàn (tiếp theo) Phạm Xuân Đài — đọc "bên giòng sông hằng" Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 175 | Báo Văn Học — Số 175 (11-2000) Thạch Hãn — vòng nguyệt quế cho người lưu vong Thụy Khuê — cao hành kiện, nobel văn chương 2000 Nguyễn Thanh Sơn — cao hành kiện, bóng hoa trên mặt nước Cao Hành Kiện (Tâm Thanh dịch) — tiểu thuyết là cái quái gì? Cao Hành Kiện (Thạch Hãn dịch) — đường lên linh sơn Nguyễn Quảng Tuân — nhận xét về cuốn "đọc kỹ truyện kiều" Thường Quán — ba đoạn văn Thảo Chi — đi qua nhà quàng oak hill Hoàng Nga — vĩnh biệt mùa thu Sương Mai — nàng tấm tân thời Thơ Thơ — nhà trẻ Hà Nguyên Du — thuần diệu, linh y Lê Hữu — nắng lạ Triều Hoa Đại — trăng soi hiên cũ Phan Triều Hải — những con đường không đến seattle Ngu Yên — gặp trăng Nguyễn Bình Phương — trí nhớ suy tàn (kỳ cuối) Lê Thị Thấm Vân — người con gái VN da vàng...thời bình Nam Dao — từ bốn phác thảo thời gian đến mối mơ của cuội (kịch) Sử Mặc — nhắm mình Nhật Tiến — đọc tác phẩm mới của N.Thế Vinh Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 176 | Báo Văn Học — Số 176 (12-2000) L.M. Trần Quý Thiện — tưởng niệm Hàn Mặc Tử Nguyễn Văn Trung — những lựa chọn căn bản Đặng Hiền — qua vùng ước mơ Đoàn Nhã Văn — nguyễn xuân hoàng & người đi trên mây. Luân Hoán — thơ luân hoán Thường Quán — giày, và chuyện viết Hồ Minh Dũng — thơ hồ minh dũng Nguyễn Vy Khanh — nỗi nhớ qua 5 tác giả Mai Kim Ngọc — đọc "dì thu" của trang châu Dung Nham — bài cầu nguyện tháng bảy Trúc Chi — mong manh Lê Minh Hà — trương chi Đỗ Quỳnh Dao — tiếng chim Khánh Hà — bèo mây Quán Như — con dế Như Chi — như thơ Hoài Mỹ — vĩnh đen Cổ Ngư — cây đời Nguyễn Thị Hoàng Bắc — châu mai Phạm Hải Anh — khi hoa hướng dương tàn Diễm Âu — chờ cơm Nguyễn Mạnh Trinh — đọc catfish & mandala Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 177-178 | Báo Văn Học — Số 177-178 (1&2-2001) Xuân Tân Tỵ 2001 — Bước vào thế kỷ 21 Trần Hồng Châu — điểm tâm LA Times... (thơ) Tạ Chí Đại Trường — sử việt, đọc một quyển. Võ Đình — nói và viết Trần Hữu Thục — viết truyện, từ chỗ chênh vênh Cao Xuân Tứ — hai ngày với phố cổ Trần Mộng Tú — chia nhau hà nội Trần Long Hồ — đầu năm nói chuyện thơ Đặng Tiến — ngày xuân nói chuyện tuồng hát bội Giáng Hương — vết hài xưa Tạ Quốc Tuấn — xuân với ông vua mất nước Trần Thị Lai Hồng — hài ca Đoàn Nhã Văn — ngọn lửa âm ỉ trong văn chương Mai Kim Ngọc Võ Phiến — nhung nha nhung nhăng Vạn Giả — năm cùng Tâm Thanh — bức chân dung Trần Thiện Hiệp — xới đất trồng hoa Thơ Thơ — một nơi để viết Khánh Hà — ta về thiên niên kỷ sau Đỗ Quỳnh Dao — sau tôi, cơn bão sóng Phan Ni Tấn (N.Đ.) — mọc ở đồng xoài Mai Văn — một chỗ để nghỉ trưa Hà Nguyên Du — nguyên đán chùm gửi Phạm Hải Anh — chuyện cây nhỏ Ngô Nguyên Dũng — tiếng suối đêm giao mùa Đỗ Quyên — buồn muộn cùng thế kỷ Hồ Đình Nghiêm — màu trắng Ngụ Thuyết — tết và trí nhớ Nguyệt Thu — quán gió mùa xuân Nguyễn Mạnh Trinh — thơ tết cho một người Song Thao — bốn người một bàn Thường Quán — con mồi Nguyễn Thị Thanh Bình — ảo tưởng Phan Triều Hải — rau và hoa Nguyễn Hoài Phương — kỳ zaloha cuối cùng Mai Kim Ngọc — giã từ hoàng liên Phùng Kim Chú — thơ phùng kim chú Vũ Thư Hiên — cương ơi, tạm biệt Nguyễn Mộng Giác — đọc "về với biển cả" Hồng Huy — về ý kiến của Nguyễn Quảng Tuân |
| 179 | Báo Văn Học — Số 179 (3-2001) Trần Văn Tích — thơ xuân Trần Nhân Tông và thời gian nghệ thuật Nguyễn Văn Trung — văn học trong vòng tay chính trị Triều Hoa Đại — cuối năm. sáo lại sang sông Trịnh Nhật — thầy tôi: một giấc ngủ dài Ngu Yên — nhật ký theo tiếng hát Nguyễn Thanh Sơn — tiếp thị cho một giải nobel văn chương cho việt nam Tạ Chí Đại Trường — sử học, đọc một quyển (II) các sử gia nho thần Trần Thiện Hiệp — nhớ người kinh bắc Nam Dao — tiếng hú địa cầu Đỗ Quỳnh Dao — chuyện kể một mình Luân Hoán — một lần tham bạn Trúc Chi — bệnh rình sắc hương Đinh Linh — thư lạ Hoàng Xuân Sơn — bài ca con cá Trang Châu — tín hiệu Đỗ Tử Hậu — không phải là chuyện ma Nguyễn Thị Thanh Bình — ảo tưởng Hàn Song Tường — mất tích Trần Mộng Tú — những mảnh quê nhà Thế Quân — tin văn |
| 180 | Báo Văn Học — Số 180 (4-2001) Tạ Quốc Tuấn — lãng tử văn học Ngụ Thuyết — viết, và viết cho ai? Khánh Hà — phục sinh Ngũ An — thủy mặc Nguyễn Quảng Tuân — sách hán nôm ở nước ngoài Tạ Chí Đại Trường — các sử gia nho thần Đặng Hiền — và mơ Nguyễn Văn Trung — văn chương hiện sinh Hoàng Xuân Sơn — bellevue Miêng — bất chính Hồ Như — tiểu thư Ngô Nguyên Dũng — hoang vu tôi Hồ Minh Dũng — vườn không đóng cổng Hà Nguyên Du — em là...vòng nhật nguyệt Lê Minh Hà — chữ ơi! Thu Thuyền — dòng sông gãy khúc Thảo Chi — biết đến bao giờ Nguyễn Hoài Phương — ngày và đêm Alain Robbe Grillet — tiểu thuyết pháp ngày nay Lương Thư Trung — bên bờ kinh xáng bốn tổng đọc sách ngô thế vinh Mạc Hoài — nổi niềm |
| 181 | Báo Văn Học — Số 181 (5-2001) Trúc Chi — trịnh công sơn: đôi nét chấm phá Nguyễn Mộng Giác — mười sáu năm, nhìn lại... Hoàng Khởi Phong — những lần lột xác của văn học Hoàng Xuân Sơn — trăng mười sáu Song Thao — chút kỷ niệm với văn học Nam Dao — kịch nghệ của người việt hải ngoại Nguyễn Hoài Phương — xuống sông Nguyễn Thanh Sơn — những người viết trẻ ở việt nam Trần Mộng Tú — giọt nắng tháng tư Nguyễn Văn Trung — văn chương hiện sinh (tiếp) Hoàng Nga — triền mơ Sương Mai — trang...sầu Triều Hoa Đại — mười năm, bụi ám Nguyễn Thị Thảo An — mến Đức Phổ — ký ức Trang Châu — nắng đêm Hòa Vũ — chị phúc Đặng Trần Huấn — tên thật nhà văn thế lữ Hồng Khắc Kim Mai — thư kính gửi g.s. nguyễn v. trung Thế Quân — tin văn Sam H. Verhovek — từ mộc bản đến mã số điện toán đối với một nhà thơ việt nam Huỳnh Liễu Ngạn — hồi em thuở đó trăng tròn khuyết |
| 182 | Báo Văn Học — Số 182 (6-2001) Nguyễn Văn Trung — văn chương hiện sinh Tô Thùy Yên — gặp gỡ giữa đường Tạ Quốc Tuấn — hương thổ văn học Lê Cần Sơn — làm thơ như giữ đức tin Nguyễn Quảng Tuân — trao đổi với ông hồng huy về quyển 'đọc kỹ truyện kiều' Trần Thiện Hiệp — gặp lại tháng giêng Trần Dần — nhật ký (trích) Ngô Nguyên Dũng — thời khánh tận của đất Phạm Hải Anh — chiếc giỏ giấc mơ Trần Hồng Châu — độc ẩm hoài cố nhân Lê Hữu — giọt lệ chelsea Triều Hoa Đại — phỏng vấn nhà văn phùng nguyễn Nguyễn Vy Khanh — thơ nguyễn nam an Nguyễn Hoài Phương — trí tuệ Thận Nhiên — dòng đầu ngày Ngô Viết Trọng — con đò ma Ninh Hạ - Nguyễn Đức Tâm — margarita Đỗ Tử Hậu — chứng nhân lửa luyện tội Thế Quân — tin văn |
