8.12.2026

Phạm Duy — "Từ đôi": khảo sát từ láy / từ ghép song tiết trong 100 Tình Khúc

Ý tưởng: tiếp nối cách khảo sát đã làm cho Lê Uyên Phương

(_LeUyenPhuong_TuGhep_Analysis.md) và Trịnh Công Sơn

(TCS_TuGhep_Analysis.md), bài này áp cùng phương pháp — đếm **cặp âm

tiết liền kề (bigram) và đo độ "dính" bằng PMI** (pointwise mutual

information) — cho phần lời ca Phạm Duy trong file "100 Tình Khúc Của

Một Đời Người". Mục tiêu vẫn là tìm ra những "từ đôi" thật sự — cặp hai

âm tiết chỉ có nghĩa (hoặc mang nghĩa cụ thể hơn hẳn) khi đứng chung, so

với những cặp chỉ tình cờ đứng cạnh nhau vì lý do ngữ pháp. Cách tính

PMI cụ thể, cùng toàn bộ quy trình dựng kho ngữ liệu và các lỗi/nhiễu dữ

liệu phát hiện được trong lúc làm, nằm ở file PhamDuy_TuGhep_Process.md

đi kèm — ở đây chỉ trình bày kết quả dưới dạng bảng đếm, không dựng

lại nguyên văn câu hát nào ngoài các cụm 2 âm tiết cần thiết để lập

bảng.

Khác biệt về bản chất kho ngữ liệu so với hai bài trước: kho Lê Uyên

Phương là 21 bài (2 tập nhạc cụ thể, ~3.950 âm tiết), kho Trịnh Công Sơn

là toàn bộ 240 bài của một sự nghiệp (~38.700 âm tiết). Kho Phạm Duy ở

đây không phải toàn bộ sự nghiệp (Phạm Duy để lại hơn 1.000 ca khúc)

mà là **100 bài đã được chính người biên soạn chọn làm "100 tình khúc

của một đời người"** — một tuyển tập tinh, gần như thuần tình ca (dù vẫn

có một số bài mang chất quê hương/lịch sử như Tình Hoài Hương, Về Miền

Trung, Nương Chiều, Quê Nghèo, Việt Nam! Việt Nam!). Vì vậy quy mô

(19.767 âm tiết) nằm giữa hai bài trước, nhưng **bản chất là một chọn

lọc chủ quan** (theo con mắt người tuyển) chứ không phải một lát cắt

trung tính như "toàn bộ 240 bài" của Trịnh Công Sơn.

0. Kho ngữ liệu

100 bài hát, trích từ file `100 Tình Khúc Của Một Đời Người - 100

Bai Nhac Pham Duy.txt (thư mục PhamDuy_References\PhamDuy`). File gốc

thực ra chứa 101 khối

...

, nhưng bài "Còn Gì Nữa Đâu" xuất

hiện y hệt hai lần liên tiếp (toàn bộ lời giống nhau tuyệt đối) —

rõ ràng là lỗi dán trùng khi dựng file, không phải một dị bản khác. Đã

loại bỏ bản sao thứ hai trước khi đếm, đưa kho về đúng 100 bài như

tên gọi. Nhiều bài trong tuyển tập này là thơ phổ nhạc (Hữu Loan, Cung

Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Văn Bình, Vũ Hữu

Định, Minh Đức Hoài Trinh, Lưu Trọng Lư, Kim Tuấn, Linh Phương, Hoàng

Cầm, Nguyễn Tấn Phát, Xuân Diệu, Guillaume Apollinaire, Đỗ Quý Toàn, Huy

Cận, Lê Minh Ngọc, Paul Verlaine, Huyền Chi, Thế Lữ, Lê Lan, Nguyên Sa —

34/100 bài có dòng "(Thơ: ...)" ghi tên tác giả) — các dòng ghi tên tác

giả thơ này bị loại khỏi kho đếm, giống cách loại dòng "Trịnh Công Sơn,

[năm]" ở bài Trịnh Công Sơn.

1. Tổng quan

  • Tổng số âm tiết lời ca đã trích: 19.767
  • Tổng số cặp âm tiết liền kề (bigram) hình thành: 19.667
  • Số cặp khác nhau: 12.822, trong đó 78,0% (9.997 cặp) chỉ xuất

hiện đúng 1 lần — tỷ lệ nằm giữa bài Trịnh Công Sơn (72,0%) và bài Lê

Uyên Phương (~80%), đúng như dự đoán từ quy mô kho (100 bài, ở giữa

21 và 240) — thêm một bằng chứng cho thấy cả ba nhạc sĩ đều không lặp

lại cụm từ máy móc trên diện rộng.

  • Số cặp đạt ngưỡng "xuất hiện ≥2 lần": 2.825.

2. Các "từ đôi" nổi bật nhất theo PMI (230 cặp, PMI ≥ 9,0 và xuất hiện ≥2 lần)

Áp ngưỡng lọc PMI ≥ 9,0 — cùng mức đã dùng cho bài Trịnh Công Sơn,

chọn lại vì lý do tương tự: đó là mức "dính" mà ở hai bài trước tương

ứng với các từ ghép/láy chắc chắn nhất, và áp cho kho Phạm Duy cho ra

330 cặp thô — một quy mô vừa đủ để đọc và phân loại thủ công **toàn

bộ**, không lấy mẫu, giống cách làm ở bài Lê Uyên Phương (chỉ khác về

số lượng, không khác về phương pháp).

Sau khi loại các cụm ngữ pháp thuần túy (số từ, đại từ chỉ định, cụm

giới từ+danh từ, cụm chủ-vị thông thường), tên riêng (địa danh như Nha

Trang, Miền Trung, Đà Giang; nhân vật huyền thoại/nhân danh như Hằng

Nga, chú Cuội, Ẩn Lan; Việt Nam, Paris), các cụm hô ngữ/vocalise (điệu

hò "hò hố hò hô hà hớ hơ" ở bài Về Miền Trung, đệm "ý y y"/"ô ố" ở Thu

Ca Điệu Ru Đơn, "tình tang tính tính" ở Cây Đàn Bỏ Quên, "khoan khoan hò

ơi" ở Tiếng Đàn Tôi), và một loại nhiễu **mảnh vỡ do một từ ghép thật bị

từ liền kề "cắt ngang"** (cùng loại nhiễu đã gặp ở bài Trịnh Công Sơn,

ví dụ "cỏ nõn" cắt ngang từ láy thật "nõn nà", hay "ấm lũy" cắt ngang từ

ghép thật "lũy tre") — còn lại 230 cặp được giữ trong bảng chính

dưới đây. Toàn bộ 100 cặp bị loại, cùng lý do loại từng cặp, nằm ở file

Process mục 4.

Một trường hợp đặc biệt — "diêu bông" (xuất hiện 10 lần, từ bài "Lá

Diêu Bông" phổ thơ Hoàng Cầm) — bị loại khỏi bảng chính dù đạt cả PMI

lẫn tần suất, vì lý do khác hẳn mọi cặp bị loại còn lại: đây không phải

cụm ngữ pháp hay mảnh vỡ, mà là một **danh từ do chính nhà thơ sáng tạo

ra**, không có nghĩa từ điển (cột "Nghĩa (từ điển)" không thể điền được

cho một chiếc lá không tồn tại trong thực tế hay trong bất kỳ từ điển

nào). Trường hợp này được bàn riêng ở mục 5 bên dưới.

