(Nguồn: tạp chí Bách Khoa, số CLIV [154], trang 89–98, 15-6-1963. Kỳ thứ năm của loạt bài phỏng vấn giới nhạc sĩ, gồm hai nhạc sĩ: Nghiêm-Phú-Phi và Tôn-Thất-Tiết.)
Từ hồi những bài ca được gọi là «cải cách» đầu tiên ra đời đến hiện giờ, ta không thể phủ nhận trình độ nghe những bài ca tân nhạc của đại chúng đã lên khá cao.
Hiện giờ bài ca tân nhạc đang được đại chúng thích, nên khuyến khích các nhà soạn bài ca tân nhạc soạn theo ý nhạc cổ truyền và dân ca, hướng dẫn những người đang thích nghe bài ca tân nhạc đi đến việc thích nghe nhạc bán thuần túy và dần dần thích nhạc thuần túy.
Nghiêm-Phú-Phi
Sanh năm 1930 tại Sài-Gòn.
Không chuyên hẳn về loại nào, tôi tìm hiểu và chơi những loại nhạc: những bài hát được gọi là «cải cách» hoặc «tân-nhạc»; những bài nhạc Âu-Mỹ dùng để khiêu-vũ: tango, rumba, mambo, paso-doble, valse v. v...; nhạc Tzigane; nhạc Jazz; nhạc dân-ca, nhạc cổ-truyền Việt-Nam; nhạc đệm ngâm thơ, đệm kịch sân-khấu, kịch phát-thanh, đệm phim.
Tôi đã học-tập và nghiên-cứu nhạc cổ-điển Tây-phương, từ phái cổ-điển ví-dụ như: Bach, Mozart, Beethoven, phái lãng-mạn ví dụ như: Schubert, Schumann, Liszt, Chopin, phái cận-kim và hiện-đại ví dụ như: Debussy, Ravel, Schonberg, cho đến phái âm-nhạc cụ-thể (musique concrète) là phái không dùng nhạc-khí cổ-điển mà chỉ dùng những vật cụ-thể hay những tiếng động thông-thường như: tiếng còi tàu hỏa, tàu thủy, búa, máy đánh chữ, nhà máy đang chạy, v.v... để diễn-tả ý nhạc.
Sanh năm 1930 tại Sàigòn, hồi 13 tuổi tôi được may-mắn có người dượng dạy cho biết ký-âm-pháp; về sau tình cờ tôi được dịp tự học dương-cầm, từ 15 tuổi, ban ngày đi học chữ, ban đêm đi đờn dương-cầm tại các vũ-trường cùng với nhạc-sĩ Trần-Anh-Tuấn, nhờ vậy mới có tiền mà học dương-cầm với ông Võ-Đức-Thu đồng thời tôi được nhóm «Xuân-Thu Nhạc Kịch» (do Lê-Thương và các bạn thành-lập) mời đệm dương-cầm trong nhiều buổi trình-diễn, cũng vào lúc bấy giờ, tôi đệm dương-cầm cho tất cả những buổi trình diễn của Trần-Văn-Trạch.
Nhờ làm việc như vậy, dành-dụm được một số tiền, nên đến 19 tuổi tôi sang Paris, cầu học nhạc cổ-điển Tây-phương. Đến Paris may-mắn được thi đỗ vào lớp dương cầm và lớp hoà-âm của Conservatoire National de Musique de Paris, rồi tôi được tốt-nghiệp về 2 môn này. Ngoài ra tôi có dự thi trong các cuộc tuyển chọn quốc-tế tại Paris và đã được: giải-thưởng hạng nhứt của nhạc-viện «Musica», giải thưởng danh-dự của hội âm-nhạc U.F.A.M., giải thưởng ưu-hạng của hội «Scène Française», sau đó không bao lâu, tôi được mời làm giám-khảo của hội-âm-nhạc «Léopold Bellan».
Trong lúc học nhạc tại Paris, tôi vẫn làm tại các tửu quán, vũ-trường, cộng tác với đài phát-thanh Paris trong 3 năm, và cộng-tác với các hãng phim, hãng dĩa hát, dạy dương-cầm, trình-diễn dương-cầm tại Paris, tại các tỉnh nước Pháp, tại Bỉ.