| 183 | Báo Văn Học — Số 183 (7-2001) Nguyễn Mộng Giác — thực chất & huyền thoại Trần Mộng Tú — chuyện của đôi giày Nguyễn Văn Trung — hiện sinh ở miền nam Đặng Hiền — vách thời gian Nguyễn Quảng Tuân — trao đổi thêm với ông hồng huy về quyển 'đọc kỹ truyện kiều' Hà Nguyên Du — gene đại dương Vũ Hoàng Thư — haiku và những cơn nắng hạ Lũ Quỳnh † — trịnh c. sơn, những ngày bệnh. Bùi Bích Hà — hư vô Song Thao — chuyện tình, khúc đầu Phan Triều Hải — những người đánh cá Nguyễn Đức Thanh — người đi Thơ Thơ — độ đau của máy Nguyệt Thu — đi tìm Ngô Viết Trọng — chú hụi Trần Thiện Hiệp — ẩn hiện vầng trăng Điệp Mỹ Linh — mơ chiều Ninh Hạ-Nguyễn Đức Tâm — margarita (2) Hoàng Chính — tình khúc (truyện dài nhiều kỳ) Thế Quân — tin văn |
| 184 | Báo Văn Học — Số 184 (8-2001) Nguyễn Huệ Chi — một vài vấn đề phân kỳ lịch sử văn học nhìn từ điểm đầu t.k. 21 Vũ Hoàng Thư — cánh đồng, thời gian Nguyễn Ngọc Bích — nguyễn du trứ-tác truyện kiều vào khoảng nào? Sử Mặc — hò khoan, duy nhất ở giữa Tạ Quốc Tuấn — hai nhà văn tiêu biểu cho tiểu thuyết hương thổ Đức Phổ — bến cũ Nguyễn Mạnh Trinh — phỏng vấn nhà thơ trần mộng tú Hà Nguyên Du — đêm hạ huyền Nguyễn Phương Linh — tâm sự với một người bạn cũ Võ Đình — mây chó (tùy bút) Hồng Khắc Kim Mai — như phù vân (trích) Hoàng Nga — khúc tháng hai Lê Mây — diễm Trang Châu — người ăn trưa trong xe Cao Xuân Tứ — phú xuân, mấy mươi năm, 1 ngày Hồ Như — trăng non Mai Văn — nắng doi † Phan Nhiên Hạo — coi bói, coi phim Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ) Thế Quân — tin văn |
| 185 | Báo Văn Học — Số 185 (9-2001) Hồng Huy — thông ngữ và đặc ngữ Nguyễn Thanh Châu — lòng khát khao...những cơn mưa Tuấn Huy — nghiêm xuân hồng, người về khép cánh hư không Nguyễn Nam An — nghe mùa hè ôn đới Trần Văn Tích — cỏ cây truyện kiều Lê Cần Sơn — kinh cầu hồn cho người còn đi đứng Tràm Cà Mau — triết lý củ khoai Huỳnh Liễu Ngạn — xóm Ngụ Thuyết — những cây bông trắng Trúc Chi — hạt giống Song Thao — mai sau Nguyễn Khánh Hòa — thơ nguyễn khánh hòa Hoài Mỹ — thập giá Nguyệt Thu — lửa Phạm Hải Anh — đi hết đường mưa Trầm Hương — có gì đâu Trần Thị Diệu Tâm — con câm Hoàng Xuân Sơn — dọc thảo an mùa chớm trăng, mây Nguyễn Hoài Phương — sỏi Đỗ Tử Hậu — mắc cạn Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ) Thế Quân — tin văn |
| 186-187 | Báo Văn Học — Số 186-187 (10&11-2001) Trịnh Công Sơn: Tình yêu, Quê hương, Thân phận (Văn Học ấn bản đặc biệt) Cổ Ngư — Đôi dòng về Trịnh Công Sơn Nam Dao — Ngõ ngàng nước đục bụi trong Bửu Ý — Đèn thắp thì mờ Tuấn Huy — Trịnh Công Sơn, cỏ xót xa người Lữ Quỳnh — Nơi nghìn trùng con gió bay Hoàng Xuân Sơn — Vân Áo, Biết làm sao Nguyễn Việt Thường — Thương Anh, hạt cát dị thường Trương Thìn — Ngẫm nghĩ về Sơn Nguyệt Thu — Những gì còn lại Trần Hữu Thục — Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn Y Chi — Giọt nước nguyên thủy Trần Nhựt Tân — Trịnh Công Sơn, Chim Họa mi và Nàng Thơ Lê Minh Hà — Trịnh Công Sơn, Tại sao? Thơ Thơ — Lời chia tay cuối Trúc Chi — Về một tâm hồn nghệ sĩ Bùi Vĩnh Phúc — Trịnh Công Sơn, ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật Đặng Tiến — Trịnh Công Sơn, Tiếng hát Hòa bình Quỳnh Giao — Trịnh Công Sơn, như cánh vạc bay Nguyễn Thanh Ty — Về một quãng đời của Trịnh Công Sơn Lê Hữu — Từ Diễm Xưa đến Một Cõi Đi Về |
| 188 | Báo Văn Học — Số 188 (12-2001) Thạch Hãn — v.s. naipaul, nobel văn chương 2001 Khánh Hà — em thơ về đâu Tạ Chí Đại Trường — tây sơn, nhìn từ bên trong Luân Hoán — tiên phước, 1946 Tạ-Quốc-Tuấn — chúng ta lơ là với văn học á châu đã quá lâu! Đặng Hiền — vẽ cùng nỗi nhớ Hồng Huy — thương xác cùng ông nguyễn quảng tuân... Tràm Cà Mau — tấm lòng cậu chó Tuấn Huy — thao thức về mênh mông Ngô Nguyên Dũng — xuống núi Nguyễn Nam An — yosemite Bùi Bích Hà — cỏ dại và thú dữ Thái Tú Hạp — lãng mạn Lương Thư Trung — câu chuyện về một loài rong Đỗ Quang Nghĩa — nhớ về trịnh công sơn Ngô Nguyên Dũng — mưa ngũ cung Hà Nguyên Du — viết ở fitcom, santa ana Vũ Hoàng Thư — như những hạt sương Trang Châu — sóng ngầm Trần Mộng Tú — thu khúc Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ) Thế Quân — tin văn |
| 189-190 | Báo Văn Học — Số 189-190 (1&2-2002) Xuân Nhâm Ngọ 2002 Ngữ An — về chào tiếng lạ Trần Văn Tích — hoa xuân hương thiền trong thơ lý trần Nguyễn Hưng Quốc — báo tết và văn hóa tết Nguyệt Thu — gọi mùa xuân muộn Ngụ Thuyết — nghĩ về tết Huỳnh Liễu Ngạn — tân xuân Tạ Quốc Tuấn — đêm trừ tịch với thi nhân trung quốc Nguyễn Quảng Tuân — hình ảnh con ngựa trong truyện kiều Trần Doãn Nho — ngày 11 tháng chín Nguyễn Thanh Châu — lục bát quê nhà Nguyễn Thị Thảo An — 726256-B526 Như Chi — ước chi Trần Mộng Tú — trong khu vườn mùa xuân Triều Hoa Đại — hãy ở cùng ta Võ Đình — người leo núi Mạc Hoài — lặng thầm Thảo Trường — ...trang cuối Lê Hằng — thần bội bạc Trần Hồng Châu — cội thông bên bờ thế kỷ Nguyễn Hoàng Văn — thơ ngắn Nguyễn Thị Hoàng Bắc — thư gửi mẹ Lê Cần Sơn — nằm xoay lưng nghe quạ kêu Lê Minh Hà — những người muôn năm cũ Trúc Chi — thư gửi hạc Hoàng Xuân Sơn — lượng xuân Tuấn Huy — hà nội lung linh trong trí nhớ Sâm Thương — tên đao phủ trên cổ thành Khánh Hà — chùm lục bát Tâm Thanh — khe sáng Song Thao — rời nơi giấu mặt Vạn Giả — vẫn chờ xuân Thơ Thơ — chuyện của ti Đỗ Quỳnh Dao — đối gương Hồ Đình Nghiêm — sứ giả Nguyễn Việt Thường — đêm mộng về gác gió Tràm Cà Mau — xứ khỉ khọn Hoàng Chính — thư tình của mỵ nương Hoài Ziang Duy — bốn ngàn năm chen lấn Thái Tú Hạp — sát na hạnh ngộ Thế Quân — tin văn |
| 191 | Báo Văn Học — Số 191 (3-2002) Hồng Huy — cũng nên chỉnh lại Hoàng Xuân Sơn — không điểm & và mưa, sóng Trần Văn Tích — hai chữ bát bát của nguyễn khuyến Nguyễn Quảng Tuân — đến hàn san tự để tìm hiểu bài thơ phong kiều dạ bạc của trương kế Đặng Hiền — mơ Tràm Cà Mau — tạo nhàn Ngu Yên — tình cũng đau răng bia lỏng và cát đặc Phan Triều Hải — đi mãi trên đường Ngô Nguyên Dũng — khoảnh khắc Hoàng Nga — một đoạn ký Lâm Chương — những đoản văn rời Ninh Hạ - Nguyễn Đức Tâm — tết muộn Trần Mộng Tú — cúm Lê Minh Hà — gió từ thời khuất mặt Nguyễn Việt Thường — bước chân ai lạc bên thềm Nam Dao — con mắt xanh Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ) Nguyễn Mộng Giác — tuổi thơ trong truyện thơ thơ Thế Quân — tin văn |
| 192 | Báo Văn Học — Số 192 (4-2002) Tạ Chí Đại Trường — sex và triều đại Triều Hoa Đại — phố xưa Hồ Sĩ Khuê — bút pháp Sử Mặc — ngắn ngủn Tạ Quốc Tuấn — trịnh thanh văn, nhà văn hương thổ được trao giải quốc tế Xuyên Trà — lời cuối cho người Đinh Trường Chinh — tình hương Trịnh Công Sơn — nhật ký huế (di cảo) Triều Hoa Đại — trần doãn nho, từ chỗ chênh vênh Song Thao — cuộc rượu ngày đi Vạn Giả — một ngày tháng tư Hoài Mỹ — thiếu phụ điên Nguyễn Việt Thường — từ dòng thơ bảy chữ Tràm Cà Mau — vợ hiền Sương Mai — hai đoản khúc: tìm, mộng Y Chi — về Bernard Malamud (Võ Đình dịch) — người mẫu Lê Hữu — đôi ngày lãng quên Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ) Thế Quân — tin văn |