Cột "Nghĩa" là định nghĩa từ điển thông thường, không trích từ bài hát

nào. Dấu đánh dấu một cặp có khả năng là biến âm/lỗi chính tả của

nguồn (xem chú thích tại dòng đó).

Từ đôi Loại Nghĩa (từ điển) Số lần PMI
cuống quít từ láy hối hả, luống cuống vì gấp gáp 2 13.28
nhát chém từ ghép thuần Việt một đường dao/gươm chém xuống 2 13.28
chênh vênh từ láy cheo leo, không vững chãi 2 13.28
bâng khuâng từ láy xao xuyến mơ hồ, buồn nhẹ 2 13.28
cắp rổ khác (cụm động từ cố định) kẹp rổ vào bên hông mà đi 2 13.28
trăn trối từ láy lời dặn dò lúc sắp chết 2 13.28
quạnh quẽ từ láy vắng vẻ, hiu quạnh 2 13.28
nõn nà từ láy mềm mại, trắng trẻo tươi non 2 13.28
quấn quýt từ láy gắn bó khăng khít không rời 2 13.28
bộ đội Hán-Việt/Hán-Nôm ghép quân đội, lực lượng vũ trang 2 12.69
le lói từ láy phát sáng yếu ớt, lập lòe 2 12.69
cửu long Hán-Việt/Hán-Nôm ghép tên sông Cửu Long (giữ vì mang nghĩa "chín rồng") 2 12.69
phũ phàng từ láy tàn nhẫn đến mức gây đau đớn 3 12.69
mỏng manh từ láy yếu ớt, dễ vỡ 3 12.69
tự do Hán-Việt/Hán-Nôm ghép không bị ràng buộc 2 12.69
dịu dàng từ láy êm ái, nhẹ nhàng 3 12.69
thạch thảo Hán-Việt/Hán-Nôm ghép tên một loài hoa (aster) 3 12.69
độ lượng Hán-Việt/Hán-Nôm ghép khoan dung, rộng lượng 2 12.69
líu lo từ láy tiếng chim hót ríu rít 2 12.69
tê tái từ láy đau đớn thấm thía 2 12.69
giống nòi từ ghép đồng nghĩa dòng dõi, chủng tộc 2 12.69
giun dế từ ghép thuần Việt các loài côn trùng nhỏ dưới đất, gọi chung 2 12.69
ngấp nghé từ láy nhìn dòm gần đạt tới, sắp sửa 2 12.69
phiêu lãng Hán-Việt/Hán-Nôm ghép phiêu bạt, lãng du đây đó 2 12.28
lẻ loi từ láy cô đơn, một mình 4 12.28
pháo nổ từ ghép thuần Việt tiếng pháo nổ mừng cưới hỏi 2 12.28
ngại ngùng từ láy do dự, e dè 2 12.28
âu yếm từ láy trìu mến, vuốt ve dịu dàng 3 12.28
ê chề từ láy chán chường đến cùng cực 3 12.28
quyến luyến Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lưu luyến, vấn vương không nỡ rời 3 12.28
rực rỡ từ láy sáng chói, đẹp nổi bật 2 12.28
dao nhọn từ ghép thuần Việt dao có mũi nhọn sắc 2 12.28
lông măng từ ghép thuần Việt lông tơ mềm mới mọc 2 12.28
phôi pha từ láy phai nhạt dần theo thời gian 2 12.11
miếng trầu từ ghép thuần Việt một miếng trầu để ăn/mời 2 12.11
tiêu điều Hán-Việt/Hán-Nôm ghép hoang vắng, tàn tạ 2 12.11
vuốt ve từ ghép đồng nghĩa âu yếm, mơn trớn nhẹ nhàng 2 12.11
hững hờ từ láy thờ ơ, lạnh nhạt 3 11.96
hạnh phúc Hán-Việt/Hán-Nôm ghép niềm vui trọn vẹn trong đời sống 5 11.96
cần lao Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lao động cần cù, vất vả 2 11.96
gác trọ từ ghép thuần Việt căn phòng thuê ở tầng gác 2 11.96
triền miên từ láy kéo dài liên tục không dứt 3 11.96
mồ hôi từ ghép thuần Việt chất lỏng tiết ra khi lao động/nóng 2 11.96
nghỉ ngơi từ ghép đồng nghĩa ngừng làm việc để thư giãn 2 11.96
oan khiên Hán-Việt/Hán-Nôm ghép oan trái, tai họa do nghiệp báo 2 11.96
chập chờn từ láy lúc ẩn lúc hiện, không ổn định 6 11.69
tả tơi từ láy rách nát, tơi tả 4 11.69
phơi phới từ láy phấn khởi, tràn đầy sức sống 4 11.69
dĩ vãng Hán-Việt/Hán-Nôm ghép quá khứ đã qua 5 11.69
thướt tha từ láy mềm mại, duyên dáng khi di chuyển 2 11.69
uyên ương Hán-Việt/Hán-Nôm ghép đôi lứa yêu nhau (như đôi chim uyên ương) 4 11.69
tơi bời từ láy tan tác, hỗn loạn 2 11.69
ưu phiền Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lo âu, phiền muộn 5 11.69
kỷ niệm Hán-Việt/Hán-Nôm ghép điều đáng nhớ trong quá khứ 3 11.69
e thẹn từ ghép đồng nghĩa thẹn thùng, ngượng ngùng 2 11.69
nông phu Hán-Việt/Hán-Nôm ghép người làm ruộng 2 11.69
gia đình Hán-Việt/Hán-Nôm ghép tập hợp cha mẹ con cái 3 11.54
bồi hồi từ láy xao xuyến, bồn chồn 5 11.47
xao xuyến từ láy rung động trong lòng 4 11.47
dạt dào từ láy tràn đầy, mãnh liệt 3 11.47
xôn xao từ láy náo động, rộn ràng 3 11.47
trìu mến Hán-Việt/Hán-Nôm ghép yêu thương, quý mến 2 11.47
thổn thức từ láy nức nở, xúc động trong lòng 2 11.47
phất phơ từ láy đung đưa nhẹ theo gió, lang thang vô định 5 11.43
thủ đô Hán-Việt/Hán-Nôm ghép thành phố trung tâm hành chính một nước 2 11.37
lồng ngực từ ghép thuần Việt phần khung xương chứa tim phổi 2 11.37
thiết tha từ láy tha thiết, nồng nhiệt 3 11.28
lắng đọng từ ghép đồng nghĩa đọng lại sâu trong lòng 2 11.28
lê thê từ láy kéo dài dằng dặc 2 11.28
vĩ cầm Hán-Việt/Hán-Nôm ghép đàn violon 3 11.28
chuồn chuồn từ láy loài côn trùng cánh mỏng, đuôi dài (tên vốn láy đôi) 2 11.28
lả lơi từ láy phóng túng, ve vãn buông thả 3 11.22
mịt mùng từ láy mờ mịt, không rõ 3 11.11
nâng niu từ láy giữ gìn, chăm chút cẩn thận 5 11.11