25 tuổi về nước, tôi có độc-tấu dương cầm trong Festival Mozart tổ chức tại Sài-Gòn, đã trình diễn tại Thái-Lan, Phi-Luật-Tân, và từ 1956 đến giờ tôi dạy dương cầm và hòa âm tại Trường quốc-gia Âm-Nhạc và Kịch Nghệ do ông Nguyễn-Phụng làm giám-đốc. Tôi đã phụ trách trong 2 năm buổi phát thanh «Âm-nhạc Cổ điển Tây-phương dẫn-giải» với sự cộng tác của ông bà Nguyễn-Văn-Huấn và ông Nguyễn-Phụng. Tôi có tổ chức nhiều buổi trình-diễn dương-cầm tại Sài-Gòn, đã sáng-tác nhạc phim, những bài nhạc cho dương-cầm, và gần đây có sáng tác một «divertissement» cho Đàn Bầu, Đàn Tranh, Dương-Cầm và giàn-nhạc Đại-Hòa-Tấu, bài này đã được Hoàng-Thi-Thơ đem vào Chương-trình ra mắt của đoàn «Văn-Nghệ Việt-Nam», và đã được giàn nhạc Đại-Hoà-Tấu của «Việt-Nam Nhạc-Hội», do nhạc trưởng Đức Otto Soellner điều khiển, trình bày tại rạp Hưng-Đạo và Đại-Nam (1).
Bài «Divertissement» soạn riêng cho Đàn Bầu, Đàn Tranh, Dương-Cầm và giàn nhạc Đại hòa-Tấu chỉ là một thí nghiệm nhỏ, chúng ta còn có thể thực-hiện những dự-án văn-nghệ vĩ-đại, với giá trị nghệ-thuật khá cao, dựng lên với một kỹ thuật vững-chắc, một cách công-phu, tỉ-mỉ, mà vẫn giữ được tinh-thần Việt Nam, có thể làm cho phong-phú nền văn hóa Việt Nam mà hiện nay ta chỉ hãnh-diện với quốc-tế về ngành Văn-chương hoặc ngành Hội-họa, còn ngành Nhạc thì kể như chưa có gì! Chúng ta chỉ còn chờ những nhà Mạnh-Thường-Quân giúp phương tiện.
Ngoài việc hoạt-động cho nền nhạc thuần túy Việt-Nam, tôi cũng vẫn tìm cách nâng cao trình độ nghe nhạc của quần-chúng, khởi sự từ những loại nhạc đang được quần chúng thích nghe, tức là những bài ca tân nhạc. Thay vì trình bày những bài này một cách thô-sơ, ta viết thêm vào nhiều giọng hát khác để hợp-ca, viết cho mỗi nhạc-khí trong ban nhạc một phần đặc biệt, tất cả các phần của những giọng hát, những nhạc khí hợp thành một khối, không gượng ép, khi trình bày gây cho thính-giả một niềm thích thú, như thế tạm gọi là phụ-soạn hòa-âm.
Tôi đã viết phụ soạn hòa-âm cho nhiều bài ca tân nhạc và nhiều bản trường-ca. Tôi thiết nghĩ hiện giờ chỉ có loại nhạc này đang đi sâu rộng vào đại-chúng Việt-Nam, vậy với sự phụ-soạn hòa-âm phong-phú, với sự trình-bày điêu luyện, chúng ta có thể dùng nó để đại-chúng bắc cầu qua loại nhạc thuần-túy, (một loại nhạc khó hiểu hơn).
Từ hồi những bài ca được gọi là «cải-cách» đầu tiên ra đời đến hiện giờ, ta không thể phủ nhận trình-độ nghe những bài ca tân-nhạc của đại-chúng đã lên khá cao, bằng-chứng là ở những buổi phát-thanh, bài ca tân-nhạc nào được trình-bày với phần phụ-soạn hòa âm đứng-đắn, vẫn được thính-giả thưởng thức hơn là khi trình-bày nó một cách thô-sơ. Tại các hãng dĩa tân-nhạc, người ta phải chịu tốn thêm tiền sở-phí tìm những nhạc-sĩ có uy-tín nhờ viết phụ-soạn hòa-âm cho những bản họ sắp phát-hành, như vậy dĩa hát của họ mới bán chạy hơn.