| 193 | Báo Văn Học — Số 193 (5-2002) Hồng Huy — xưng hô trong tiếng việt Trần Mộng Tú — xuân, đông và hoa đào Nguyễn Hưng Quốc — tiếng việt, dễ mà khó. Phạm Thị Hoài — hư cấu thật, hiện thực giả Tuấn Huy — bình nguyên lộc: cuống rún mãi mãi dính liền với đất nước Trần Thiện Hiệp — trở về thành phố cũ Trúc Chi — mây và tháng ba Đạm Thạch — đàn kiến và sự báo động Tràm Cà Mau — luyện võ trị chồng Lữ Quỳnh — hoàng hôn trong tranh... Võ Đình — cơn sốt 21 ngày Hoàng Phố — ông thần đèn, nguyễn Hoàng Chính — bão tuyết Cổ Ngư — gió lập xuân Miêng — huyễn hoặc Nguyễn Mạnh Trinh — nghĩ khi gần tuổi 60 Vũ Hồi Nguyên — hạnh phúc là cùng Thu Tú — một mình, quán tưởng Sâm Thương — đêm không có mặt trời Nguyệt Thu — thầm kín Tâm Thanh — tặng vật Ninh Hạ — tưởng nhớ mai trung tĩnh Nguyễn Mộng Giác — vài ghi nhận khi đọc huyết đằng Hoàng Chính — tình khúc (truyện đăng nhiều kỳ) Thế Quân — tin văn |
| 194 | Báo Văn Học — Số 194 (6-2002) Thụy Khuê — hélène péras & hàn mặc tử Hồng Huy — từ loại trong tiếng việt Ngu Yên — đẹp làm đẹp cái đẹp Tràm Cà Mau — đi tìm thú vui điền viên Lê Cần Sơn — bài thơ phù vân Trúc Chi — 'tôi' và lỗ tấn Nguyễn Việt Thường — mai tiên, bài thơ mừng cưới Hoàng Phố — thơ hoàng phố Diễm Âu — lama Lưu Hy Lạc — mưa giữa năm Ngô Nguyên Dũng — hương đêm vườn ổi chín Nam Dao — ba miền (kịch) Đặng Hiền — sau vườn mùa hạ Mai Văn — chuông Hoàng Chính — tình khúc (truyện dài) Thế Quân — tin văn Xuyên Trà — nếu có những điều |
| 195 | Báo Văn Học — Số 195 (7-2002) Tạ Chí Đại Trường — sex và triều đại Trần Long Hồ — đọc lại phong kiều dạ bạc Xuyên Trà — lòng ướt như mây Cao Huy Thuần — mặt trăng thứ nhất Phạm Hải Anh — lý bạch cởi truồng Hoàng Phố — ta bắt tay ta lòng ảm đạm Tràm Cà Mau — tuổi già là thời sung sướng nhất Nguyễn Thanh Châu — đoản khúc saguaro Nguyễn Thanh Châu — chạm vào tôi ngọn gió Nguyễn Thị Thảo An — cửa búa Vạn Giả — biệt khúc trăm năm Trang Châu — chị xuyến Khánh Hà — hạ chí Trúc Chi — một chiều chủ nhật Thùy Dương — say sóng (truyện đăng hai kỳ) Trần Thiện Hiệp — sàigòn tháng sáu trời mưa Lữ Quỳnh — huế mùa đông 79 Thế Quân — tin văn Quý Tâm, Văn Học — sinh hoạt văn học |
| 196 | Báo Văn Học — Số 196 (8-2002) Lê Hữu — đoàn chuẩn-từ linh một mùa nào lãng mạn Trần Văn Tích — những lầm lẫn và thiếu sót trong "thơ văn lý trần" Ngô Nguyên Dũng — chuyện văn cùng bác sĩ phân tâm.. Tràm Cà Mau — cô bằng nhắng Nguyễn Việt Thường — ơn mẹ Hồ Như — chuyện qua đường Bùi Bích Hà — thiên thu Lê Minh Hà — gió từ thời khuất mặt Nguyệt Thu — chớm hạ Đỗ Quỳnh Dao — phải chi Cao Xuân Tứ — amsterdam Phạm Hải Anh — thắp nến giữa trời Hoàng Xuân Sơn — collage, cầu treo ở sáu mươi Trần Thị Diệu Tâm — thánh ca Thùy Dương — say sóng (tiếp theo kỳ trước) Xuân Đỗ — đọc "gỗ thức trên rừng" Thế Quân — tin văn Đạm Thạch — bàn tay Nam Dao — trả lời thư độc giả |
| 197 | Báo Văn Học — Số 197 (9-2002) Nam Dao - N. M. Giác — thảo luận về tiểu thuyết lịch sử Cao Xuân Tứ — sapa Trần Doãn Nho — từ ảo đến thực Trần Mộng Tú — gọi tên thượng đế Hồng Huy — thành ngữ trong tiếng việt Thu Tứ — quen lạ xa gần Tô Thùy Yên — thấm thoát đời ta Tràm Cà Mau — đi thăm con cháu thái dương thần nữ Sương Mai — M Nguyệt Thu — đầu dốc Võ Đình — tạp tàng Xuyên Trà — ngày chủ nhật Lâm Chương — những đoản văn rời Hoàng Nga — lễ hội Cổ Ngư — biển Vạn Giả — biển cạn, bóng trăm năm Phạm Hải Anh — nhạn bay vạn dặm Thùy Dương — cái giường của tôi Nguyễn Mộng Giác — đọc "con nữ" của đỗ quỳnh dao Thế Quân — tin văn |
| 198 | Báo Văn Học — Số 198 (10-2002) Tạ Chí Đại Trường — sex và triều đại (kỳ 3) Mloanhoasư † — thú đau thương Cao Xuân Tứ — sờ râu các cụ khảo quan nhìn tây đầm...nhớ tú xương Ngô Nguyên Dũng — có lần như đã tình nhân nhau Tạ Quốc Tuấn — Tiêu Hồng, nhà văn nữ bất hạnh Kiệt Tấn — hài cú cho ngày 11/9 Tuấn Huy — trần cao lĩnh, nỗi đam mê thiết tha trong câm lặng Sương Mai — bóng thu Tràm Cà Mau — ngục tù êm ái Nguyễn Hoài Phương — hèn Ngô Nguyên Dũng — sao trong vạt áo Vạn Giả — dối nghịch Hồ Đình Nghiêm — hư ảnh Thu Thuyền — chú thời Trúc Chi — gỗ và đá Thế Uyên — ngõ cấm chỉ Nguyễn Nam An — rớt lại nụ cười Thế Quân — tin văn |
| 199 | Báo Văn Học — Số 199 (11-2002) Trần Hữu Thục — giải nobel văn chương 2002 Imre Kertész (Thạch Hãn dịch) — đời không số kiếp (trích đoạn trong Fateless) Nguyễn Hưng Quốc — sống và viết giữa các nền văn hóa Liễu Trương — võ phiến và guy de maupassant Nguyễn Minh Đức — nẻo về, tiếng thầm Trang Thanh Hiền — đồ mã rằm tháng bảy Trần Mộng Tú — dừng hỏi em Lê Minh Hà — chân dung nhà văn Nguyễn Nam An — cỏ nhớ hoa sim Trần Tuấn Kiệt — huy tưởng "hỏi đường cùng mây trắng" Quyên — giữa vàng áo bay Trang Châu — tay anh chị Đức Phổ — sài gòn - bolsa Đặng Trần Huấn — hai mươi bốn năm xưa Nguyệt Thu — thu chín Ngô Nguyên Dũng — phương này Thùy Dương — giấc mơ có con thiên nga Kỳ Quân — linh ngư và nghiên mực nhỏ Sono Ayako — núi phú sĩ Thế Quân — tin văn |
| 200 | Báo Văn Học — Số 200 (12-2002) Nguyễn Văn Trung — vấn đề nhân vật lịch sử Đỗ Quang Nghĩa — afghanistan, chúng tôi ở bên bạn Trần Hữu Thục — góp ý về tiểu thuyết lịch sử Hồng Huy — thói quen trong ngôn ngữ Lam Nguyên — tiễn nhau, thu đất khách Hoàng Phố — cứ mãi chia đôi Liễu Trương — đọc truyện nguyễn thị lộ của nht Lưu Trần Nguyễn — cạo râu buổi sáng Lê Hữu — nửa đêm Đức Phổ — ai xô ta về phía tuyệt tình Tràm Cà Mau — bạn thơ Võ Đình — rác Nguyễn Thị Hoàng Bắc — sinh nhật Trúc Chi — một phút hoài cổ Kiệt Tấn — paris, thu! Võ Kỳ Điền — câu hỏi kiếp người Thế Quân — tin văn Nguyễn An Bang — vài nhận xét về VH 197 |
| 201-202 | Báo Văn Học — Số 201-202 (1&2-2003) Xuân Quý Mùi 2003 Trần Văn Tích — mùa xuân trong các bài thơ hán nôm Tạ Quốc Tuấn — những bài thơ nguyên tiêu trung hoa Hà Nguyên Thạch — ngẫu hứng xuân Hoàng Phố — chiều ba mươi trong sở thú với bạc má. guilty Tạ Chí Đại Trường — các trung tâm quyền lực trong lịch sử việt Đức Phổ — rượu nghinh xuân Nguyễn Hưng Quốc — đọc võ đình Triều Hoa Đại — về lại phố xưa Nguyễn Hoàng Văn — mì quảng không biết cãi? Thu Tứ — bánh tét Xuyên Trà — nẻo nào Trúc Chi — nụ đào trong sương Hoàng Nga — mùa xuân phía trước Nguyệt Thu — mùa xuân đang chờ Quỳnh Giao — bốn mùa thay lá Hồ Minh Dũng — nằm mơ về thăm núi Lâm Chương — những đoản văn rời Khánh Hà — xuân vẫn còn Song Thao — canh cánh bên lòng Nguyễn Bá Trạc — bến xuân xanh Lê Minh Hà — chàng Nguyễn Thanh Châu — như cơn mưa đầu mùa, nụ hồng, đêm nguyệt tận, trù mật một mùa đời Phạm Hải Anh — phúc Hồ Đình Nghiêm — sử xanh Giang — dọn nhà Ngô Nguyên Dũng — chuyện trong rừng trầm thủy Tràm Cà Mau — xó địa đàng Ngữ An — lỡ hẹn mùa xuân Đỗ Tử Hậu — hương tết xưa còn vương Thế Quân — tin văn Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn (truyện dịch đăng nhiều kỳ) |