bỗng dưng từ láy tự nhiên, bất ngờ không rõ lý do 2 11.11
nghẹn ngào từ láy xúc động đến mức khó nói 6 11.11
ngơ ngác từ láy hoang mang, không hiểu chuyện gì 2 11.11
ngẩn ngơ từ láy thẫn thờ, mất hồn 5 11.11
ghế đá từ ghép thuần Việt ghế làm bằng đá (ở công viên) 3 11.11
tràn trề từ láy đầy tràn, dư dật 2 11.11
tượng đá từ ghép thuần Việt pho tượng tạc bằng đá 3 11.11
đắng cay từ ghép đồng nghĩa khổ sở, chua xót 3 11.06
lững lờ từ láy chậm rãi trôi nổi, không vội 2 10.96
khép nép từ láy e dè, rụt rè 3 10.96
cảm ơn Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lời bày tỏ lòng biết ơn 2 10.96
lả lướt từ láy mềm mại, duyên dáng khi bay lượn 2 10.96
nương náu từ ghép đồng nghĩa ẩn náu, nương tựa 2 10.96
lung lay từ láy dao động, không vững 2 10.96
lờ lững từ láy (đảo của lững lờ) chậm rãi trôi 2 10.96
tạ ơn Hán-Việt/Hán-Nôm ghép bày tỏ lòng biết ơn 2 10.96
khốn khổ Hán-Việt/Hán-Nôm ghép khổ sở cùng cực 3 10.96
rung rinh từ láy lay động nhẹ nhàng 7 10.96
bỡ ngỡ từ láy ngạc nhiên, chưa quen 7 10.96
thánh giá Hán-Việt/Hán-Nôm ghép biểu tượng cây thập tự của Kitô giáo 2 10.89
thái hòa Hán-Việt/Hán-Nôm ghép thái bình, hòa hợp 2 10.89
trầu cay từ ghép thuần Việt miếng trầu vị cay nồng 2 10.89
đơn vị Hán-Việt/Hán-Nôm ghép tổ chức/nhóm quân đội cơ sở 2 10.82
ngoại ô Hán-Việt/Hán-Nôm ghép vùng ven đô thị 3 10.82
lặng thinh từ ghép đồng nghĩa im lặng hoàn toàn 2 10.82
bơ vơ từ láy lạc lõng, không nơi nương tựa 8 10.82
vẩn vơ từ láy mơ hồ, không rõ mục đích 2 10.82
đơn côi Hán-Việt/Hán-Nôm ghép cô đơn, một mình 2 10.82
tủi hờn từ ghép đồng nghĩa tủi thân và hờn dỗi 2 10.82
giận hờn từ ghép đồng nghĩa giận dỗi 4 10.82
lặng lẽ từ láy âm thầm, không ồn ào 4 10.82
nghĩa trang Hán-Việt/Hán-Nôm ghép khu đất chôn cất, nghĩa địa 3 10.73
thức dậy từ ghép thuần Việt tỉnh giấc, dậy sau khi ngủ 3 10.73
hành quân Hán-Việt/Hán-Nôm ghép di chuyển đội quân 6 10.69
mơn man từ láy vuốt ve nhẹ nhàng 3 10.69
bùi ngùi từ láy buồn nhẹ, cảm động 2 10.69
ngậm ngùi từ láy buồn thương, nuối tiếc 2 10.69
chít khăn từ ghép thuần Việt quấn khăn (tang) lên đầu 2 10.69
nhẹ nhàng từ láy êm ái, không nặng nề 3 10.69
ban phép Hán-Việt/Hán-Nôm ghép ban cho phép màu/ơn lành 2 10.69
than van từ ghép đồng nghĩa than thở, than vãn 2 10.69
tương lai Hán-Việt/Hán-Nôm ghép thời gian sắp tới 4 10.66
học trò Hán-Việt/Hán-Nôm ghép học sinh 5 10.58
lũy tre từ ghép thuần Việt hàng rào tre quanh làng 5 10.58
réo tên khác (cụm động từ cố định) gọi vang tên ai đó 2 10.58
vòm tre từ ghép thuần Việt mái che tạo bởi cành tre 3 10.58
lung linh từ láy sáng mờ ảo, lay động 3 10.54
oán trách Hán-Việt/Hán-Nôm ghép giận và trách móc 3 10.54
trầm ngâm Hán-Việt/Hán-Nôm ghép yên lặng suy nghĩ 3 10.54
đoàn quân Hán-Việt/Hán-Nôm ghép một toán quân đội 2 10.52
ngóng trông từ ghép đồng nghĩa chờ đợi tha thiết 2 10.47
khói lam từ ghép thuần Việt làn khói bếp xanh lam buổi chiều quê 4 10.47
tương tư Hán-Việt/Hán-Nôm ghép nhớ nhung, thầm yêu một chiều 3 10.47
công viên Hán-Việt/Hán-Nôm ghép nơi công cộng có cây xanh để dạo chơi 3 10.47
chuyến xe từ ghép thuần Việt một lượt xe chở khách 2 10.47
mịt mù từ láy mờ mịt, không thấy rõ 5 10.43
hờn căm từ ghép đồng nghĩa (đảo của căm hờn) căm giận, oán hờn 3 10.40
lấp lánh từ láy sáng lóe liên tục 2 10.37
mê mải từ láy say mê, miệt mài quên cả xung quanh 2 10.37
hư vô Hán-Việt/Hán-Nôm ghép trống rỗng, không còn gì (triết học) 2 10.37
gác chuông từ ghép thuần Việt tháp treo chuông nhà thờ/chùa 2 10.37
hái dâu khác (cụm động từ cố định) hái lá dâu để nuôi tằm 2 10.37
chói chan từ láy rực rỡ, tràn ngập ánh sáng 2 10.37
lạnh lùng từ láy thờ ơ, lạnh nhạt 5 10.37
thực dân Hán-Việt/Hán-Nôm ghép kẻ đi xâm chiếm, cai trị thuộc địa 3 10.37
vời vợi từ láy xa xăm, cao vợi 2 10.37
tuyệt vời Hán-Việt/Hán-Nôm ghép hoàn hảo, xuất sắc 2 10.37
nghênh đón Hán-Việt/Hán-Nôm ghép đón tiếp 2 10.37
hoàng hôn Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lúc mặt trời lặn 7 10.28
lan huệ từ ghép thuần Việt hoa lan và hoa huệ, hình ảnh đôi lứa trong ca dao 6 10.28
thấp thoáng từ láy hiện ra mờ nhạt, không liên tục 4 10.26
rưng rưng từ láy nước mắt chực trào ra 3 10.25
báo tin từ ghép thuần Việt đưa tin 2 10.23
vội vã từ láy gấp gáp, hấp tấp 2 10.23
đìu hiu từ láy vắng vẻ, hiu quạnh 3 10.19
bát ngát từ láy rộng lớn mênh mông 2 10.19
góp chung từ ghép đồng nghĩa hợp sức lại cùng nhau 2 10.15
băng giá từ ghép thuần Việt lạnh giá như băng 2 10.15
giang hồ Hán-Việt/Hán-Nôm ghép cuộc đời phiêu bạt đây đó 2 10.11