Với trình-độ thưởng thức này, chúng ta có thể bắt đầu dẫn đại-chúng đi đến sự hiểu-biết loại nhạc bán-thuần-túy, và dần-dần đến nhạc thuần-túy Việt-Nam và quốc-tế.
Để giúp đại-chúng nhập-môn vào nghệ-thuật nghe nhạc thuần túy, chúng ta có thể phổ biến loại nhạc này với sự dẫn-giải rõ-ràng, dễ hiểu và dưới một hình-thức nào thật hấp dẫn để thính-giả nghe không chán, như thế sẽ gây được phong-trào thích nghe nhạc thuần-túy, đồng-thời cũng nên gây phong-trào thích chơi nhạc thuần-túy bằng cách vừa giới-thiệu những giàn-nhạc hoặc những nhạc sĩ độc-diễn lừng danh thế giới, vừa giới-thiệu những nhạc sĩ nước nhà và nhứt là giới-thiệu những nhạc-sĩ mầm non.
Ngoài ra nên thường xuyên tổ-chức những buổi nói chuyện về nhạc thuần-túy có thêm phần trình-diễn, và những buổi hòa nhạc vào cửa không tiền.
Đành rằng hướng-dẫn quần-chúng hiểu và thích nhạc thuần-túy không phải là chuyện dễ, nhưng không phải không làm được, tại Á-Đông đã có nhiều nước mà trình-độ âm-nhạc lên rất cao.
Tóm lại, đối với quốc-tế, vì tinh-thần tự-trọng quốc-gia, ta nên có những hoạt-động về đại-nhạc (grande musique) để có thể dự vào những đại-hội âm nhạc thuần-túy quốc-tế, hoặc để tiếp-rước một thượng khách đến viếng nước ta, ta cũng có cái gì để phô-trương sự tiến-triển của nền văn hóa ta về ngành nhạc. Ở các nước khác, khi tiếp-rước một thượng-khách, người ta thường mời dự một vở opéra, hoặc một buổi ballet, hoặc một buổi trình-diễn của ban nhạc đại-hòa-tấu, trong những dịp như thế, hiện giờ nước ta chỉ có thể đưa ra một buổi trình-diễn ca-nhạc cổ-truyền, chúng tôi chủ-trương bảo-tồn nhạc cổ-truyền, nhưng riêng trong trường hợp này, tôi thiết-nghĩ người ngoại-quốc chỉ nghe nhạc cổ-truyền với tánh-cách tò-mò, chớ không thể nhìn sự tiến-triển của nền văn-hóa ta qua nhạc cổ-truyền.
Còn đối với trong nước, nên bảo-tồn nhạc cổ-truyền, sưu-tầm và ghi-chép thật nhiều điệu dân-ca; hiện giờ bài ca tân-nhạc đang được đại-chúng thích, nên khuyến-khích các nhà soạn bài ca tân-nhạc soạn theo ý nhạc cổ-truyền và dân-ca, hướng-dẫn những người đang thích nghe bài ca tân-nhạc đi đến việc thích nghe nhạc bán thuần-túy và dần dần thích nhạc thuần-túy; khuyến-khích, nâng-đỡ những người có thiên tư cho họ học những kỹ-thuật sáng tác tinh-vi của quốc-tế để họ có thể sáng tác loại nhạc thuần-túy với kỹ-thuật quốc-tế và với tinh thần Việt-Nam rút từ nhạc cổ truyền và dân-ca; ngoài ra còn nên tìm cách bảo đảm đời sống, quyền lợi của giới ca nhạc sĩ và còn rất nhiều việc nên làm mà các vị đàn anh của tôi đã nêu ra trong cuộc phỏng-vấn này.