| 203-204 | Báo Văn Học — Số 203-204 (3&4-2003) Tân Niên Quý Mùi Phan Cự Đệ — tiểu thuyết lịch sử Vạn Giả — hồng trần Tô Thùy Yên — hành giả âu sầu Tạ Chí Đại Trường — các trung tâm quyền lực trong lịch sử việt (tiếp theo và hết) Lý Thừa Nghiệp — † lên chùa giao thừa Trần Văn Tích — vấn đề văn bản học của một số bài từ đào tấn Huỳnh Liễu Ngạn — giữa chợ Liễu Trương — roland barthes Hoàng Phố — còn cái than ôi... Kiệt Tấn — thơ văn, quê nhà trong trí nhớ Hoàng Xuân Sơn — những bài thơ trăng Thu Tứ — viết về ăn Nguyệt Thư — tiền thân Trần Doãn Nho — cái thú của tôi Thụy Khuê — phạm hải anh & huyết đằng Hoàng Nga — yêu dấu Tâm Thanh — hóa thạch Tràm Cà Mau — hơi ấm đồng hương Trần Mộng Tú — người đàn bà mới Trang Châu — một quãng xuân thì Ngô Nguyên Dũng — chuyện trong rừng trầm thủy (tiếp theo kỳ trước) Mạc Hoài — bờ xa Phạm Hải Anh — lạc † Mloanhoasử — mơ mãi Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn (truyện dịch đăng nhiều kỳ) Thế Quân — tin văn Thạch Hãn — giới thiệu sách mới Lữ Kiều — tranh bìa |
| 205 | Báo Văn Học — Số 205 (5-2003) Huỳnh Hữu Ủy — đọc thơ tuệ sỹ Hoàng Quốc Bảo — đêm sâu tuệ sỹ Thu Tứ — hia bảy dặm Sử Mặc — tôi yêu tôi yêu... Trần Văn Nam — ...sự gắn bó hình thức & nội dung Thụy Khuê — đọc PTLMĐ của thơ thơ Nguyễn Khánh Hòa — biết còn gặp lại tình chăng? Đỗ Quang Nghĩa — hà nội † Alexandre Lê — trao đổi với lê hữu mục về chinh phụ ngâm Hoàng Xuân Sơn — hát thức Trịnh Công Sơn — con số trên tờ lịch Võ Đình — sáng - chiều Trang Châu — mùi hương xưa Ngụ Thuyết — những ngày cuối tháng tư Hoài Mỹ — và sau cùng Hoàng Nga — cõi sương mù † Mloanhoasử — cút bắt Song Thao — chốn cũ Nguyễn Thanh Châu — thơ nguyễn thanh châu Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn, truyện dài (tiếp theo) Thế Quân — tin văn |
| 206 | Báo Văn Học — Số 206 (6-2003) Trần Hữu Thục — tính hiện thực trong ca từ của phạm duy Ngô Nguyên Dũng — phân ưu muộn Nguyễn Ngọc Bích — hồ xuân hương: những văn bản thơ nôm được công bố từ 1968 Vũ Hoàng Thư — mưa tháng 5 nhớ quê cũ Đoàn Nhã Văn — trần diệu hằng và những chuyến đi không ngừng nghỉ Xuyên Trà — lời dặn dò khi mới cưới Tràm Cà Mau — ăn và sống Lê Cần Sơn — bởi em là cây trúc xinh Trúc Chi — gió trong hương trà Trần Thị Diệu Tâm — bóng cha Nguyệt Thư — trăng Hoàng Nga — nụ cười thái thú Phạm Hải Anh — tri âm Hoài Ziang Duy — như là như thế sao Trần Trị Chi — chuyện kể từ thành phố Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn, truyện dài (tiếp theo) † Thường Quán — thay orbituary văn xuân an Thế Quân — tin văn |
| 207 | Báo Văn Học — Số 207 (7-2003) Trần Văn Tích — hồ sơ bệnh lý nguyễn du Sương Mai — câu ca dao cũ Phan Cự Đệ — tiểu thuyết phiêu lưu và tiểu thuyết tâm lý Trúc Chi — dăm điều nghĩ về thơ tô thùy yên Thu Tứ — nấu phở, làm thơ... Nhị Thanh — khéo lo Hoàng Nga — đoản văn Hoàng Xuân Sơn — đứng lại Trịnh Y Thư — cuộc chiến của anh tôi Nguyệt Thư — ngâu Trần Trị Chi — thầy giáo và học trò Tràm Cà Mau — ngộ đạo đất trời Hoàng Phố — hãy thức, bạn hiền Phạm Hải Anh — phục trước tĩnh đàn Lý Thừa Nghiệp — thơ lý thừa nghiệp Kawabata (Mai Kim Ngọc dịch) — đẹp và buồn, truyện dài (tiếp theo và hết) Thế Quân — tin văn |
| 208-209 | Báo Văn Học — Số 208-209 (8&9-2003) Đỗ Long Vân — thanh quan, ám ảnh hoàng hôn Đỗ Long Vân — bản đồ địa ngục theo chế lan viên Đỗ Long Vân — kỹ thuật tả chân trong số đỏ Đỗ Long Vân — thơ trong cõi người ta Đỗ Long Vân — những đồ bằng chất giẻo Đỗ Long Vân — khuôn mặt hay tâm sự tiểu tư sản trong thanh tâm tuyền Trần Văn Tích — chứng mất ngủ của nguyễn du Ngụ Thuyết — viếng mộ nguyễn du Trần Văn Nam — bố cục tập trung qua thơ n.đ. sơn Ngô Nguyên Dũng — địa cầu, những hoang mang... Nguyên Hương N.C. — nhân đọc nguyễn bá triệu... Mai Kim Ngọc — hà lan du ký xe đạp Hồ Đình Nghiêm — mất đất Hoàng Ngọc Tuấn — đừng đến sân ga Ấu Tím — đoạn cuối tình yêu Khánh Hà — vườn hạ Võ Đình — tìm cháu Xuyên Trà — mùa thu và em, mộng thu Lâm Chương — những đoản văn rời Hoàng Xuân Sơn — thập thành Khánh Hà — chỉ cần Trần Trị Chi — con ăn nữa nhé Nam Dao — sân đền (kịch) Hoàng Xuân Sơn — hạ tuyển Thế Quân — tin văn |
| 210 | Báo Văn Học — Số 210 (10-2003) Nguyễn Hữu Liêm — cái tật văn chương tào lao Phạm Thị Hoài — thứ hai tuần sau của văn chương Trần Thiện Hiệp — thăm lại rừng mây Thu Tứ — người việt trung dung Hoàng Phố — đường tên Thụy Khuê — hậu hiện đại Hồ Minh Dũng — xa Lê Minh Hà — tiếng xưa Xuyên Trà — già hữu Hoàng Chính — khoảnh khắc trăm năm Phạm Hải Anh — người tình mắt hiếng Đoàn Nhật — không đề Trang Châu — người đàn ông của chúng ta Nguyễn Hoài Phương — rừng chiều Tràm Cà Mau — giọt hạnh phúc trong đáy ly Mai Kim Ngọc — hà lan du ký xe đạp Hoàng Bích Đào — ngậm ngùi kỷ niệm Dương Tường — nhận định về nguyễn viện Nguyễn Mộng Giác — nhận định về "rồng & rắn" Nguyễn Viện — cửa địa ngục Thế Quân — tin văn Thường Quán — thơ shakespeare tìm được ở thư viện huntington USA |
| 211 | Báo Văn Học — Số 211 (11-2003) Trần Hữu Thục — nobel văn chương 2003: j.m. coetzee Mai Kim Ngọc — giải nobel văn học 2003 J.M. Coetzee (Mai Kim Ngọc dịch) — ô nhục Nguyễn Xuân Thiệp — những bài thơ của mùa hè qua Nguyễn Hưng Quốc — tính đại chúng: kẻ thù của văn chương Xuyên Trà — mượn Tạ Chí Đại Trường — thêm chút tiền cho toàn thư Khánh Hà — khi em không còn Trần Văn Nam — thơ tạo dấu ấn riêng, dù là ngôn ngữ qui ước hay tân kỳ Ngô Nguyên Dũng — thời tiết Trần Thị Laihồng — miếng ngon quê hương Cổ Ngư — mùa thu và giấc mơ trăng Tràm Cà Mau — bầu bí một giàn Ngũ An — ở huế Ấu Tím — nỗi lòng Sâm Thương — một tác phẩm nghệ thuật Ngụ Thuyết — mùa thu và cây Nguyễn Viện — cửa địa ngục Lý Thừa Nghiệp — thơ lý thừa nghiệp Thế Quân — tin văn † Văn Học — giới thiệu sách mới |