thoát thai Hán-Việt/Hán-Nôm ghép sinh ra từ, bắt nguồn từ 3 10.11
lửa thiêu từ ghép thuần Việt lửa đốt cháy 2 10.11
nhân loại Hán-Việt/Hán-Nôm ghép loài người 3 10.11
quen thuộc Hán-Việt/Hán-Nôm ghép đã biết rõ, không xa lạ 2 10.11
vườn rau từ ghép thuần Việt khu vườn trồng rau 2 10.11
ngọt bùi từ ghép đồng nghĩa ngọt ngào và bùi, chia sẻ vui buồn 3 10.11
ngước mặt khác (cụm động từ cố định) ngẩng mặt lên nhìn 2 10.11
lạc loài Hán-Việt/Hán-Nôm ghép cô độc, không hợp với xung quanh 3 10.08
vấn vương từ láy vướng bận tình cảm, khó dứt 3 10.08
mênh mông từ láy rộng lớn không bờ bến 13 10.07
bụi đỏ từ ghép thuần Việt lớp bụi đất đỏ trên đường 4 10.05
phút giây từ ghép đồng nghĩa khoảnh khắc ngắn ngủi 2 9.96
lạnh lẽo từ láy lạnh và vắng vẻ 3 9.96
bình minh Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lúc mặt trời mọc 4 9.96
mùi sữa từ ghép thuần Việt mùi thơm của sữa (cỏ non) 2 9.96
nhựa sống từ ghép thuần Việt sức sống mãnh liệt 2 9.96
giây phút từ ghép đồng nghĩa (đảo của phút giây) khoảnh khắc 2 9.96
gối chăn từ ghép thuần Việt chăn và gối, đời sống vợ chồng 2 9.96
kinh kỳ Hán-Việt/Hán-Nôm ghép kinh đô, chốn đế đô 2 9.96
canh khuya từ ghép thuần Việt đêm khuya 2 9.89
say sưa từ láy đắm chìm, mê mải 3 9.89
hạc trắng từ ghép thuần Việt con hạc lông trắng 2 9.89
biên giới Hán-Việt/Hán-Nôm ghép ranh giới giữa hai nước 6 9.86
viễn xứ Hán-Việt/Hán-Nôm ghép xứ xa, quê người 3 9.86
chơi vơi từ láy lơ lửng, hụt hẫng 12 9.84
đoạn trường Hán-Việt/Hán-Nôm ghép đau khổ như đứt từng khúc ruột 2 9.82
rạng đông từ ghép thuần Việt lúc trời hửng sáng, bình minh 2 9.82
đỏ hoe từ ghép thuần Việt đỏ nhạt (mắt vì khóc) 2 9.79
chiến thắng Hán-Việt/Hán-Nôm ghép thắng trận 4 9.75
xương máu Hán-Việt/Hán-Nôm ghép sự hy sinh, mất mát lớn lao 3 9.73
lễ chùa từ ghép thuần Việt đi lễ ở chùa 2 9.69
mở cửa khác (cụm động từ cố định) mở cửa ra 2 9.69
tháng hạ từ ghép thuần Việt tháng mùa hè 6 9.69
bác ái Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lòng thương yêu rộng khắp 2 9.69
lửa thiêng từ ghép thuần Việt ngọn lửa linh thiêng 2 9.69
run run từ láy rung động nhẹ vì xúc động/lạnh 2 9.66
nói năng từ ghép đồng nghĩa cách ăn nói 2 9.63
thùy dương Hán-Việt/Hán-Nôm ghép cây liễu rủ 5 9.63
trâu bò từ ghép đồng nghĩa gia súc kéo cày nói chung 2 9.63
phố phường từ ghép đồng nghĩa đường phố, khu phố 2 9.63
điêu tàn Hán-Việt/Hán-Nôm ghép đổ nát, tan hoang 2 9.63
tươi ròn † từ láy/biến âm tươi tắn, giòn giã sức sống (có thể là biến âm/lỗi chính tả của "tươi giòn" hoặc "tươi rờn") 2 9.63
hiu hắt từ láy buồn tẻ, thưa thớt ánh sáng 2 9.61
thi sĩ Hán-Việt/Hán-Nôm ghép nhà thơ 3 9.58
ngọt ngào từ láy dịu dàng, êm ái 3 9.52
lâu đài Hán-Việt/Hán-Nôm ghép tòa nhà lớn, cung điện 2 9.52
dắt dìu từ ghép đồng nghĩa dẫn dắt, đưa đường chỉ lối 2 9.52
ân cần Hán-Việt/Hán-Nôm ghép chăm sóc chu đáo 2 9.50
vương vấn từ láy (đảo của vấn vương) vướng bận không dứt 2 9.50
hiền hoà từ ghép đồng nghĩa hiền lành, ôn hòa 2 9.47
cách biệt Hán-Việt/Hán-Nôm ghép xa cách hẳn nhau 2 9.47
thân hình Hán-Việt/Hán-Nôm ghép cơ thể, vóc dáng 3 9.47
gian dối từ ghép đồng nghĩa lừa dối, không thật 3 9.47
ôm ấp từ ghép đồng nghĩa ôm giữ trong lòng 2 9.45
nức nở từ láy khóc thổn thức từng cơn 6 9.42
đê mê từ láy ngất ngây, sung sướng đến mất cảm giác 3 9.37
dăm ba từ ghép thuần Việt một vài, một số ít (số từ ước lượng cố định) 2 9.37
oán thù từ ghép đồng nghĩa hờn oán và thù hận 3 9.37
chinh chiến từ ghép đồng nghĩa chiến tranh 3 9.34
phố xá từ ghép đồng nghĩa đường phố, khu buôn bán 4 9.31
trinh nữ Hán-Việt/Hán-Nôm ghép thiếu nữ còn trong trắng 4 9.30
lý tưởng Hán-Việt/Hán-Nôm ghép mục đích cao đẹp theo đuổi 2 9.30
thơm tho từ láy có mùi thơm dễ chịu 4 9.28
điệu ru từ ghép thuần Việt giai điệu dùng để ru 3 9.28
thời gian Hán-Việt/Hán-Nôm ghép khoảng thời gian trôi qua 7 9.23
âm thầm Hán-Việt/Hán-Nôm ghép lặng lẽ, không phô bày 3 9.23
vực sâu từ ghép thuần Việt hố sâu thăm thẳm 2 9.23
mỉm cười khác (cụm động từ cố định) cười nhẹ, không thành tiếng 2 9.23
nho nhỏ từ láy hơi nhỏ (giảm nhẹ) 5 9.23
thần tiên Hán-Việt/Hán-Nôm ghép cõi siêu nhiên, tốt đẹp 15 9.19
chiến binh Hán-Việt/Hán-Nôm ghép người lính 4 9.17
viễn phương Hán-Việt/Hán-Nôm ghép phương xa 2 9.11
cúi đầu khác (cụm động từ cố định) gập đầu xuống 2 9.07
cao ngất từ ghép thuần Việt cao vút, cao chót vót 2 9.05
chào đón từ ghép đồng nghĩa tiếp đón nồng nhiệt 2 9.05
dòng sữa từ ghép thuần Việt dòng chất lỏng như sữa (ẩn dụ đêm thơm) 2 9.03
lớp sóng từ ghép thuần Việt từng đợt sóng 2 9.03