Tuy học âm-nhạc ngoại-quốc, song tôi vẫn là người Việt, nên bao giờ tôi cũng chuyên tâm đem phương-pháp âm-nhạc Âu-Tây áp-dụng vào âm nhạc Việt, cốt nâng cao trình-độ âm-nhạc của chúng ta để gia tăng và phát triển những ưu-điểm cố-hữu.
NGHIÊM-PHÚ-PHI
(Ảnh minh họa nguyên trang: nhạc sĩ Nghiêm-Phú-Phi tại đài Vô tuyến truyền hình Phi-Luật-Tân.)
NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ GỢI Ý
1) Bạn chuyên về nhạc gì? Nhạc Tây phương hay nhạc Việt, nhạc mới hay cũ, cổ truyền hay cải cách? Về ngành nhạc nào, và xin giải thích cho biết qua về ngành đó.
2) Bạn bước vào ngành nhạc trong trường hợp nào. Và tập luyện ra sao? Xin cho biết về những hoạt động nghệ thuật của bạn (sáng tác, tấu nhạc, điều khiển ban nhạc, nghiên cứu về nhạc...)
3) Theo ý bạn chỉ nên phổ biến nhạc Tây phương cho thật rộng rãi hoặc chỉ phục hưng hay cải cách nhạc Việt?
4) Nếu chỉ nên phổ biến nhạc phương Tây, thì có những sự khó khăn gì? Và có những cách gì tiện lợi và hiệu nghiệm nhất.
— để huấn luyện nhạc sĩ,
— để cho quần chúng hiểu được và ưa được.
5) Nếu bạn chủ trương phục hưng hoặc cải cách, thì theo đường lối nào, và cần điều kiện gì? Nhạc cổ Việt-Nam hay nhạc mới gọi là «cải cách», hiện nay có những ưu điểm, khuyết điểm gì?
6) Ý kiến về tương lai nhạc Việt hoặc tương lai nghệ thuật nhạc tại Việt-Nam.
(Ghi chú: đây là bảng câu hỏi gợi ý chung, được Bách-Khoa in lại trong mỗi kỳ của loạt phỏng vấn giới nhạc sĩ, để mỗi nhạc sĩ trả lời tùy ý — không phải người nào cũng đáp đủ cả sáu câu, như chính Tôn-Thất-Tiết nói rõ ở phần dưới đây.)
Tôn-Thất-Tiết
- Sinh vào cuối năm 1933 tại Quảng-Nam (Trung-Việt). Bắt đầu học vĩ-cầm năm 1946.
- 1954. — Nhập ngũ (gián đoạn việc học nhạc).
- 1956. — Giải ngũ.
- 1956-1958. — Giáo-sư âm-nhạc tại trường Trung-học Nguyễn-Tri-Phương và Quốc-học Huế (Khải-Định cũ).
- 1958. — Xuất dương. Học hòa âm với giáo sư Georges Dandelot và đối âm (contrepoint) với bà Honegger tại École Normale de Musique de Paris.
- 1960. — Đỗ cử-nhân hòa-âm (tốt nghiệp E.N.M.P.) và đệ-nhị chứng-chỉ đối âm (Diplôme de Contrepoint).
- Đỗ vào Âm nhạc viện quốc-gia Ba-Lê lớp đối-âm với giáo sư Noël Gallon và tấu pháp (Fugue) với bà Yvonne Desportes.
- 1961. — Giải nhì tấu pháp (2è prix de Fugue).
- Đệ nhất phụ thưởng đối âm (1er accessit de Contrepoint) tại Âm nhạc viện Quốc-gia Ba-Lê.
- 1962. — Đỗ vào lớp Sáng tác (Composition) tại Âm nhạc viện quốc-gia, theo học với nhạc sư Jean Rivier (lớp này do 2 nhạc sư Darius Milhaud và Jean Rivier hướng dẫn, hiện nay nhạc sư Darius Milhaud về hưu nên chỉ còn lại Jean Rivier).
Tác-phẩm:
- Sonatine (dương-cầm và vĩ-cầm) viết vào mùa hè 1961.