| 212-213 | Báo Văn Học — Số 212-213 (12/03&1/04) Tết Giáp Thân Võ Phiến — người ơi người ở dài dài Nguyệt Thư — vẫn tràn mùa xuân Tạ Quốc Tuấn — xuân với người bị hạ phóng Lữ Quỳnh — mùa đông, những ngày bình yên Nguyễn Ngọc Bích — ảnh hưởng tam giáo trên tinh thần người việt Lý Thừa Nghiệp — ta còn một nỗi đam mê Thu Tứ — có thần và thần Trần Mộng Tú — cuối năm Nguyễn Hưng Quốc — việc dạy tiếng việt như một ngôn-ngữ-một-rưỡi Xuyên Trà — nỗi mình, vô lượng Trần Văn Nam — thơ tình phổ quát và thơ tình hải ngoại Nguyễn T. S. Thanh — thi thể, nỗi buồn không thôi Tạ Chí Đại Trường — chuyện sử chàm trong toàn thư Mai Kim Ngọc — cảm nghĩ về việc phát hiện thành thăng long cổ Lê Nguyên Tịnh — năm mươi chiếc bóng hư vô Ngô Nguyên Dũng — chỗ m. ngồi Lê Minh Hà — tết này nhớ tết Thường Quán — ba cảnh trí ở đà nẵng Ấu Tím — hờ hững xuân phai Nguyễn Việt Thường — vườn xưa, giấc ngủ của mẹ Hoàng Chính — mùa giáng sinh xưa Nguyễn Hoài Phương — duyên dáng việt nam Nguyễn Cảnh Nguyên — hồi ức khó phai Võ Đình — thư từ: đời và hồn Hoàng Xuân Sơn — collage h.đ.n., tatoo Trang Châu — nhìn đàng sau Hàn Song Tường — chiếc bóng Song Thao — lẽ ra Đạm Thạch — ngày xuân em Hà Nguyên Du — xuân & những mảnh cảm xúc Điệp Mỹ Linh — chút tình để lại Nguyễn Thanh Châu — chớp mắt. và đêm mở ướt Hoàng Bích Đào — bóng ngã bên đời Tràm Cà Mau — ngày tháng thần tiên Nam Dao — tuyệt tình (trích tiểu thuyết) Thế Quân — tin văn Thụy Vũ — trình bày bìa |
| 214-215 | Báo Văn Học — Số 214-215 (2/04&3/04) Truyện cực ngắn Nguyễn Hưng Quốc — vài ý ngắn, thật ngắn về truyện cực ngắn Võ Phiến — vài ý nghĩ về truyện thật ngắn Trần Mộng Tú — tuổi mới Pamelyn Casto — truyện chớp: từ thật ngắn đến cực ngắn Julio Cortázar — về truyện ngắn và cực ngắn Hà Nguyên Dũng — đời thêm một cuộc chia tay ngậm ngùi Tạ Quốc Tuấn — truyện cực ngắn trung quốc Mloanhoasử — hoa hởi là hoa, duyên Tiền Vệ (giới thiệu) — † TUYỂN TẬP TRUYỆN CỰC NGẮN QUỐC TẾ — nhiều tác giả (Thanh Sương, Thân Nhiên, Alexander Solzhenitsyn, Nhật Tuấn, M. Stenley Dubien, Marco Denevi, Yasmina Reza, Isabelle Sojfer, Franz Kafka, Raymond Federman/George Chambers, Julio Cortázar, Pamela Gray, Carolyn Forché, Sharon Wahl, Nguyễn Phan Thịnh, Carlo Edmundo de Ory, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Patricia Harrington, Ngọc Bảo An, Hoàng Đan, William Carlos Williams, Anton Chekhov, David Rachel, Phước An, Rafael Perez Estrada, Hoàng Ngọc Tuấn, J.B. Mulligan, Luis Jorges Borges, Italo Calvino, G.S. Evans, Đinh Linh, Hương Yến, Trần Tất Đạt, Kelly Simon, Trần Tiến Cao Đăng, Jererome Stern, Nguyễn Như Núi, Võ Đình, Molly Giles) — TOC không ghi trang riêng cho từng tác giả trong mục này Thu Tứ — thế thiên hành đạo Trần Văn Tích — về một số chú thích trong "thơ chữ hán nguyễn du" Trần Văn Nam — ba lối hội nhập đất mới trong thơ hải ngoại Lữ Quỳnh — người bên kia núi Lê Hữu — ảo giác trịnh công sơn Hoàng Lộc — lạc địa Hoàng Nga — độc ẩm, thánh Hoàng Chính — tiệc cưới ở phương đông Hà Nguyên Du — kịch xuân Trúc Chi — mùa thu đỏ lửa Hồ Đình Nghiêm — mùa hè không trở lại Nguyễn Hữu Thụy — thơ tặng bạn Thế Quân — tin văn |
| 216 | Báo Văn Học — Số 216 (4-2004) Ngụ Thuyết — trịnh công sơn và những phố xa Nguyệt Thư — bên kia núi Nguyễn Hưng Quốc — chuyện học văn và dạy văn Trần Văn Tích — long thành cầm giả ca Ngô Nguyên Dũng — nhân vật Tạ Chí Đại Trường — tây tiến Hoàng Xuân Sơn — vũ điệu Trần Doãn Nho — james joyce, ulysses và thách đố mới Hoàng Xuân Sơn — dọc lương thư trung Võ Đình — trắng đen Xuyên Trà — một ngày, quê ngoại Tâm Thanh — câu chuyện hay nhất thế giới Trúc Chi — bên bờ giếng Bùi Quang Diễm Thu — sợi tóc, sợi tình Trang Châu — người khách đặc biệt Nguyễn Ý Thuần — mưa auschwizt Ấu Tím — yêu người ngoại đạo Thế Quân — tin văn |
| 217 | Báo Văn Học — Số 217 (5-2004) Thu Tứ — mềm như nước Phươngmỹhoa — thiện căn Vĩnh Đào — andré malraux & việt nam Khoa Hữu — ải bắc Khoa Hữu — ba cái chết một nỗi buồn Nguyễn Văn Trung — milan kundera Hoàng Nga — nữ văn sĩ Đức Phổ — đêm qua anh mơ thấy biển Hồ Đình Nghiêm — thương tích Ngô Nguyên Dũng — vẫn chưa quên những trang cổ tích Tạ Chí Đại Trường — sao các anh thù dai thế? Trúc Chi — gió bụi Tràm Cà Mau — còn những tấm lòng Ấu Tím — mái tóc Huỳnh Liễu Ngạn — một lần thôi một lần Ngô Nguyên Dũng — loan Nguyễn Ý Thuần — người ôm trái núi Nguyễn Hòa Trước — mưa đêm áo bỏ Thế Quân — tin văn |
| 218 | Báo Văn Học — Số 218 (6-2004) Nguyễn Hưng Quốc — thế hệ tiền-lý thuyết Phạm Tăng — viết cho như phong Trần Văn Tích — trúc chi từ Xuyên Trà — giấc lạ, vệt nắng, đoạn kết Tạ Quốc-Tuấn — tân trào thi: động lực chính thức của văn học hiện đại Trung quốc Phan Thị Trọng Tuyến — những giọt sương hoa Nguyệt Thư — biển mưa Thụy Khuê — đọc con nữ của đỗ quỳnh dao Đức Phổ — dâu bể trăm chiều vẫn cố hương Nguyễn Ý Thuần — apollo/david Hoàng Xuân Sơn — suy tôn Phạm Hải Anh — anh đào bên biển Ngô Nguyên Dũng — từ chối Tràm Cà Mau — vẽ đường chỉ tay Lê Minh Hà — gió tự thời khuất mặt Mai Kim Ngọc — tâm sự một khóa học (kỳ thứ nhất) |
| 219 | Báo Văn Học — Số 219 (7-2004) Nguyễn Hưng Quốc — những nhà phê bình mù Sương Mai — chỉ là... Lê Hữu — phạm duy, tôi còn yêu tôi cứ yêu Tạ Chí Đại Trường — một thoáng nhìn về sử học việt nam quốc nội Trần Văn Tích — hý trường tùy bút của đào tấn Lữ Quỳnh — đêm ngày Tràm Cà Mau — bạn cũ năm mươi năm Hoàng Xuân Sơn — cũ Nguyễn Viện — kẻ vắng mặt Lê Cần Sơn — là hoa trong cõi tục thiền Thế Quân — tin văn Mai Kim Ngọc — tâm sự một khóa học (tiếp theo kỳ trước) |
| 220 | Báo Văn Học — Số 220 (8-2004) Tạ Chí Đại Trường — một thoáng nhìn về sử học việt nam quốc nội (2) Huỳnh Liễu Ngạn — vân lâu Thu Tứ — của thần, của người Nguyễn Huệ Chi — văn tâm như tôi nghĩ Nguyễn Hữu Thụy — dáng tiếc Trần Văn Tích — về bản kiều lâm nhu phu Lữ Quỳnh — giấc mơ 1 Mai Kim Ngọc — về một tiếng chuông Hoàng Bích Đào — âm vang Nam Dao — tình phụ (kịch) M. Loanhoasử — mười ba năm Sâm Thương — chuyến tàu nửa đêm Tràm Cà Mau — đứa con dâu Ấu Tím — tạ tình Nguyệt Thư — gọi nhầm số Nguyễn Cảnh Nguyên — kiếp phù du Nguyễn Hòa Trước — nguồn Thế Quân — tin văn |
| 221 | Báo Văn Học — Số 221 (9-2004) Trần Thị Laihồng — tiếc văn chương thương chữ nghĩa Tạ-Quốc-Tuấn — tiểu thi trung-quốc Lê Lô — về một nền văn hóa quá lâu Vi Ký — nghệ thuật dưới mắt nhìn của ý thức Huỳnh Ngọc Chiến — du thần chi: thảm kịch khúc phượng cầu lạc điệu Ngu Yên — đi tìm thơ hay Phạm Hải Anh — nếu không mất ngủ? Hoàng Nga — quê nhà Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Trịnh Y Thư — khi gió santa ana lên tiếng Nam Dao — đất thổ Hoàng Xuân Sơn — gọi là Hoàng Xuân Sơn — chữ tình Nguyễn Quang Vinh — người và dã thú Sâm Thương — hồ sơ của một phiên tòa Huỳnh Liễu Ngạn — bến sông bãi nọ Đỗ Hoàng Diệu — những người mang đôi mắt buồn M.Loanhoasử — qua sông Nguyễn-Hòa-Trước — xuân ca Cổ Ngư — bay Tưởng Năng Tiến — phùng quán, tố hữu và nguyễn khoa điềm Nguyệt-Thư — bầy nến sinh nhật Võ Đình — thăm người chết Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — đom đóm Mai Ninh — sao rơi về đất Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn trần vũ Nguyễn Vy-Khanh — luân hoán nơi cõi người ngơ ngác Trương Vũ — vài suy nghĩ về "mây chó" Hoàng Mai Đạt — làm nghề này phải gian Thế Quân — tin văn Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới |
| 222 | Báo Văn Học — Số 222 (11,12-2004) Trần Văn Tích — thơ và phú giao châu Hoàng Chính — thạch cao buồn Vi Ký — nam cao như là... Nguyễn Thị Từ Huy — jean valjean: cái tên... † MDTT — nụ † MDTT — xuân thì Nguyễn Huy Thiệp — cánh buồm nâu thuở ấy Phạm Hải Anh — nói riêng Nguyễn Việt Thường — ơn anh Nguyễn Trung Tây — ngũ đổ tường Lý Thừa Nghiệp — trăng tan Sâm Thương — máu chảy về tim Trần Thị Hà Thân — tạ ơn Phan Triều Hải — gió qua cửa hẹp † Nguyễn Nam An — buổi tối † Nguyễn Nam An — bài sinh nhật gửi bạn xa Văn Cầm Hải — người chị miền đông đức Đặng Hiền — biển, bên này trí nhớ Đặng Hiền — đợi Trang Châu — những người ngủ muộn Xuyên Trà — lục bát chiều Ấu Tím — bướm vàng đậu ngọn mù u Trịnh Y Thư — đồi hồng Nguyễn-Hòa-Trước — ngày sống thứ một trăm Hoàng Xuân Sơn — thổ nhưỡng Hoàng Xuân Sơn — nếu. đọc một câu chuyện Nguyễn Hoài Phương — những bài học về một... Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — cậu ếch cứu tokyo Hồ Công Tâm — trả hết cho nhau Đức Phổ — một ngày... Lưu Hy Lạc — ngó sen Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi † K'Tien — sổ tay thượng dân Trịnh Thanh Thủy — giải nobel văn chương 2004 Thế Quân — tin văn Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới |
| 223 | Báo Văn Học — Số 223 (1,2-2005) Xuân Ất Dậu Tạ Quốc Tuấn — văn học phụ nữ trung quốc... Bạch Cư Dị — trường hận ca Quỳnh Dao — nỗi hận khôn nguôi Cao Nguyên — vào xuân Hoàng Nga — bao la như biển thái bình Lý Thừa Nghiệp — hừng đông Hoàng Chính — một mình đón giao thừa Trần Thị Hà Thân — chờ nhau Khê Kinh-Kha — có lẽ Hồ Đình Nghiêm — niềm riêng Nguyễn Nam An — đêm nghe mưa thức giấc Ngô Nguyên Dũng — điệu trầm xuân Văn Cầm Hải — hoa thủy tiên trong đêm 30 tết Nguyễn Ý Thuần — áng mây miền núi † Nnguong — buồn, con mắt huế Lê Quỳnh Mai — gã đấu bò thành málaga Trần Hữu Hoàng — vẫn là viễn mộng Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — các con của thượng đế đều... MDTT — khoảng trống của lục bát Hoài Ziang Duy — lạy trời mưa xuống Thụy Khuê — thoạt kỳ thủy trong vùng đất... Lưu Hy Lạc — ngụ ngôn rodin Lương Thư Trung — "lục bát hoàng xuân sơn"... Hoàng Xuân Sơn — thèm nắng -- vân tiên. hồi cuối Phươngmỹhoa — xanh/hồng Trịnh Thanh Thủy — siêu tiểu thuyết thời hậu hiện đại Luân Hoán — ngũ ngôn lh Thu Tứ — lụt trăng mưa sao Nguyễn Huy Thiệp — trò chuyện với hoa thủy tiên... Trần Mạnh Hảo — có thật đa số các nhà văn việt nam... Ngọc Anh — khi nhà văn cười nhà thơ Thích Thiện Ngân — mổ nhà văn Hà Nguyên Thạch — xuân đợi Hoàng Ngọc Hiến — vài lời về bài talawas phỏng vấn... Hoàng Ngọc Hiến — cái nước mình nó thế! † Bùi Văn Phú — về bài phỏng vấn (chưa đăng) Trần Mạnh Hảo — khi ông hoàng ngọc hiến... Bích Châu — nhân đọc "cái nước mình nó thế" Phan Nhật Nam — về những tiếng, lời chân thật... Đinh Từ Thức — đọc nếu đi hết biển, chuyện đi, về Quốc Việt — đọc "nếu đi hết biển" Bùi Văn Phú — văn học có thể làm nhịp cầu...? Vũ Ánh — đọc "nếu đi hết biển" Đỗ Thái Nhiên — bên ni biển Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới |
| 224 | Báo Văn Học — Số 224 (3,4-2005) Trần Văn Tích — nhân tái ngộ trường hận ca Tạ Quốc Tuấn — đêm trừ tịch chờ xe Quỳnh Thi — sứ mạng của nhà văn Lê Minh Hà — phùng cung, đời người, đời chữ Đặng Hiền — khoảng đen tự do Phùng Cung — mộ phách Trần Thị Hà Thân — nhớ nhiều Ấu Tím — mất hút xuân thì Lý Thừa Nghiệp — tạc tượng -- khu vườn châu thổ Đỗ Hoàng Diệu — linh thiêng Nguyễn Thị Hoàng Bắc — chị em Nguyễn Nguyên Phước — tâm trạng khi điên Lưu Chiêu Thư — nuối thời gian Lưu Chiêu Thư — trong ngục tù ta Nguyễn Hòa Trước — theo mây mà về Trà Đóa — cảm nhận Nguyễn Cảnh Nguyên — chuyện chép... MDTT — mây mưa Nam Chi — chuyện nhà mình, một chút... Ngô Nguyên Dũng — phân vân thời xô giạt Nguyễn Danh Bằng — phòng lạ Song Thao — rong chơi Cổ Ngư — tôi đã yêu, như chết là hạnh phúc Cổ Ngư — chân dung đêm Nguyễn Vĩnh Long — dấu chân hạnh phúc Hoàng Long — trường văn hóa trong tác phẩm... Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — chuyện trong nhà Phước An — ở nơi có màu đỏ Nguyễn Trung Tây — hai đám tang... † Nnguong — bỏ cuộc, thơ Phạm Kim Liên — yêu say đắm Trần Hoài Văn — vợ ngoại Thượng Văn — don quixote 400 tuổi Nguyên Vũ — tường trình từ việt nam Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới |
| 225 | Báo Văn Học — Số 225 (5,6-2005) Nguyễn Vy Khanh — nhìn lại 30 năm văn học hải ngoại Phùng Cung — tổ quốc -- gãi đất -- bạo hổi Lê Lô — quốc gia ba đình, và hà nội Tô Thùy Yên — bãi nước rút Nguyễn Ngọc Tân — những tấm ảnh vĩ đại của thế kỷ Hoàng Xuân Sơn — collage trịnh y thư / đồi hồng -- gia tài Hoàng Nga — kẻ không chiến tuyến Nguyễn Hòa Trước — thoại ca mùa Nam Dao — VN, con người từ những bóng ma Ngô Nguyên Dũng — khúc giao hưởng cuối ngày Nhân Như — giọt lệ cho ngàn sau Nguyễn Nam An — trong lòng -- qua sông Lê Minh Hà — chữ nặng † Nnguong — buồn thiu manh chiếu... Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn nhà văn phan nhật nam Hoàng Lộc — thơ tình viết ở hội an Vũ Ngự Chiêu — sự thực sử học Trần Thị Minh Nguyệt — trăng nóng Trần Anh Tuấn — vài nhận xét về báo xuân... Trần Thị Hà Thân — anh nhớ -- anh xa -- anh đi -- anh Nguyễn Ý Thuần — chiến / lễ Như Thương — pha màu Hoài Ziang Duy — chết thuở quên cười Xuyên Trà — lãng mạn Trần Mộng Tú — hội cơm chỉ Khê Kinh Kha — xin cám ơn cuộc đời Mặc Bích — chuyến xe ngày thứ năm MDTT — khoảng trống lục bát Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân Lý Thừa Nghiệp — nhánh rong -- rừng tràm Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới |
| 226 | Báo Văn Học — Số 226 (7,8-2005) Ngọc Anh — thiếu đọc – dấu chỉ người việt... Khoa Hữu — ải bắc Trần Nhã Nguyên — ba mươi năm văn học hải ngoại Phùng Cung — nuối tiếc - giọt lụy - lá chiêm bao Nguyễn Hưng Quốc — ba chức năng chính của phê bình Chân Phương — thơ hoa kỳ và tân hình thức Lý Thừa Nghiệp — phía sau là mộng Vũ Thùy Hạnh — một Tạ Quốc Tuấn — các đề tài trong tiểu thuyết... Nguyễn Việt Thường — lạnh... nóng... nơi đây Tạ Chí Đại Trường — vấn đề tác giả và thời điểm Trần Văn Tích — về bài thích an nam sự thi Trần Thị Minh Nguyệt — tầng cao đêm murphy Lêquỳnhmai — madame butterfly Hoàng Xuân Sơn — đoản, đăm Nguyễn Hoài Phương — sự đời hay mấy chuyện vớ vẩn Lưu Chiêu Thư — tử sinh Lê Lô — mùa thơm Nguyễn Vĩnh Long — hạt muối chưa tan Ngô Nguyên Dũng — mật thoại Nguyễn Hòa Trước — mưa, mà sao vẫn Như Thương — chuyện người điên Hoàng Nga — duổi rong Trần Nghi Hoàng — nhật ký của thời gian Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — chị em sinh đôi... † Đỗ Quang Nghĩa — * Ấu Tím — sang hè Xuyên Trà — hồi xuân Cổ Ngư — ngày bình thường Đỗ Quyên — chuyện những người làm thơ Nguyễn Nam An — của thuở gọi là m. Triều Hoa Đại — với phan ni tấn Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Khê Kinh Kha — đêm mưa Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân MDTT — khoảng trống lục bát Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới |
| 227 | Báo Văn Học — Số 227 (9&10-2005) T. Vấn — lời tình buồn gởi new orleans Nguyễn Quốc Chánh — tao là đứa bé ngoẹo trên lưng linda lê Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx Phan Xuân Sinh — mừng bạn qua thăm Tạ Chí Đại Trường — triều đình, đất nước lê trịnh... Nguyễn Hoàng Văn — ngôn ngữ, văn học và chính trị Trần Mộng Tú — em, thược dược và trăng Nguyễn Huệ Chi — trao đổi cùng nguyễn văn hoàn Như Thương — ôm đàn Cổ Ngư — thơ tình cho hà nội Quỳnh Thi — trả lời nhà thơ chân phương Phùng Quán — người bạn lính cùng một tiểu đội Khê Kinh Kha — ngập ngừng Nam Dao — cánh bướm đen Pablo Neruda (Đỗ Lê Anh Đào dịch) — saddest poem Vũ Lê Phương Trinh — nhị hổ ở phố khâm thiên Ngô Tự Lập — gã trốn lính Phan Nhật Nam — nhân ngày 20 tháng bảy Kinh Dương Vương — lão hạ Nguyễn-Hòa-Trước — hư ngôn Hoàng Nga — hoàng hậu Trần Nghi Hoàng — thắp nén hương buổi chiều khô rượu Nguyễn Danh Bằng — động cát Nguyễn Hoài Phương — đoạn kết Đặng Lê Nữ — tơ vương - trở giấc Hồ Minh Dũng — câu nam ai thất lạc Sử Mặc — tháo lụy Lê Đại Lãng — trở lại hồng kông Hoàng Lộc — tháng ba Ch'oe Yun (Nguyễn Khánh Long dịch) — chất thơ của niềm khát khao Lý Thừa Nghiệp — bên vườn nghe chim hót - góc trời Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân † Nnguong — vũng tàu, mùa thu Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi † Mdtt — khoảng trống lục bát Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách mới |
| 228 | Báo Văn Học — Số 228 (11&12-2005) Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx Tạ Quốc Tuấn — tản văn hiện đại trung quốc Đặng Lê Nữ — tơ vương Nguyễn Hưng Quốc — văn bản và liên văn bản Đặng Hiền — cánh đồng mùa thu Bùi Vĩnh Phúc — tô thùy yên: thơ, như một vinh dự Trần Thị Hà Thân — tạ ơn người xin đừng chờ! Ngọc Anh — những bàn tay phù thủy Hoài Ziang Duy — đêm bến sông xưa Nguyễn Huệ Chi — một vài gợi ý về phương pháp... Nguyễn Nam An — tháng chín ngược về Trần Văn Nam — những thời kỳ văn học miền nam Như Thương — tràn ánh trăng Hoàng Chính — nino và tôi Hoàng Xuân Sơn — chuyến đi Nguyễn Hoài Phương — anh thủ Trịnh Thanh Thủy — sản phẩm thông minh Kinh Dương Vương — bàn chân Thường Quán — lưỡi câu Nguyễn Tường Thiết — bà cẩm lợi Neruda (Trần Mộng Tú dịch) — ca tụng tình yêu bí mật Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — thông báo kangaroo Trần Thụ Ân — buổi sáng nào sót lại Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy Tưởng Năng Tiến — sổ tay thường dân † Mdtt — khoảng trống lục bát Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật |
| 229 | Báo Văn Học — Số 229 (1&2-2006) Tạ Quốc Tuấn — chúc tết trong thi văn trung quốc Khê Kinh Kha — như mây lạc đường Vũ Quốc Thúc — gió đưa cành trúc la đà Viên Dung — hái lộc Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx Trần Văn Tích — cổ duệ từ Lại Nguyên Ân — tập thơ "tinh huyết" của bích khê Nguyễn Huệ Chi — so sánh kim vân kiều truyện Nguyệt Thư — về quê thăm mạ Trần Mộng Tú — chó nhà và chó rừng Hoàng Xuân Sơn — hát thể Phan Xuân Sinh — quay nhìn lại một đoạn đời Nguyễn Hoài Phương — công viên Triều Hoa Đại — vàng hiên Lâm Chương — mùi bùn non Ngô Nguyên Dũng — cuối cùng, không còn lại Như Thương — tràn ánh trăng Ngọc Anh — đôi giày † T. Hương Chu Kim Hải — bài thơ tám câu Nguyễn Nam An — những ngày với dũng Hoài Mỹ — hình như từ độ ấy... Murakami Haruki — vườn cỏ buổi chiều cuối cùng Kinh Dương Vương — thác với tình Isaac Bashevis Singer — elka và meir Trần Tự — hát nữa biển ơi! † Phan Nhật Nam — ba cuốn sách, Hoàng Thị Quỳnh Nga — bay lên bàn tay ơi! Thiên Đức — nhật ký đặng thùy trâm Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Hoàng Mai Đạt — mùa xuân theo mây thời gian Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách |
| 230 | Báo Văn Học — Số 230 (3&4-2006) Trần Văn Tích — bài từ nhớ bạn Hoàng Xuân Sơn — về trong chiều xưa Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx Phan Nhật Nam — tháng 11,... Đào Đức Chương — tổ chức giáo dục thời hán học Nguyễn Hoàng Văn — hướng đến một văn hóa phát triển Ngô Tịnh Yên — đầu hàng - ngựa quên đường cũ Nam Dao — gấu chợ Trần Mộng Tú — cali sương và mây Hoàng Nga — ở nơi đó Lê Quỳnh Mai — căn phòng không mái ngói Ngọc Anh — lãnh cảm Nguyễn Nam An — chiều tà Bùi Ngọc Khôi — cái thùng sách Ngự Thuyết — qua phá Võ Hoàng — tiếc gì một chút hương xuân muộn Eric Viet — kẻ lạ trong tôi Đỗ Lê Anh Đào — tình cờ gặp fidel castro Nguyễn Việt Hà — hồn của bướm Lý Thừa Nghiệp — qua sông Trần Hoài Văn — chuyện nhỏ trên thành cổ Lê Lô — quảng trị, khe sanh, chiến sĩ vô danh Triều Hoa Đại — chiều phai. ngồi đợi em Nguyễn Dũng Tiến — những người nữ mặc áo dòng Nguyễn Hoài Phương — cà phê một mình Tàn Tuyết (Lưu Hồng Sơn dịch) — đảo rắn Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — toni-takitani Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Hoàng Mai Đạt — thứ tư về mỗi tuần Lê Quỳnh Mai — tin sinh hoạt văn học Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách |
| 231 | Báo Văn Học — Số 231 (5&6-2006) Thụy Khuê — thanh tâm tuyền (1936-2006) Thanh Tâm Tuyền — dọc đường Võ Phiến — thanh tâm tuyền Thanh Tâm Tuyền — dạ khúc - bài ngợi ca tình yêu... Nguyễn Vy Khanh — thơ thanh tâm tuyền -- nhân vật tiểu thuyết thanh tâm tuyền Võ Kỳ Điền — thanh tâm tuyền, tỉnh bình dương Lưu Diệu Vân — tuyết sài gòn Tạ Quốc Tuấn — một bài trường hận ca mới Nam Dao — bắt gió Miên Du Đàlạt — em việt nam... mảnh dư đồ rách! Song Thao — cay đắng † Nnguong — thực tế Hoàng Nga — giả tỷ - điên - tình yêu mật ngọt Cao Thanh Phương Nghi — chuyện thời thơ ấu Nguyễn Nam An — sáng nghe hoàng oanh... Trần Thị Diệu Tâm — người tài xế da đen Quỳnh Thi — sông đồng nai chảy khúc biên hòa Trần Mộng Tú — con số vô tình Phạm Ngũ Yên — thư viết từ đường heatherglen Trần Hồng Linh — nước dấm đang sôi Nguyễn Hòa Trước — thăm người một nửa-tôi Ngọc Anh — "cánh đồng bất tận"... Đoàn Nhã Văn — con gái của sông hương Yukio Mishima (Nguyễn Vạn Lý dịch) — lòng ái quốc Murakami Haruki (Phạm Vũ Thịnh dịch) — bi kịch mỏ than new york Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy Đàn Bách Kiếm — mỹ nhân sơ đầu ca Hoàng Mai Đạt — đạp xe với thanh tâm tuyền Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách |
| 232 | Báo Văn Học — Số 232 (7&8-2006) Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx Lại Nguyên Ân — liệu có thể xem phan khôi Phạm Xuân Hy — anh vũ, nam việt điểu Nguyễn Nam An — gặp ở houston, hỏi nhau Ban Mai — thân phận con người và tình yêu... Lê Quỳnh Mai — gởi những ngày mất biệt Trần Văn Nam — mùa thu mênh mông... Hoàng Xuân Sơn — đường về Nguyễn Tường Thiết — làm sáng tỏ một sự kiện văn học Thế Giang — thơ đường luật -- hoài cảm Đào Đức Chương — võ học bình định Ngô Nguyên Dũng — bài tường trình buổi sáng Hồ Đình Nam — trên trang giấy trắng... Lý Thừa Nghiệp — về núi -- hí vang rừng núi cũ Hoàng Ngọc Thư — người họa sĩ Hoàng Ngọc Thư — giác quan Nguyễn Dũng Tiến — bên kia đồi cao Lưu Hy Lạc — cà phê, buổi chiều nhớ thi sĩ Song Thao — trong vùng quên lãng † Nnguong — nhân chứng Bùi Ngọc Khôi — chân cầu vồng Nguyễn Hoài Phương — tháng ngày vô nghĩa Khê Kinh Kha — tự do Trần Mộng Tú — quán trà thinh lặng Đặng Hiền — cảm ơn Dương Tiến Đình — ngược dòng ký ức Tô Định — đỗ hoàng diệu và xã hội bóng đè Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy Đàn Bách Kiếm — les bijoux - lục lạc Hoàng Mai Đạt — trái tim bukowski Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách |
| 233 | Báo Văn Học — Số 233 (9&10-2006) Nguyễn Hưng Quốc — lưu vong như một phạm trù mỹ học Ngu Lễ — không đề Tạ Quốc Tuấn — lạc phu: thi sĩ siêu hiện thực đài loan Võ Phiến — nguyễn mộng giác Thụy Khuê — mùa biển động của nguyễn mộng giác Nhật Tiến — nhớ lại một thời chữ nghĩa Lưu Hy Lạc — lục bát, trời ơi Lê Minh Hà — chân dung nhà văn Trần Hữu Thục — nhân vật nguyễn huệ Hoàng Khởi Phong — ngựa "mài" chân bon Nguyễn Chí Kham — một niềm tin Hoàng Xuân Sơn — một chữ thàng Nam Dao — hình như, có điều gì... Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn nguyễn mộng giác Lê Quỳnh Mai — gởi placentia Nguyễn Nam An — sáng trời mưa sáng ở factory coffee Nguyễn Mộng Giác — sông côn mùa lũ - xuôi dòng... Võ Phiến — chà láng Hoàng Ngọc Thư — chiếc gương kỳ diệu Hn Nguyễn Tấn Ích — chị tôi Hoài Ziang Duy — lạ một chỗ ngồi Trần Mộng Tú — kịch bản Kawabata Yasunari — những truyện ngắn trong lòng bàn tay Khê Kinh Kha — tự do Quỳnh Thi — lần về thăm quê Võ Văn Trực — chuyện làng ngày ấy Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Hoàng Mai Đạt — tạp ghi Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách |
| 234 | Báo Văn Học — Số 234 (11&12-2006) Số đặc biệt về Võ Phiến Phạm Xuân Hy — nào ai mặc mặt... Đào Đức Chương — giọng bình định Nguyệt Thư — thị giả Nguyễn Ngọc Bích — về lô-gích của phép đọc chữ nôm Tuệ Tâm — lá đổ về dặm ngược thu phong Trần Văn Tích — văn vần trong tiểu thuyết Lê Quỳnh Mai — phỏng vấn võ phiến Võ Phiến — người nghĩa Đặng Tiến — thần thơ võ phiến -- võ phiến điệu nhạc thầm và... Khê Kinh Kha — thu đã về - để lại Nguyễn Hưng Quốc — nhà tùy bút võ phiến Lưu Hy Lạc — ở trưa Bùi Vĩnh Phúc — nghĩ về võ phiến và... Hoàng Khởi Phong — trong cõi riêng buồn thấy lại ta Luân Hoán — võ phiến, cuối cùng tôi được gặp Lê Quỳnh Mai — võ phiến, và meggie ở baltimore Nguyễn Tường Thiết — mưa đêm cuối năm Đỗ Kh. — hạnh phúc đường niger Nguyễn Thị Thanh Bình — độc tố Hoàng Ngọc Thư — người nhặt tro Lý Thừa Nghiệp — về biển - tặng em, này nụ tầm xuân Bùi Ngọc Khôi — carlos Phan Minh Khánh — tóc ngày xuân trước Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi Hoàng Mai Đạt — tìm ở sao trời Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học Hoàng Mai Đạt — giới thiệu sách |
| 235 | Báo Văn Học — Số 235 (1&2-2008) Tạ Quốc Tuấn — nỗi oán sầu ngày xuân Đào Đức Chương — hội thơ không hẹn mà gặp Viên Dung — giữa bến mười hai - ra giêng Trần Văn Tích — bí mật của thổ cầu Hoàng Chính — đêm Trần Văn Tích — mạc mặt Thụy Khuê — phê bình văn học thế kỷ xx Khê Kinh Kha — xuân lại về Ban Mai — giáo sĩ đắc lộ trong thế giới huyền ảo Lưu Hy Lạc — bài gửi rừng Nguyễn Vy Khanh — hoàng xuân sơn và nỗi thơ đồng cảm Trần Kinh Bắc — ông nguyên ngọc cần trung thực Nhật Tiến — phong trào nhân văn giai phẩm Hoàng Khởi Phong — nhân văn "người và việc" Trần Tri Vũ — trập trùng oan nghiệt Phan Ngọc Thùy — vài ý kiến nhân vụ hai ông "trùm" Khúc Minh — cây xương rồng Lê Quỳnh Mai — bờ ảo giác Nguyễn Tường Thiết — thảm sương trên sông skooguamish Đặng Phú Phong — tuyết tan Hoàng Ngọc Thư — vỡ Nguyễn Xuân Tường Vy — mưa phố cũ Cao Hoàng — sao chiều Võ Công Liêm — trăng hạ huyền Cao Xuân Huy — hành phương nam Đỗ Kh. — một dòng sông Lý Thừa Nghiệp — khúc độc cầm - một trăm hành giả Bùi Ngọc Khôi — ảo Nguyễn Nam An — huỳnh thạch Trần Đức Tiến — biến hình Thu Hương — lúc xế chiều Trần Hồng Linh — một chuyến viếng thăm Cao Thanh Phương Nghi — tết ơi mơ một chỗ về Thành Văn — con bé lọ lem Nguyễn Hợi — bác mai Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi - biệt hữu nhân Hoàng Mai Đạt — tạp ghi - tìm ở sao trời Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật thế giới |
| 236 | Báo Văn Học — Số 236 (3&4-2008) Trần Văn Tích — từ nhân việt nam Tạ Quốc Tuấn — tiểu thuyết trung quốc... Đào Đức Chương — vấn đề ghi chú và thư tịch... Trần Văn Nam — lời nói của thi gia ở biên bờ hữu thể Phạm Công Thiện — thơ Nguyễn Vy Khanh — văn học miền nam tự do 1954-1975 Lương Thư Trung — thơ nguyễn hải thệ, nỗi buồn lặng lẽ... Ban Mai — lynh bacardi và truyện "hậu sản"... Võ Đình — chạm văn học nghệ thuật Vũ Tiến Lập — ảo hóa Lê Quỳnh Mai — bóng và bức tường gỗ đỏ Nguyễn Lập Đông — huyền du - sương Hoàng Nga — tưởng niệm một nhân vật Lữ — viên sói dị dạng † Nnguong — soi hồn ta một chút úa lòng Song Thao — hoa - xuân Khê Kinh Kha — huế của tôi Nguyễn Tường Thiết — gặp hemingway nơi quán rượu Lê Giang Trần — dọn mình Nguyễn Hoài Phương — ngày của dì lisa Cao Xuân Huy — trả lại tiền Hoàng Vũ Thuật — bài thơ ban mai Đặng Thơ Thơ — đi tìm bản kinh thánh cuối Viên Dung — ở một nơi mà nhớ em Thành Văn — con heo khắc phục Nguyễn Nam An — huỳnh thạch Cao Thanh Phương Nghi — giấc mơ Hoài Ziang Duy — dường như hiu hắt bay Trần Hồng Linh — hứa với dấu yêu Algernon C. Swinburne (Tô Thẩm Huy dịch) — lần tăm về tối Graham Swift (Hoàng Chính dịch) — đứa con trai Võ Công Liêm — hành Đoàn Thế Ngữ — mười năm không gặp... † Đàn Bách Kiếm — đùa với đường thi - tiết phụ ngâm Lê Quỳnh Mai — sinh hoạt văn học nghệ thuật |
No comments:
Post a Comment