3. Những "từ đôi" lặp lại nhiều nhất bất kể PMI (tần suất thô, ≥10 lần)

Khác với mục 2 (đo độ "dính" thống kê), mục này chỉ đơn thuần xếp theo

số lần xuất hiện tuyệt đối, không quan tâm PMI. Ngưỡng ≥10 lần được

chọn theo kinh nghiệm (không suy ra thuần túy theo tỷ lệ so với ngưỡng

≥18 của bài Trịnh Công Sơn hay ≥5 của bài Lê Uyên Phương, vì hai kho đó

khác nhau cả về quy mô lẫn về độ đa dạng chủ đề) — mục tiêu là giữ một

danh sách có kích thước và độ thú vị tương đương hai bài trước. Danh

sách thô đầy đủ (mọi cặp ≥10 lần kể cả cụm ngữ pháp/hô ngữ/mảnh vỡ điệp

khúc) nằm ở file Process mục 5; ở đây chỉ giữ những cặp là từ ghép/từ

láy/thành ngữ thật.

"Mùa thu" và "thương nhớ" đồng hạng nhất bảng (36 lần) — không có gì

bất ngờ với "thương nhớ" trong một tuyển tập tình ca, nhưng "mùa thu"

đứng ngang hàng cho thấy thiên nhiên bốn mùa (đặc biệt mùa thu — Mùa Thu

Chết, Mùa Thu Paris, Nước Mắt Mùa Thu, Nghìn Thu, Thu Ca Điệu Ru Đơn đều

có trong 100 bài) là một trục hình ảnh lớn ngang tầm với chủ đề tình cảm

trực tiếp.

Từ đôi Loại Nghĩa (từ điển) Số lần
mùa thu từ ghép thuần Việt mùa thu 36
thương nhớ từ ghép đồng nghĩa nhớ và thương 36
nước mắt từ ghép thuần Việt chất lỏng chảy ra khi khóc 30
trở về từ ghép đồng nghĩa quay về chốn cũ 26
quê hương Hán-Việt/Hán-Nôm ghép nơi mình sinh ra và lớn lên 22
con đường từ ghép thuần Việt đường đi 21
tình yêu Hán-Việt/Hán-Nôm ghép tình cảm yêu đương 19
một mình từ ghép thuần Việt (cụm cố định) chỉ có một mình, cô độc 19
giọt mưa từ ghép thuần Việt hạt nước mưa 19
trăm năm từ ghép thuần Việt (thành ngữ) trọn một đời người 19
giấc mơ từ ghép thuần Việt cơn mơ khi ngủ 18
cuộc tình Hán-Việt/Hán-Nôm ghép mối tình 18
mùa hè từ ghép thuần Việt mùa hạ 18
tiếng hát từ ghép thuần Việt giọng hát, lời ca 16
trở lại từ ghép đồng nghĩa quay lại lần nữa 15
thần tiên Hán-Việt/Hán-Nôm ghép cõi siêu nhiên, tốt đẹp 15
ngày mai từ ghép thuần Việt ngày sắp tới, tương lai gần 14
ra đi từ ghép đồng nghĩa rời khỏi, lên đường 14
người yêu Hán-Việt/Hán-Nôm ghép người mình yêu 13
yêu đương Hán-Việt/Hán-Nôm ghép chuyện tình cảm nam nữ 13
mênh mông từ láy rộng lớn không bờ bến 13
mãi mãi từ láy (điệp) luôn luôn, không bao giờ dứt 13
xa xôi từ láy ở rất xa 12
ánh trăng từ ghép thuần Việt ánh sáng của mặt trăng 12
mái tóc từ ghép thuần Việt tóc trên đầu (như mái nhà che đầu) 12
chơi vơi từ láy lơ lửng, hụt hẫng 12
gánh thóc từ ghép thuần Việt gánh lúa đã tuốt hạt 12
năm xưa từ ghép thuần Việt những năm trước đây, ngày trước 11
trăng vàng từ ghép thuần Việt ánh trăng màu vàng 11
cuộc đời Hán-Việt/Hán-Nôm ghép đời sống, kiếp người 11
người tình Hán-Việt/Hán-Nôm ghép người yêu 11
lá vàng từ ghép thuần Việt lá cây đã úa vàng (mùa thu) 11
ngày tháng từ ghép đồng nghĩa thời gian trôi qua 11
trả lời từ ghép thuần Việt (cụm động từ cố định) đáp lại câu hỏi 11
ước mơ từ ghép đồng nghĩa mong ước, mơ mộng 11
ngây thơ từ láy trong sáng, chưa từng trải 10
mùa đông từ ghép thuần Việt mùa lạnh nhất trong năm 10
yên vui từ ghép đồng nghĩa yên ổn và vui vẻ 10
nhớ thương từ ghép đồng nghĩa nhớ và thương 10

Đáng chú ý: "Việt Nam" (23 lần) và "diêu bông" (10 lần) đều

không xuất hiện trong bảng trên dù đạt ngưỡng tần suất — lý do nêu ở

mục 2 (tên riêng) và mục 5 (danh từ tự tạo) bên dưới.

4. "Từ đôi" đặc trưng riêng theo từng bài (100 bài)

Dùng công thức tỷ trọng-so-với-nền (log-ratio) như hai bài trước: mỗi

bài, những cặp âm tiết nào có tỷ trọng trong bài đó cao vượt hẳn mức nền

toàn kho (chỉ xét cặp xuất hiện ≥2 lần trong chính bài đó, sau khi lọc

bằng danh sách ~50 từ chức năng thường gặp — đại từ, liên từ, giới từ,

trợ từ), lấy tối đa 3 cặp điểm cao nhất mỗi bài — cùng cách làm và cùng

mức độ tin cậy có chủ ý thấp hơn mục 2 như đã nêu ở bài Trịnh Công

Sơn (bảng này dùng bộ lọc tự động, không đọc tay từng bài, nên còn lẫn

một số mảnh vỡ ranh giới câu, ví dụ "đội lâu" ở bài đầu tiên là mảnh vỡ

của "bộ đội" + "lâu rồi", hay "cái nằm" ở Bài Ca Sao là mảnh vỡ của cụm

số đếm lặp "chín cái nằm dài" — người đọc cần tự đối chiếu lại nguồn nếu

muốn dùng một dòng cụ thể làm bằng chứng). 5/100 bài không có cặp nào

lặp lại ≥2 lần trong nội bộ bài đó (thường là bài ngắn hoặc lời biến hoá

liên tục, không lặp cụm) — để trống ở cột thứ hai.