- Niềm vui (dương cầm) viết vào ngày 2-3-1952, gồm bốn đoạn: 1) Người và vũ-trụ; 2) Thiếu-nữ bên hồ Léman; 3) Tiễn biệt; 4) Niềm vui trong tình bạn vô biên.
- Sonatine (dương cầm) viết vào mùa xuân 1962.
- Hoài cổ (dương cầm và vĩ cầm) thu 1962.
- Ca khúc (viết theo thơ của Guillaume Apollinaire), thu 1962.
- Tứ cầm khúc (quatuor à cordes), thu 1962 (hai tác phẩm sau này viết để dự thi vào lớp Sáng tác).
- Sonato (vĩ-cầm và dương cầm) viết vào ngày 3-4-1963. (Nhạc phẩm sẽ dự thi Sáng tác vào tháng 6-1963.)
Sáng tác gia có thể lấy nhạc ý (thème) trong dân ca hay cổ nhạc để viết ra một «symphonie» hay một «concerto», nhưng không nên chắp nối bản này sau bản khác (nhạc cổ hay dân ca) theo kỹ thuật hòa âm Tây phương để làm thành một tác phẩm của mình.
Ngoài dân ca (dĩ nhiên đã có địa vị trong nhạc Việt), nhạc cải cách (có thể ví với loại nhạc giải trí Tây phương) nên được giữ lại cũng như ở bên Tây phương này chẳng ai bài xích loại variété.
Paris, 14-5-1963
Anh Ngu.Í.
Xin gởi về Bách-Khoa bài tôi trả lời cuộc phỏng vấn về nhạc do anh phụ trách để góp chút «viễn ý» với anh chị em ở quê nhà. Câu hỏi thứ 5 và thứ 6, tôi không đáp, anh cũng hiểu vì sao: xa quê hương đã sáu năm trời, tôi khó mà trả lời chính xác được.
I. — Tôi chuyên về sáng tác.
Từ lâu tôi được huấn luyện về nhạc Tây-phương, nhưng không vì thế mà thờ ơ với nền nhạc cổ truyền Việt-Nam.
Nhạc Tây-phương gồm có hai loại: 1) Nhạc giải trí (variété); 2) Đại nhạc (Grande musique ou musique cérébrale).
Tôi xin nói về hai loại nhạc ấy và nhất là loại sau.
1) Nhạc giải-trí gồm những ca khúc ngắn hoặc những nhạc khúc chú trọng nhiều về những tiết-điệu sẵn có. Loại nhạc này rất thông dụng trong các tiệm khiêu-vũ hay hí trường. Sáng tác loại này không cần phải có kỹ-thuật «cao-siêu» và không đòi hỏi một căn bản nhạc vững chắc.
2) Đại-nhạc (tôi tạm dịch như vậy). Loại nhạc này, như tất cả mọi người đều biết, bắt nguồn từ thánh ca và dân ca thời thượng cổ diễn tiến theo dòng lịch sử văn hóa. Từ cuối thế kỷ XIX, loại nhạc này đã vượt biên giới Âu-châu để tiến sang Đông phương và Nam phương, hiện nay nó đã lan tràn khắp thế giới. Âm-nhạc Đông-phương gồm nhạc Trung-Hoa, Ấn-Độ, Nhật Bản, Việt-Nam v. v... đã dừng lại từ lâu (gần 20 thế kỷ, như Trung-Hoa) về phương-diện sáng-tác. Nhạc-sĩ chú trọng về tấu nhạc hơn là sáng tác nhạc. Vào cuối thế kỷ XIX, bỡ-ngỡ trước nền văn minh Tây-phương, và riêng về nhạc, các nhạc sĩ Trung-Hoa, Nhật-Bản... bắt đầu chú trọng về ngành sáng-tác, dựa theo kỹ thuật Tây phương. Hiện nay những nước ấy, nhất là Nhật-Bản và Trung-Hoa (như tôi đã được biết) có nhiều soạn nhạc gia sáng-tác theo kỹ-thuật Tây-phương nhưng vẫn giữ được màu sắc dân tộc. Sở dĩ tôi nói nhiều về điểm này vì đấy là con đường tôi đã chọn.
Trong phạm vi nhỏ hẹp của một bài trả lời cuộc phỏng vấn, tôi không thể nói nhiều về chi tiết loại «đại nhạc», tôi chỉ nêu ra đây vài điểm chính.
Cũng như văn chương, nhạc-sĩ dùng nhạc để nói lên một cái gì, hơn nữa, âm nhạc truyền cảm rất mạnh so với các bộ-môn khác như văn-chương hay hội họa.. (như văn-sĩ Faulkner đã nói) vì nó gồm nhiều cảm giác hơn tri năng (ví-dụ nhạc lãng-mạn với Berlioz, Liszt..,) Nhưng đến đầu thế-kỷ XX này, âm nhạc lại nhuốm thêm màu sắc tri năng. Kỹ-thuật soạn nhạc bị xáo trộn, Schoenberg lập ra phái nhạc thập nhị âm hay vô định cung thể (musique dodécaphonique, sérielle hay atonale), Stravinsky, Bartok xáo lộn nền hòa-âm; một số nhạc-sĩ khác viết nhạc «cụ thể» (musique concrète)...
Con người và xã hội biến-chuyển, dĩ-nhiên văn nghệ cũng thay đổi theo.
Mỗi nền văn minh của mỗi nước thường diễn tiến theo nhịp riêng biệt, nhưng nhìn chung lại thì sự tiến triển của văn minh loài người đều là một. Vì vậy, ngoài loại nhạc cổ truyền Việt-Nam cần phải bồi dưỡng, loại đại nhạc trên cần được phát triển sáng tác để chúng ta có thể góp mặt với thế-giới. Về loại này hiện nay chúng ta chưa có gì đáng kể, nhưng tôi hi vọng trong một thời gian gần đây, loại đại nhạc Việt-Nam sẽ được nhắc nhở đến trên khắp các nước (Trung-Hoa và nhất là Nhật-Bản hiện nay tiến rất cao về loại này).
II. — Theo học nhạc đối với tôi là một chuyện ngẫu nhiên vì trong gia-đình tôi chẳng ai nghĩ đến. Tôi được người anh đầu khuyến khích và hứa thưởng cho một cây vĩ-cầm sau khi đỗ vào trường Trung-học Khải-Định. Nhưng chiến tranh bùng nổ, anh tôi gia nhập phong trào kháng-chiến chống Pháp và tử trận vào đầu năm 1947. Từ đấy tôi tiếp tục học vĩ-cầm với người anh họ là anh Võ-Tô nhưng thiếu mất sự khuyến-khích của người anh mà tôi quí mến nhất trong gia đình.
Đến năm 1951, tôi có nhờ ông Nguyễn Định-Chiếu chỉ qua về hòa-âm. Lúc ấy tôi bắt đầu có ý chuyên về ngành sáng-tác. Mãi đến năm 1958, tôi mới được sang Pháp và bắt đầu học kỹ về hòa-âm, đối âm (contrepoint), tấu pháp (Fugue) và khoa sáng-tác nhạc ở École Normale de musique de Paris (về hòa âm) và Âm nhạc viện quốc gia Ba-Lê về những khoa sau.
Nhạc sĩ là một trong những sứ-giả hòa bình, vì nhạc thuần túy luôn luôn làm dịu lòng người và hướng nhân loại trở về với cái Thiện Mỹ của tâm hồn. Khổng-Tử đã nói nhiều về nhạc, «nhạc là cái vui của thánh nhân, mà có thể khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và dị phong dịch tục được, cho nên tiên vương mới đặt ra dạy nhạc». (Nhạc-ký) (theo bản dịch của Trần-Trọng-Kim). Dựa theo nguyên tắc ấy, tôi luôn luôn cố-gắng để nói lên một cái gì.
III. — Văn chương, hội-họa, điêu-khắc, cùng những bộ-môn khác của nền văn-minh Tây-phương đều được phổ biến ở Việt-Nam, tại sao chúng ta không quan-tâm đến âm nhạc của nền văn-minh ấy? Vì vậy, đối với tôi, sự phổ biến nhạc Tây-phương là lẽ dĩ nhiên, nhưng không thể mà bỏ quên nhạc cổ truyền Việt-Nam.