Đúng như nhận xét đã có ở hai bài trước, phần lớn "từ đôi đặc trưng

riêng bài" ở đây không phải từ ghép có sẵn trong từ điển mà là

cụm-khóa/điệp ngữ do chính bài đó tạo ra — ví dụ "đừng bỏ"/"mình

đừng" ở Đừng Bỏ Em Một Mình, "hãy yêu"/"yêu chàng"/"chàng hãy" ở Hãy Yêu

Chàng (điệp khúc lặp nguyên câu 12 lần), hay "lá diêu"/"diêu bông" ở Lá

Diêu Bông.

Bài hát Cặp âm tiết đặc trưng (số lần)
Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà bộ đội (2); đội lâu (2); tóc nàng (4)
Bài Ca Sao chín cái (2); cái nằm (10); thuở mẹ (4)
Bên Cầu Biên Giới bên giòng (2); cầu biên (2); biên giới (3)
Bên Ni Bên Nớ bên ni (3); sương rơi (2); rơi ngoài (2)
Cành Hoa Trắng (không có cặp lặp lại trong bài)
Cây Đàn Bỏ Quên đàn tình (2); tính tính (4); tính tình (4)
Chiều Về Trên Sông chiều buông (2); hãy cất (2); cất tiếng (2)
Chú Cuội đàn con (2); chú cuội (2); trâu ăn (2)
Chuyện Tình Buồn ngày nhà (2); pháo nổ (2); nhát chém (2)
Cỏ Hồng đồi cỏ (2); nghiêng nghiêng (2); cao thanh (2)
Còn Chút Gì Để Nhớ cao phố (2); xin cảm (2); cảm ơn (2)
Con Đường Tình Ta Đi chuyện tình (2); đứng ở (2); đường cũ (2)
Còn Gì Nữa Đâu thương đau (2)
Dạ Lai Hương lũ chúng (2); nhẹ bàn (2); chân hương (2)
Đêm Xuân tàn xin (2); xin đừng (3); đừng nhạt (2)
Đố Ai biết sông (2); ơ ời (2); ời ơ (2)
Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng vàng nhớ (2); nhau thôi (2); rằng xưa (3)
Đừng Bỏ Em Một Mình đừng bỏ (16); mình đừng (8); lạnh quá (2)
Đừng Xa Nhau đừng xa (3); nhau đừng (5); đừng quên (3)
Đường Chiều Lá Rụng vàng bay (2); vàng rơi (2); vàng êm (2)
Đường Em Đi dài thêm (2)
Em Hiền Như Ma Soeur mưa nói (2); nói năng (2); năng chi (2)
Em Lễ Chùa Này lễ lễ (2); lễ chùa (2); vườn chùa (2)
Gánh Lúa gánh lúa (3); rạng đông (2); quang gánh (2)
Giết Người Trong Mộng trả thù (2); thù duyên (2); kiếp phũ (2)
Gió Thoảng Đêm Hè thoảng đêm (4); hè gió (2); khuya gió (2)
Giọt Mưa Trên Lá lá nước (2); tiếng khóc (2); yêu lần (2)
Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu áo nhuộm (3); nhuộm hoàng (3); hôn áo (2)
Hạ Hồng mùa hè (18); hè thôi (2); thôi đôi (4)
Hãy Yêu Chàng hãy yêu (21); yêu chàng (27); chàng hãy (12)
Hẹn Em Năm 2000 vã trăm (2); nửa đời (2); trăm năm (7)
Hẹn Hò nước chảy (2); rơi mưa (2); mưa rơi (4)
Hoa Rụng Ven Sông tóc rối (2); bước chân (2); trăng vàng (2)
Hoa Xuân thấy hoa (2); xuân hoa (4); vui xuân (2)
Khi Tôi Về con cò (2); cò lại (2); lại bay (2)
Khối Tình Trương Chi đêm năm (7); êm dần (2); cung nam (2)
Kiếp Nào Có Yêu Nhau đừng nhìn (5); nhìn chi (2); hoa xanh (3)
Kiếp Sau ngàn thơ (2); sông thương (2); nghe trắc (2)
Kỷ Niệm mơ thành (2); vội về (3); không đòi (2)
Kỷ Vật Cho Em giờ trở (5); lại xin (5); xin trả (10)
Lá Diêu Bông lá diêu (8); diêu bông (10); nay tao (3)
Làm Sao Mà Quên Được (không có cặp lặp lại trong bài)
Mẹ Trùng Dương sóng vỗ (2); mẹ hiền (2)
Mộ Khúc trời nhẹ (2); chẳng hiểu (2); sương trinh (2)
Mộng Du mơ hồ (2)
Mùa Thu Chết cụm hoa (2); hoa thạch (2); nay mãi (2)
Mùa Thu Paris thu paris (4); quán nhỏ (2); viên lá (2)
Mùa Xuân Yêu Em đồng cỏ (2); yêu quý (2); trời hôm (2)
Nắng Chiều Rực Rỡ chớ buồn (2); giây phút (2); ước nguyện (3)
Nếu Một Mai Em Sẽ Qua Đời (không có cặp lặp lại trong bài)
Ngậm Ngùi mộng bình (2); tiếng thùy (2); bình thường (3)
Ngày Đó Chúng Mình ngày đôi (4); tiếng thơ (2); đôi môi (3)
Ngày Em Hai Mươi Tuổi hai mươi (4); mươi tuổi (4); tuổi tay (2)
Ngày Tháng Hạ tháng hạ (6); ngày tháng (6)
Ngày Trở Về ngày trở (8); thương binh (2); sống đời (3)
Ngày Xưa Hoàng Thị đường mưa (3); xưa tan (3); mang bụi (3)
Nghìn Năm Vẫn Chưa Quên gặp mười (2); nhau không (2); tạ ơn (2)
Nghìn Thu nghìn thu (6); về bên (2)
Nghìn Trùng Xa Cách trùng xa (4); trả hết (5); nghìn trùng (4)
Người Về tới nhớ (3); nhớ tới (6)
Nha Trang Ngày Về trang ngày (2); lớp sóng (2); nha trang (3)
Nhớ Người Ra đi hát hành (3); quân xa (3); không nhớ (3)
Nụ Tầm Xuân vườn cà (2); nụ tầm (3); tầm xuân (3)
Nước Mắt Mùa Thu mắt mùa (7); khóc than (2); thu khóc (7)
Nước Mắt Rơi mắt rơi (3); nước mắt (12)
Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi non ngàn (2); ngàn dặm (2); lòng muôn (2)
Nương Chiều lúc chiều (3); ới chiều (6); chiều ới (2)
Phượng Yêu xin yêu (2); yêu bằng (3); bằng tiếng (2)
Quê Nghèo (Bao Giờ Anh Lấy Được Đồn Tây) mơ thấy (2)
Rồi Đây Anh Sẽ Đưa Em Về Nhà về nhà (2); biển đông (2); đông vỗ (2)
Tạ Ơn Đời mang ơn (2); ơn đời (4)
Tâm Sự Gửi Về Đâu thầm hỏi (2); nhớ nhà (2); lý tưởng (2)
Thà Như Giọt Mưa mưa vỡ (2); đá thà (2); mưa khô (2)
Thu Ca Điệu Ru Đơn thu nức (3); nở ơ (3); ớ tiếng (3)
Thương Ai Nhớ Ai khăn thương (4); hoa thương (4); thương nhớ (16)
Thương Tình Ca dìu nhau (6); đưa nhau (3)
Thuyền Viễn Xứ sương khói (2); đà giang (2); cô lý (2)
Tiễn Em xe tiễn (4); buồn thế (4); thế trời (4)
Tiếng Đàn Tôi mông lả (2); khoan khoan (4); khoan hò (4)
Tiếng Sáo Thiên Thai cao xanh (2); xanh ngắt (2); ngắt ô (2)
Tiếng Thu không nghe (3)
Tìm Nhau tỏ tìm (2); cổ tìm (2); gặp nhau (8)
Tình Ca yêu tiếng (2); ruộng đồng (2); rừng cao (2)
Tình Cầm trăng vàng (2)
Tình Hoài Hương cô mình (2); về về (2); ơ ớ (2)
Tóc Mai Sợi Vắn Sợi Dài thuở ấy (4); vừa thôi (2); làm thơ (2)
Tôi Còn Yêu Tôi Cứ Yêu yêu mãi (3); yêu đời (2); tiêu điều (2)
Tôi Đang Mơ Giấc Mộng Dài đừng lay (2); thấy màu (2); nhìn thấy (3)
Trả Lại Em Yêu yêu khung (2); mây trời (2); nỗi đau (2)
Trên Đồi Xuân cỏ nõn (2); nõn nà (2); thở quê (2)
Tuổi Mộng Mơ tuổi mười (8); mười ba (2); ban phép (2)
Tuổi Ngọc hồng xin (2); tóc tơ (2); tơ xanh (2)
Tuổi Thần Tiên tuổi thần (11); thần tiên (12); quê hương (2)
Về Miền Trung miền trung (4); đêm hôm (2); hát xao (2)
Vết Sâu trời oan (2); oan khiên (2); khiên mang (2)
Viễn Du (không có cặp lặp lại trong bài)
Việt Nam! Việt Nam! nam hai (2); hai câu (2); câu nói (2)
Xuân Ca dài xuân (2); xuân xuân (5); xuân ới (10)
Xuân Thì (không có cặp lặp lại trong bài)
Yêu Là Chết Ở Trong Lòng yêu đương (10); biết yêu (9); yêu nhau (4)