Việc phổ-biến nhạc Tây phương nhằm mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của con người, hơn nữa nó sẽ giúp cho quần chúng khỏi phải bỡ ngỡ trước những nhạc phẩm Việt-Nam viết theo nhạc thể mới.
Vào tháng 10 năm 1960, tôi được nghe một buổi hòa nhạc do ban nhạc đại hòa tấu TOKYO trình diễn tại Ba-Lê: trong chương-trình có một nhạc phẩm cổ truyền Nhật-Bản soạn lại theo kỹ-thuật hòa tấu Tây-phương, nhạc phẩm này được công chúng Ba-Lê hoan-nghênh nhiệt liệt và phải trình bày 2 lần trong đêm ấy. Tôi nêu ra thí dụ này để nhấn mạnh thêm ý-kiến của bà Phạm-Thị-Lạc-Nhân trong một số Bách-Khoa gần đây (1). Nhưng ta nên nhớ rằng dù có soạn lại đi nữa, nó vẫn là một nhạc cổ truyền chứ không phải là nhạc của chính mình viết ra. Sáng tác giả có thể lấy nhạc ý (thème) trong dân ca hay cổ nhạc để viết ra một «symphonie» hay «concerto» (2) (tôi xin nói tiếng Pháp vì tôi không muốn dịch ra tiếng Việt những danh từ này) nhưng không nên chắp nối bản này sau bản này sau bản khác (nhạc cổ hay dân ca) theo kỹ-thuật hòa-âm Tây-phương để làm thành một tác phẩm của mình.
Vấn đề lấy nhạc ý trong dân ca để sáng tác không phải mới mẻ gì vì những nhạc sư như Béta Bartok hay Stravinsky đã từng làm. Gần tôi hơn hết là nhạc sư Dasius Milhaud, ông dùng một điệu dân ca miền biển để viết ra một bi nhạc kịch (không phải opéra): «Le matelot».
IV. A. Phổ biến nhạc. Về việc phổ biến nhạc Tây phương, tôi chỉ xin đưa ra vài ý kiến nhỏ. Hiện nay tôi không được rõ trình độ của quần chúng bên nhà đã đi đến trình độ nào.
1) Ở các nước Tây phương, Chính-phủ chú trọng về việc phổ biến nhạc (dĩ nhiên là hiện đại, vì dù sao đa số quần chúng cũng đã hiểu về nhạc lãng-mạn hay cổ điển). Ở Ba-Lê, hằng tuần có 3 hay 5 buổi hòa nhạc do «orchestre national», ban nhạc «philharmonique» của đài phát thanh, hay ban nhạc thính-phòng (orchestre de chambre) của đài phát thanh trình bày. Dân chúng đi nghe gần như không mất tiền (chỉ trả 0,50 F.) Những buổi hòa tấu này do Chính-phủ tổ chức. Ngoài ra còn có TNP (Théâtre nationale populaire) cũng do chính phủ tổ chức, nhằm mục đích nâng cao trình-độ hiểu biết của quần chúng. Vì vậy tôi thấy ở Việt-Nam nếu có phương tiện, Chính phủ cũng nên chú trọng về vấn đề này.
2) Tổ chức những buổi thuyết-trình về nhạc, nói về các nhạc phái cổ kim hay từng nhạc sĩ. Tôi nhận thấy mỗi khi hiểu rõ nhạc người ta sẽ thích nghe hơn.
3) Mở viện dĩa hát (discothèque) và một phòng nghe dành cho quần chúng.
Phát thanh cũng là một trong những phương-pháp phổ biến nhạc nhưng chương-trình phải được nghiên cứu kỹ. Ví-dụ trình độ am hiểu nhạc Tây-phương của quần chúng còn ở loại nhạc cổ-điển (thế-kỷ XVIII) thì từ từ chương-trình tiến dần đến nhạc lãng-mạn (thế kỷ XIX) và đưa đến nhạc ấn-tượng (cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX) v. v... Không nên quá chiều theo thị hiếu của quần-chúng vì sự tiến triển của một người hay một nhóm người bao giờ cũng dễ và nhanh hơn là của toàn thể dân chúng. Ví dụ Wagner trong sinh thời luôn luôn bị thất bại vì nhạc ông khó hiểu, quá mới và chú trọng nhiều về triết lý, mãi đến nay người ta mới bắt đầu hiểu Wagner. Nếu Wagner thuở ấy không dám viết quá cao thì hôm nay chúng ta không được niềm vui tìm hiểu một loại nhạc thâm-thúy như vậy (tôi rất tiếc không được phép nói nhiều thêm về Wagner ở đây, nhưng những ai đã đọc triết lý của Schopenhauer thì không thể không biết qua Wagner).
B. — Huấn luyện nhạc-sĩ. Vấn đề này do trường quốc-gia Âm-nhạc đảm-nhiệm, tôi chỉ xin góp ý-kiến là nên cho xuất-dương thêm sinh viên theo học ngành-nhạc. Thực ra nhạc không có ích-lợi thực-tiễn, nhưng địa vị âm-nhạc trong một nền văn-minh, hiện nay chẳng ai phủ-nhận.
Trong việc cho xuất-dương theo học ngành nhạc, cần chú trọng những môn nào ở Việt-Nam quá thiếu sót. Tôi có nhiều người bạn Nhật, Triều-Tiên v.v... học về nhạc-kịch (hát và đóng tuồng), tôi tự hỏi nếu mình viết ra một nhạc kịch thì ai sẽ trình bày? Vì Việt-Nam ta hiện nay chưa có ai theo học ngành này.
Tóm lại, trong bài này tôi chú trọng nhiều về loại «đại-nhạc» hay «nhạc cân não» (danh-từ hơi kỳ! nhưng dịch làm sao danh từ «grande musique hay musique cérébrale?»)
Tôi không nhắc đến nhiều về dân-ca hay nhạc cải-cách vì tôi thấy có lắm người chú trọng về loại này. Đối với tôi, ngoài dân-ca (dĩ nhiên đã có địa-vị trong nhạc Việt) nhạc cải-cách (có thể ví với loại nhạc giải-trí Tây-phương) nên được giữ lại cũng như ở bên Tây-phương này chẳng ai bài xích loại «variété». Một ví dụ dễ hiểu, trong lúc đi cắm trại hay trong buổi họp mặt của các bạn trẻ, họ sẽ hát gì? không lẽ đem Mozart hay Verdi ra hát? Nhưng điều cần nhất là nên chú trọng về phía lành-mạnh. Nhạc rền rĩ quá làm nhụt lòng người (như tôi đã thấy trong loại cải cách trước đây).
Công việc hiện nay là nên cố gắng xây-dựng, mỗi người đều tự-do trong ngành mình chọn vì trực tiếp hay gián tiếp, tất cả các ngành đều có ích cho một nền văn minh.
TÔN-THẤT-TIẾT
Chú thích (đều là của Nguyễn-Ngu-Í):
(1) Nhạc-trưởng Otto Soellner đã viết phê-bình về bài này: «Xin khen-tặng bản kiệt-tác của nhạc sư Nghiêm-Phú-Phi mà nội-dung sáng-sủa, tân-tiến. Lại rất điển-hình Việt-Nam. Cả Sài-Gòn chờ đợi ông rất nhiều». Còn nhà phê-bình Pháp Michel Piclin cũng đề lời phê-bình bài ấy: «Đó là một tác-phẩm nồng nhiệt, màu sắc và rất hay. Một tác phẩm rất thành công». (Lời chú thích này thuộc phần trả lời của Nghiêm-Phú-Phi; các chú thích còn lại dưới đây thuộc phần trả lời của Tôn-Thất-Tiết.)
(1) Số 152, ngày 1-5-1963.
(2) Symphonie: hòa tấu khúc, concerto: hợp tấu khúc, (theo «Danh từ âm nhạc» của Lê-Thương).
No comments:
Post a Comment