5. Ba ví dụ minh họa cách tính (chọn từ chính kho Phạm Duy)

Hai bài trước dùng "vòng tay"/"dung nhan"/"huy hoàng" (Lê Uyên Phương)

và "dã tràng"/"hoạn nạn" (Trịnh Công Sơn) làm ví dụ đối lập tần suất

cao/thấp. Ở đây chọn ba ví dụ tương đương, thêm một trường hợp đặc biệt

không nằm trong bảng chính:

  • "mênh mông" — cặp có tần suất cao nhất trong toàn bảng mục 2 (13

lần). Số liệu:

  • P(mênh,mông) = 13/19.667 = 0,000661
  • P(mênh) = 16/19.767 = 0,000809 · P(mông) = 15/19.767 = 0,000759
  • P(mênh) × P(mông) = 0,000000614 → tỉ số ≈ 1.076 → PMI = log2(1.076) ≈

10,07

  • "mênh" xuất hiện 16 lần toàn kho nhưng chỉ 13 lần đi với "mông"

(3 lần còn lại là "mênh mang" ở một bài khác); "mông" xuất hiện 15

lần, cũng chỉ 13 lần đi với "mênh" (2 lần là mảnh vỡ "mông lả" đã bị

loại ở mục 2 Process). Vì cả hai vế đều "rò rỉ" sang vài ngữ cảnh

khác chứ không tuyệt đối 100% chỉ đi với nhau, PMI của "mênh mông"

(10,07) thấp hơn khá nhiều so với các cặp đứng đầu bảng (13,28) dù

tần suất tuyệt đối cao nhất — đúng hiệu ứng đã nêu ở hai bài trước:

PMI đo độ "dính tương đối", không phải độ phổ biến tuyệt đối.

  • "cuống quít" và "trăn trối" — hai trong số chín cặp đồng hạng nhất

bảng PMI (13,28), mỗi cặp chỉ xuất hiện đúng 2 lần và cả hai âm tiết

mỗi bên cũng chỉ xuất hiện đúng 2 lần toàn kho (nghĩa là **cả bốn âm

tiết "cuống", "quít", "trăn", "trối" đều 100% chỉ đi với đúng một đối

tác duy nhất** trong phạm vi 100 bài này):

  • P(cuống,quít) = 2/19.667 = 0,0001017; P(cuống) = P(quít) =

2/19.767 = 0,0001012 → tỉ số ≈ 9.932 → PMI = log2(9.932) ≈ 13,28

  • Về mặt từ vựng, "cuống quít" là từ láy hoàn chỉnh (không có nghĩa gì

khi tách "cuống" hay "quít" riêng ra trong ngữ cảnh này), còn "trăn

trối" là trường hợp tương tự — hai ví dụ rõ ràng cho loại "từ đôi vô

nghĩa khi tách rời" đúng như câu hỏi gốc đặt ra cho cả loạt bài này.

Cũng như "hoạn nạn" ở bài Trịnh Công Sơn, mẫu chỉ 2 lần khiến PMI bị

"thổi phồng" — không thể khẳng định "cuống" hay "trăn" không bao giờ

đứng một mình trong toàn bộ sự nghiệp Phạm Duy, chỉ có thể nói trong

phạm vi 100 bài này, chúng luôn đi cùng đối tác nêu trên.

  • "diêu bông" — trường hợp đặc biệt, không nằm trong bảng chính.

"Lá Diêu Bông" (thơ Hoàng Cầm) là một chiếc lá không tồn tại, một

hình ảnh siêu thực do nhà thơ bịa ra để nói về một mối tình cầu không

thể với tới ("Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá đi đầu non"). "Diêu" xuất

hiện đúng 10 lần trong toàn kho, và cả 10 lần đều đi với "bông"

(100% — giống mức độ "dính" của "cuống"/"trăn" ở trên), nhưng "bông"

lại xuất hiện tới 23 lần (13 lần còn lại là "bông hoa" ở bài khác) —

tính ra:

  • P(diêu,bông) = 10/19.667 = 0,000508
  • P(diêu) = 10/19.767 = 0,000506 · P(bông) = 23/19.767 = 0,001164
  • P(diêu) × P(bông) = 0,000000589 → tỉ số ≈ 864 → PMI = log2(864) ≈

9,75 — đủ cao để vượt ngưỡng 9,0 của mục 2, và tần suất 10 lần

cũng vượt ngưỡng 10 của mục 3. Lý do duy nhất "diêu bông" bị loại

khỏi cả hai bảng chính không phải vì thống kê yếu, mà vì **"diêu"

không phải một âm tiết/hình vị có nghĩa trong tiếng Việt** — nó chỉ

tồn tại trong duy nhất bài thơ này, không tra được ở bất kỳ từ điển

nào. Đây là bằng chứng thống kê mạnh nhất có thể có cho việc "diêu

bông" là một danh từ hoàn toàn do nhà thơ sáng tạo, khác hẳn

"dã tràng" ở bài Trịnh Công Sơn (một con vật/thành ngữ có thật, chỉ

tình cờ có độ "dính" cao) — ở đây độ "dính" tuyệt đối bắt nguồn từ

việc "diêu" chưa từng, và sẽ không bao giờ, xuất hiện ở bất kỳ ngữ

cảnh nào khác ngoài "diêu bông".

6. Nhận xét

  • Phân loại theo cấu tạo (230 cặp ở mục 2): **84 cặp (36,5%) là từ

láy, 70 cặp (30,4%) là Hán-Việt/Hán-Nôm ghép, 41 cặp (17,8%)

là từ ghép thuần Việt, 28 cặp (12,2%) là từ ghép đồng nghĩa**, và

7 cặp (3,0%) thuộc nhóm "khác" (cụm động từ cố định như "cắp rổ",

"hái dâu", "réo tên", "ngước mặt", "mỉm cười", "cúi đầu", "mở cửa").

So sánh ba bài: tỷ trọng từ láy của Phạm Duy (36,5%) nằm giữa

Uyên Phương (43%, thuần tình ca) và Trịnh Công Sơn (28,7%, toàn sự

nghiệp nhiều chủ đề) — hợp lý vì kho Phạm Duy ở đây tuy là tuyển tập

tình ca nhưng vẫn có một số bài quê hương/chiến chinh xen vào (khác

Lê Uyên Phương thuần tình ca, giống một phần Trịnh Công Sơn). Tỷ trọng

Hán-Việt/Hán-Nôm (30,4%) gần sát Trịnh Công Sơn (30,9%) và cao hơn hẳn

Lê Uyên Phương (28%) — phản ánh phần nào việc gần 1/3 số bài trong

tuyển tập là thơ phổ nhạc của các nhà thơ tiền chiến/hiện đại (Hữu

Loan, Cung Trầm Tưởng, Phạm Thiên Thư, Huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu…),

vốn có xu hướng dùng từ Hán-Việt trang trọng hơn lời ca thuần túy.

  • Mảng từ vựng chiến tranh/quân sự (bộ đội, đơn vị, đoàn quân, hành

quân, chiến binh, chiến thắng, thực dân, xương máu, nghĩa trang) xuất

hiện rải rác dù đây là tuyển tập "tình khúc" — chủ yếu đến từ những

bài có bối cảnh thời chiến làm nền cho câu chuyện tình (Áo Anh Sứt Chỉ

Đường Tà — thơ Hữu Loan viết về một người lính mất vợ; Nhớ Người Ra

Đi; Ngày Trở Về; Vết Sâu — về một thương binh) — khác hẳn bài Lê Uyên

Phương (không có mảng này) nhưng tinh tế hơn Trịnh Công Sơn (từ vựng

chiến tranh ở Trịnh Công Sơn đến từ hẳn một mảng đề tài phản chiến

riêng, ở đây chỉ là bối cảnh cho một câu chuyện tình cụ thể).

  • "Mùa thu" và "thương nhớ" đồng hạng nhất bảng tần suất thô (36

lần, mục 3) — khác hẳn Trịnh Công Sơn ("quê hương" dẫn đầu, phản ánh

toàn sự nghiệp) và Lê Uyên Phương ("bàn tay/vòng tay", tình cảm cụ thể

qua thân thể). Ở Phạm Duy trong tuyển tập tình khúc này, cảm xúc trừu

tượng ("thương nhớ") đi cùng một mùa cụ thể trong bốn mùa ("mùa thu")

đứng ngang hàng nhau — phù hợp với vị trí "nhạc sĩ của tứ thời/tứ

quý" đã được ghi nhận trong nhiều bài viết trước đây, nay được xác

nhận lại bằng con số thống kê từ chính một tuyển tập tình ca.

  • "Việt Nam" (23 lần, mục 1) đứng cao hơn hẳn "quê hương" (22 lần)

về tần suất tuyệt đối, dù bị loại khỏi cả hai bảng chính vì là tên

riêng — một phát hiện thú vị tự thân: ngay trong một tuyển tập được

đóng khung là "100 tình khúc" (tình ca đôi lứa), tên đất nước vẫn xuất

hiện nhiều hơn từ ghép "quê hương" xét về số lần tuyệt đối, phần lớn

đến từ các bài như "Việt Nam! Việt Nam!", "Tình Hoài Hương", "Nhớ

Người Ra Đi", "Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi" — cho thấy ranh giới giữa

"tình ca" và "quê hương ca" trong sự nghiệp Phạm Duy mỏng hơn nhãn

"tình khúc" của tuyển tập này gợi ý.

  • "Diêu bông" (mục 5) là phát hiện đối lập thú vị nhất so với "dã

tràng" của bài Trịnh Công Sơn: cả hai đều đạt độ "dính" gần tuyệt đối

ở một chiều, nhưng "dã tràng" là một hình ảnh có thật (con vật + thành

ngữ dân gian) được Trịnh Công Sơn dùng lại nhiều lần, còn "diêu bông"

là một từ hoàn toàn không tồn tại ngoài bài thơ/bài hát này — một

minh chứng bằng số cho năng lực "chế tác ngôn ngữ" đặc biệt của thơ

Hoàng Cầm mà Phạm Duy chọn phổ nhạc, khác hẳn cách hai nhạc sĩ kia

dùng vốn từ có sẵn của tiếng Việt dù láy/ghép chặt đến đâu.

  • 34/100 bài là thơ phổ nhạc — tỷ lệ này giải thích một phần vì sao

tỷ trọng Hán-Việt cao và vì sao nhiều cặp mang tính văn chương/cổ điển

hơn (đoạn trường, giang hồ, thoát thai, oan khiên, thánh giá, thùy

dương) xuất hiện dày hơn so với hai bài trước — đây là điểm khác biệt

về nguồn gốc lời ca mà bài Lê Uyên Phương và Trịnh Công Sơn (lời do

chính nhạc sĩ viết toàn bộ) không có.

  • Giới hạn cần nêu rõ (song song mục 9 hai bài trước): (1) đây là

trích lời ở mức "đọc nhanh" từ file nguồn có sẵn, không đối chiếu

từng chữ với bản in gốc từng bài — cặp "tươi ròn" ở mục 2 được đánh

dấu vì nghi ngờ là biến âm/lỗi chính tả; (2) mục 4 dùng bộ lọc

tự động thay vì đọc tay từng bài, độ chính xác thấp hơn có chủ ý; (3)

ngưỡng PMI ≥ 9,0 và tần suất ≥10 ở mục 2–3 là lựa chọn thực dụng, chắc

chắn còn sót một số từ ghép thật dưới ngưỡng; (4) quan trọng nhất —

100 bài này là một tuyển tập đã qua chọn lọc chủ quan (không phải

toàn bộ hay một lát cắt ngẫu nhiên trong sự nghiệp Phạm Duy), nên mọi

con số thống kê ở đây phản ánh "gu chọn bài của người tuyển 100 Tình

Khúc", không hẳn phản ánh toàn bộ vốn từ của Phạm Duy qua hơn 1.000 ca

khúc đã viết.

No comments: