Mời bạn đọc theo dõi "Featured Post":

Giáo Sư Đào Mộng Nam: Truyện Kiều Và Chữ Nho

Showing posts with label George E. Gauthier. Show all posts
Showing posts with label George E. Gauthier. Show all posts

8.27.2026

Một vài cảm nghĩ về loạt bài của Georges E. Gauthier viết về Phạm Duy

L.T.S. Sau bài chót của Gauthier « nghĩ về nghệ thuật Phạm Duy » (B.K. 375) chúng tôi đã nhận được bài của một bạn đọc trẻ — Ô. Lê Đông Yên — muốn « đáp lễ » cùng Gauthier. Mặc dầu sự « thích » và « không thích » của người viết rất chủ quan và có hơi khắc nghiệt đối với nhạc Phạm Duy — trong 15 năm trở lại đây ông chỉ ưa được có 3 bài của tác giả Tâm ca, Đạo ca... — nhưng ông bày tỏ cảm nghĩ rất thành thực. Chúng tôi vui lòng giới thiệu cùng bạn đọc những cảm nghĩ thành thực này coi như chấm dứt loạt bài về nhạc Phạm Duy đã đăng trên Bách Khoa hơn một năm nay.

Tôi đã theo dõi loạt bài của G.E. Gauthier viết về nghệ-thuật Phạm-Duy, suốt từ đầu đến cuối, không phải là không có ít nhiều chật-vật. Số là trong thời gian còn ở quân ngũ, nhiều khi không thể tìm được một cuốn Bách-Khoa suốt cả tháng trời. Bách-Khoa là một tạp chí thuộc vào loại chọn lọc nên không dễ gì kiếm được ở các thị trấn lẻ mỗi khi có dịp ghé qua. Dù vậy, như đã nói, tôi đã đọc trọn vẹn những bài viết của G.E. Gauthier. Phải nhận rằng nếu loạt bài trên được viết bởi một người Việt-Nam, dù người đó là Tạ Tỵ đi chăng nữa, nó cũng không thể có tính cách hấp dẫn bằng loạt bài của nhà nhạc-học trẻ tuổi người Gia-Nã-Đại nọ.

Đọc Gauthier tôi chắc người Việt-Nam nào cũng cảm nhận ít ra là đôi chút hãnh diện. Tôi đã xúc động và rất hãnh diện khi đọc loạt bài của ông. Mặc cảm thua kém của người dân nhược tiểu khiến tôi có niềm hãnh diện đó. Từ trước tới nay, hầu như chưa có nghệ sĩ Việt-Nam nào, còn sinh tiền, được một người ngoại quốc dành cho nhiều cảm-tình ưu-ái làm vậy. Và dù rằng Phạm-Duy là một nhạc sĩ đã gây được tiếng tăm quốc-tế, và G.E. Gauthier, thì cho đến những ngày gần đây — những ngày ông bắt đầu viết về Phạm Duy — mới được một số không mấy đông đảo người Việt-Nam biết tới, tôi vẫn coi thường chuyện đó và vẫn lấy làm hãnh diện vì Gauthier đã viết về một đồng bào tôi.

Với vài dòng cảm nghĩ phiến diện này, không bao giờ tôi dám liều lĩnh đặt chân vào lãnh vực nhạc học, một lãnh vực mà tôi rất dốt. Song chỉ để nói lên một vài ý nghĩ nho nhỏ, một sự đóng góp khiêm nhượng bên cạnh những ý-kiến sâu sắc của G.E. Gauthier. Gauthier có thể coi đây như một sự « đáp lễ » — sau sự «đáp lễ» của chính Phạm Duy — của một độc giả Việt Nam tầm thường.

Cảm nghĩ đầu tiên của người viết: G.E. Gauthier là một người chân-thành ngưỡng-mộ Phạm-Duy. Sự ngưỡng-mộ ấy có ảnh-hưởng đến tính cách vô-tư của một nhà phê-bình hay không, chúng ta không bàn tới ở đây. Tác giả loạt bài về Phạm-Duy đã không hề hà-tiện khi dùng những từ-ngữ này để thẩm định giá trị nghệ thuật nhạc sĩ: vĩ đại, tuyệt hảo, tuyệt diệu, tuyệt vời, thiên tài, tài tình, tài ba, cực đẹp... Và những từ-ngữ đó áp dụng cho hầu hết cuộc đời sáng-tác của Phạm-Duy. Gauthier không ngần ngại thổ lộ: « ...Khi xét về giá trị thực sự của Phạm-Duy của những năm gần đây, tôi đã không tiếc lời tán-thưởng nồng-nhiệt... » (Bách-Khoa, số 375, trang 39: Mấy lời kết thúc). Chúng tôi không có ý nói rằng Gauthier nhắm mắt khen càn tất cả mọi tác-phẩm của Phạm-Duy. Độc giả theo dõi loạt bài của Gauthier, hẳn phải nhận thấy ông cũng đã đưa ra những nhận xét về một vài chỗ yếu trong nghệ-thuật Phạm-Duy. Song phải nhận rằng tác-giả đã khá dè dặt, như ông đã từng cho biết: «...khi xét đến một vài nhược-điểm của Phạm-Duy hiện tại, tôi đã hết sức công bình...» và «...để cập đến vấn đề các nhược-điểm hiện tại của Phạm-Duy, tôi vẫn có sự dè-dặt...» (Bđd †). Là độc giả Việt-Nam, chúng ta không nên nghi ngờ sự công bình của tác-giả. Chúng ta cũng hoàn toàn cảm thông với thái độ thận trọng và dè-dặt của tác-giả. Song có lẽ chúng ta còn phải học hỏi tác giả nhiều trên phương-diện phát-hiện cái đẹp của nhạc Phạm-Duy.

Thính-giả Việt-Nam, loại thính-giả tương đối chọn lọc, theo nhận xét của riêng tôi, rất yêu mến Phạm-Duy khi ông sáng tác những ca khúc như: « Tiếng hát sông Lô », « Bà mẹ Gio-Linh », « Về miền Trung », Trường ca « Con đường Cái quan » (1) và một số bài Dân ca khác. Những nhạc phẩm rất được ưa chuộng này hầu hết được sáng tác trước năm 1955. Đó là một vài ca khúc mà nếu không quá khe khắt, chúng ta có thể liệt vào hạng bất hủ. Nhưng còn những sáng tác gần đây, khoảng 15 năm trở lại đây, của Phạm-Duy thì sao? Nói theo kiểu thống-kê, ta thấy có hai ca khúc « có vẻ » được ưa chuộng nhất, được truyền bá sâu rộng nhất là bản « Huyền sử ca: Một người mang tên Quốc » và bản « Kỷ vật cho em ». Cho được thêm đầy đủ, còn phải kể « Giọt mưa trên lá » nữa chứ. Chúng tôi có nên hấp tấp khẳng định rằng cả ba nhạc-phẩm trên đều dần dần mang số phận những bản nhạc thời trang — mặc dầu lừng lẫy một thời — nhưng rồi cũng lần hồi đi vào quên lãng? Dĩ nhiên giá trị đích thực của một nhạc phẩm không phải là vấn đề nó có được phổ biến sâu rộng hay không. Chỉ có thời gian mới có quyền phán-quyết chung thẩm. Nhưng quả thật chúng tôi đã yếu lòng tin ở G.E. Gauthier khi chúng tôi nghi ngờ giá trị của những tập nhạc mà Phạm-Duy cho xuất bản khá đều đặn trong thời gian gần đây, từ Tâm ca, Đạo ca, Tục ca và còn gì gì nữa. Chúng tôi không dám chê những tác phẩm nêu trên. Sở học non kém về âm-nhạc của chúng tôi không cho phép tìm ra những nhược-điểm về kỹ-thuật và nghệ-thuật trong số đông đảo tác phẩm kể trên. Chúng tôi chỉ « không thích » chúng. Xin nhắc lại một lần, đây chỉ là những « cảm nghĩ ». Và chính vì luôn luôn tự nhận thiếu con mắt tinh đời, thiếu khiếu thẩm mỹ tinh-tế, nên lại xin nhắc lại một điều khác: Chúng ta còn phải học hỏi G.E. Gauthier nhiều trên phương-diện thưởng-thức nhạc Phạm-Duy.

« Sẽ không có ai kế nghiệp Phạm-Duy cả. » Mở đầu « Mấy lời kết thúc » (Bđd, trang 37), G.E. Gauthier đã viết như vậy.

Tôi hoàn toàn đồng ý với Gauthier khi ông nhận định rằng sẽ không có ai kế-nghiệp Phạm-Duy, cũng như không có ai « đã thực sự kế-tục Mozart, Beethoven, Schubert hay Chopin cả » (Bđd, trang 37). Sự đồng ý trên đưa đến hệ-luận này: «...Không hề có một dấu hiệu gì tỏ ra có một Phạm-Duy thứ hai đã ra đời ở Việt-Nam ». Tới đây, ý kiến của tác-giả đã khiến tôi dè dặt hơn. Tác-giả giả-thuyết có một kẻ kế-tục Phạm-Duy, thì kẻ ấy «...phải có nơi mình cả một thiên-tài của Phạm-Duy lẫn kiến thức nhạc học uyên-bác của ông, ấy là chưa kể nhiều điều-kiện khác nữa». (Bđd, trang 37).

Nếu tôi không quá nông-nổi đến nhận xét sai lầm ý định của tác-giả khi viết những giòng trên, thì có thể nói: Gauthier cho rằng hiện nay ở Việt-Nam chưa thấy xuất hiện một mầm non âm nhạc có thể đạt tới mức độ nghệ thuật tương đương với Phạm-Duy trong tương lai. Tôi dám đưa ra nhận xét này vì chính Gauthier đã khẳng định: «...Và lại bầu không khí chung của cả nước Nam đã từ quá lâu trở nên hỗn độn, khó cho phép xuất hiện một thiên tài nghệ thuật mới» (Bđd, trang 37). Và để củng cố thêm luận-cứ mình, tác giả viết: « những cơ hội đã tạo nên cuộc đời của một Phạm-Duy đều quá ư đặc-biệt và độc đáo, khó bề tái diễn một lần thứ hai...» (Bđd, trang 37).

Người Việt-Nam chúng ta nếu có đủ lòng tin để không nghi ngờ những nhận xét của G.E. Gauthier hẳn phải rơi vào trạng thái tuyệt vọng kinh khủng. Bạn đọc ạ! Đầu con đường tiến thủ của chúng ta, trên bình-diện nghệ thuật, là bóng dáng lừng-lững của Phạm-Duy vĩ-đại. Chúng ta không có hy vọng vượt qua ông được. Ngang hàng cũng không. Vì sao? Vì « bầu không khí nước ta quá hỗn độn. » Mặt khác, chúng ta thiếu những cơ-hội để tạo cho đời ta về « đặc-biệt » và « độc đáo », mặc dù đôi khi lần thần, chúng ta nghĩ rằng hoàn cảnh cực kỳ xáo trộn hiện nay chính là một cơn « đau đẻ », một cái lò đào luyện nhân tài... Nếu đúng như Gauthier nói thì thế hệ thanh thiếu niên chúng ta hiện tại quả là tầm thường. Sẽ không có nghệ sĩ tài ba nào xuất hiện trong tương lai vài chục năm nữa!... Tôi nói « nghệ sĩ » mà không dùng từ ngữ « nhạc sĩ » vì chính Gauthier đã không cần dè dặt để chỉ giới hạn trong phạm vi âm nhạc: « khó cho phép xuất hiện một thiên tài nghệ thuật » (Bđd).

Đã có đoạn, Gauthier viết: «...tôi biết mấy năm gần đây có đôi ba người tưởng rằng một nhạc sĩ trẻ Việt-Nam nào đó sẽ là kẻ kế tục Phạm-Duy» (Bđd trg 137). Nếu tôi không lầm, người nhạc-sĩ trẻ có hân hạnh được Gauthier nhắc tới ở đây không ai khác hơn là Trịnh-Công-Sơn. Cứ cho rằng tôi sai lầm trong việc chẩn đoán ý định của tác giả, chúng ta cũng nhân cơ hội này lạm bàn về Trịnh-Công-Sơn đôi chút. Nếu sự lạm dụng này có bị cho là một « tham vọng ấu trĩ » để tìm cách trả lời sự khẳng định của Gauthier về sự kém cỏi của giới thanh niên Việt Nam hay chăng, điều đó lại là chuyện khác.

Như chúng ta từng biết, Trịnh-Công-Sơn đã bắt đầu gây được sự chú ý của một số người ngay từ những năm 1962, 63 (hay sớm hơn nữa, điều này người viết không được rành rẽ lắm, xin quí vị bổ khuyết). Từ đó đến nay kể được là 10 năm và càng ngày anh càng tự tạo cho mình một địa vị vững chắc trong giới âm nhạc. Có thể nói ở Việt Nam, cổ kim chưa có một cá nhân nào, bằng vào tài năng của mình, gây được một sự chú ý của một quần chúng đông đảo như vậy trong một thời gian ngắn ngủi như vậy. Và ở đây cùng với sự chú ý là sự mến mộ, sự trọng vọng. Dĩ nhiên vẫn có trường hợp thừa trừ.

Nhạc sĩ Trần-Trịnh — tác giả nhạc phẩm « Lệ đá », một nhạc phẩm khá nổi tiếng — khi trả lời một bài phỏng-vấn trên nhật-báo « Xây-Dựng », đã cho rằng lời ca của Trịnh Công Sơn đẹp như những bài thơ. Nhưng — tai hại thay cho Sơn — ông cũng liền xác định: Trịnh-Công Sơn chưa rành nhạc lý. Nhiều bản nhạc viết sai nhạc pháp một cách ấu trĩ. Cuối cùng Trần Trịnh cho rằng Trịnh-Công-Sơn nên làm một thi sĩ hơn là một nhà soạn nhạc.

Tôi dốt nhạc lý (lại một lần nữa thú nhận), nên cũng chẳng tìm cách kiểm lại những điểm sai lầm về nhạc pháp mà Trần Trịnh nêu lên trong nhạc phẩm của Sơn. Tôi nhắm mắt chấp nhận lời phê bình của Trần Trịnh và trong khi thấy Sơn ngày càng nổi tiếng, càng được ưa chuộng, tôi vẫn thường thắc-mắc: Không hiểu anh chàng này còn đặt nhạc sai nữa hay không?

Nhưng tại sao Sơn viết nhạc sai mà vẫn gây được tiếng tăm lừng lẫy? Và giới thưởng ngoạn nhạc Sơn không phải chỉ là giới bình dân. Những người yêu Sơn, trước hết phải kể là những sinh-viên, những người trí thức. Tóm lại là những người có một trình độ âm nhạc không mấy thấp kém.

Nên coi Trịnh Công Sơn như một hiện-tượng chăng? Nhưng một hiện-tượng chỉ nổi lên nhất thời rồi chìm vào quên lãng — nói theo kiểu nhà văn Duyên Anh. Trịnh Công Sơn đã nổi tiếng hơn mười năm nay và trong một tương lai trông thấy, chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ Trịnh Công Sơn đang bị lãng quên.

Cuộc kháng chiến chống Pháp là cuộc chiến «có bài ca» — để dùng lại ngôn ngữ của Giáo sư Nguyễn văn Trung. Và Phạm Duy đã là một trong những nhạc sĩ có những sáng tác tuyệt-diệu nhất phụng sự cuộc kháng chiến đó. Cuộc chiến hiện tại «không có bài ca» — nói theo ông Nguyễn trọng Văn. Nhưng những nạn nhân chiến cuộc vẫn có những bài ca. Trịnh Công Sơn đã sáng tác những bài ca cho đông đảo quần chúng khốn khổ này... Nhưng ta cũng không nên quên hiện tại có không ít nghệ sĩ đi cùng một đường lối với Trịnh Công Sơn. Và tại sao họ đã không giữ được địa vị như Sơn? Trịnh Công Sơn đã nói lên, thay chúng ta, những nỗi cơ cực của chiến tranh, những khó khăn của giống dân nhược tiểu da vàng. Điều đó đúng. Nhưng điều đó không đủ để khiến Sơn nổi tiếng. Cho thấy, ít ra, trong những tác phẩm của Sơn, phải có một giá trị nghệ thuật nào đó. Và lại ở Sơn không phải chỉ là loại nhạc « thân phận » hoặc « chống đối này nọ ». Theo thiển ý, những « Tình xa », « Tình nhớ », « Diễm xưa »... mới chính là những nhạc phẩm thành công nhất của Sơn.

Gauthier nghiên cứu và hiểu nhạc Phạm Duy đã có thể nói là đến nơi đến chốn. Đọc ông, ta còn khâm phục ông về sự hiểu biết khá rành rẽ về văn hóa và tâm tình Việt-Nam. Dù sao có những vấn đề Việt-Nam, theo tôi nghĩ, phải là người Việt-Nam mới thấu triệt nổi.

Tại Gia Nã Đại cũng như tại các nước Tây phương tiền tiến khác, người dân sống trong thanh bình và tự do đã từ bao thế-hệ. Ở một nước như quê hương của Gauthier, hễ người có tài là có dịp tiến thân, có dịp nổi tiếng không ai ngăn cấm một thiên tài phát hiện tài năng của mình, dù người ta thấy tác phẩm của y có thể phương hại tới «nền an ninh quốc gia và trật-tự công cộng». Nhưng ở Việt-Nam thì lại khác. Vì hoàn cảnh cực kỳ xáo trộn hiện tại, một số không nhỏ nghệ sĩ Việt-Nam có khuynh hướng «trùm chăn», âm thầm sáng tác và chờ thời. Như thế, nhiều tác phẩm đã ra chào đời nhưng hầu như không bao giờ được đông đảo quần chúng biết tới. Trong số những tác giả «mai danh ẩn tích» nọ, ta có thể quả quyết tất cả họ đều vô tài bất tướng chăng?

Nhiều người đã nhìn vào thị trường văn nghệ quá tiêu điều của nước Việt-Nam hiện nay để cho rằng nó nghèo nàn, hết sinh khí. Trong tình trạng chợ chiều ế ẩm đó, thật là dễ dàng để đi đến kết-luận rằng không có một dấu hiệu nào chứng tỏ có một tài năng đang vươn mình đứng lên.

*

« Một vài cảm nghĩ... » như vậy kể cũng đã dài. Kiểm soát lại tôi tự hài lòng vì đã không đề cập tới lãnh vực chuyên môn của nhạc học. Nếu có liều lĩnh bày tỏ một vài ý nghĩ về một số tác phẩm nào đó, thì cũng chỉ hoàn toàn đứng ở cương vị một người thưởng ngoạn âm nhạc tài tử mà thôi. Sự hời hợt — hẳn có — ở đây mong được hưởng trường hợp giảm khinh.

G. E. Gauthier đã dành trọn vẹn cảm tình cho Phạm-Duy. Thiện cảm của ông đối với nước Việt Nam cũng không phải không sâu đậm. Ông đã xác nhận nhiều lần điều đó trong loạt bài của ông. Tôi viết « Một vài cảm nghĩ... » với ý hướng đầu tiên là đáp lại tình cảm ưu ái của Gauthier dành cho chúng ta. Không ngờ khi soát lại những điều mình đã viết, tôi bỗng nảy mặc cảm như là mình đã « lấy oán báo ân ». Những cảm nghĩ của tôi dường như không được đẹp đối với Gauthier. Lời lẽ của tôi đâu đó dường như đã tiến tới tính cách châm biếm mỉa mai. Dù sao, tôi quyết định giữ lại những điều mình đã viết. Đây không hề là chiến thuật đi đến một thái độ cực đoan để mong gây một phản ứng nào đó. Tôi chỉ muốn thành thật với Gauthier và với chính tôi. Tôi ước ao điều đó có lợi hơn là tìm cách bọc quá nhiều đường cho một viên thuốc đắng.

LÊ ĐÔNG YÊN

(Phan Thiết 25-VII-72)


(†) Bđd: Bài đã dẫn.

(1) L.T.S. Trường ca « Con đường cái quan » ra đời năm 1959.


Nguồn: tạp chí Bách Khoa, số 377, trang 45–50.

8.24.2026

Bài đáp lễ của Phạm-Duy (tới George E. Gauthier): Tri ân người tri âm

Xem loạt bài của George E. Gauthier ở đây: https://phamduy.com/category/viet-ve-pham-duy/mot-nguoi-gia-na-dhai-va-nghe-thuat-cua-pham-duy/.


Tôi sẽ không bao giờ dám viết gì thêm vào loạt bài của Georges Etienne Gauthier nếu tôi không tìm thấy, ngay từ khi mới quen anh cũng như suốt hai năm đọc anh, ngoài mối thiện cảm anh dành cho tôi còn có mối tình rất lớn anh gửi đến quê hương tôi, đến đồng bào tôi. Sự kiện đó đã khiến tôi phải viết những dòng này, trước là để tri ân một người bạn tri âm, sau là để nói thêm với Georges về đất nước và những con người đã nâng đỡ, đã chăn vỗ kẻ ca nhân từng làm cho một người Gia Nã Đại phải chú ý...

Tôi lúc nào cũng cho rằng phải có đủ ba yếu tố để làm nên sự thành công của một nhạc phẩm: 1) giá trị bản thân của tác phẩm - 2) tài năng của nghệ nhân và sự hoạt động tích cực của cơ quan phổ biến tác phẩm - 3) sự biểu đồng tình của người nghe! Yếu tố thứ ba là yếu tố quan trọng nhất!

Thực vậy! Là một nghệ nhân có nhiều cơ hội đi hát ở khắp nơi trong nước và suốt mấy chục năm qua, tôi nhận thấy quần chúng đóng góp nhiều nhất vào sự thành công của ca nhạc. Ví dụ, sở dĩ những ca khúc của những ngày tiền và hậu Cách-Mạng (cũng là lúc tôi chập chững bước vào đời ca nhân) được thành công dễ dãi, đó là vì tự trong lòng quần chúng Việt-nam lúc bấy giờ đã có tiếng nhạc réo lên rồi! Lưu Hữu Phước, Văn Cao hay tôi lúc đó chỉ làm công việc so giây đàn, lựa lời ca cho phù hợp với bản hợp tấu vĩ đại đã nằm sẵn trong lòng dân. Về sau này cũng thế, những năm 50 vẫn cho ta thấy có sự hòa dịu, hòa nhịp giữa lòng dân và nghệ sĩ, và nếu những năm đầu của thập niên 60 có là những năm lỏng lẻo giữa đôi bên thì trước khi bước sang thập niên 70, ta cũng đã thấy vẳng lên một tiếng hát chung của những con tim quần chúng và nghệ sĩ, tuy rằng lần này với một giọng buồn của một thứ cung oán ngâm khúc thời nay. Tôi muốn nói những điều này với Georges để mời anh có dịp ra khỏi tác giả và tác phẩm trong việc nghiên cứu nhạc Việt, cũng như để anh sẽ đỡ thắc mắc khi thấy rằng gần đây và có thể mai đây có tác phẩm hay tác giả tốt mà không thể vươn lên được, bởi lẽ lòng người nghe còn ngủ...

oOo

Thái Thanh quả là yếu tố thứ hai tuyệt vời của yếu tố thứ nhất! Thế nhưng Georges cũng phải biết lòng tri ân sâu xa của tôi đối với những nhà hòa âm phối khí, nhạc trưởng như Trần văn Lý, Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Hồ Đăng Tín, Văn Phụng, Hoàng Trọng, Võ Đức Tuyết, Lê văn Thiện, Otto Soelner... là những người đã hết lòng thêu hoa dệt gấm cho những đơn điệu nghèo nàn của tôi! Ngoài ra những giọng vàng của ngày xưa (cũng chẳng xưa gì lắm!) như Anh Ngọc, Duy Khánh, Kim Tước, Châu Hà, Mộc Lan... cũng không phải là không quan trọng trong việc giới thiệu nhạc Việt nói chung, nhạc Phạm Duy nói riêng, với thiên hạ, trong nước hay ngoài nước. Phải nhìn vào sinh hoạt ca nhạc hiện nay (1972) nhìn vào thành phần nhạc trưởng, ca sĩ thì mới thấy lề lối làm việc, tinh thần trách nhiệm, khả năng ca diễn của các vị kể trên là đáng quý như thế nào!

Lại còn phải nói đến một tinh thần Mạnh thường Quân rất cao độ của những ngày trước, rất cần thiết cho sự phát triển âm nhạc, qua sự đãi ngộ đúng mức của vài vị trưởng đài phát thanh (lúc đó là cơ quan duy nhất có khả năng phổ biến âm nhạc) và nhất là khiếu thẩm âm cao của những người chủ xướng các mục Văn Học-Nghệ-Thuật, Nhạc Chủ Đề, Tuần Báo Nghệ Thuật Truyền Thanh như Phan lạc Phúc, Nguyễn đình Toàn, Nguyễn quang Hiện, Vũ trành An, Trần dạ Từ, Vũ Dzũng... Nếu không có sự tích cực của những vị Mạnh thường Quân đó, ca nhạc không sống mạnh được và ca nhân cũng chỉ sống thoi thóp mà thôi!

Tôi nói ra đây những điều này để Georges Gauthier và để cho những người đọc loạt bài Một người Gia Nã Đại và nghệ thuật của một nghệ sĩ Việt Nam biết rằng loạt bài đó chính là sự ca tụng chung tác giả, tác phẩm, nghệ nhân, những người đóng góp vào việc phổ biến tác phẩm và trên hết, cái quần chúng vô danh đã tham gia vào tác phẩm!

Thực tình ra, sau khi được bạn bè đưa lên bàn mổ trong mấy năm qua, sau khi, nói như Xuân Diệu thời xa xưa, gặp lại lòng mình qua những trang sách báo viết về thân thế và sự nghiệp đó, tôi chỉ thấy trong lòng mình một nỗi buồn vô hạn... Tôi vốn là một kẻ sống vội nên ít khi ngoái nhìn về dĩ vãng. Bản tính lại rất hay quên (Georges Gauthier thường rất ngạc nhiên khi biết rằng có nhiều bài hát đã bay ra khỏi trí nhớ tôi, chẳng hạn một số bài tiền chiến và kháng chiến) và cũng rất thích quên (để đỡ đi lại vết mòn)! Bây giờ, đột nhiên phải nhớ lại, sống lại những thời đã qua, qua người khác! Trong khi tôi chỉ muốn có thể xóa đi tất cả những gì mình đã làm, để... xin đi lại từ đầu! Bây giờ thì tôi hiểu câu nói của Hélène, người bạn của 25 năm trước: «Ước gì đời mình được như chiếc áo len, để có thể tháo ra, đan lại!»

Bởi vì làm sao mà Georges có thể biết được sự tủi nhục của kiếp ca nhân ở một nước tan tác này? Làm sao người bạn ở xứ tuyết trắng trong lành kia có thể biết được những mặc cảm phạm tội mà suốt ba mươi năm qua người ca nhân nào ở nơi đâu sôi lửa bỏng này cũng phải đeo trên cổ? Xưng tụng ái tình thì lo bị kết án bi lụy! Hát mơ hòa bình thì sợ bị tội phản chiến! Mặc quần áo đẹp hát ở nơi cao sang hay mặc quần áo đen hát ở giữa chợ cũng có thể bị nghi ngờ là làm chánh trị! Chuyện phi lý và nực cười. Nực cười nhất là hiện nay, ở đây nghề ca hát ở nơi công cộng là nghề quốc cấm!

Tuy nhiên để cho những bài viết của Georges không phải là vô ích, con người đã từng vác cây đàn thập tự, sẽ phải vác đàn đi nốt quãng đường cuối của đời hắn. Lần này, với hình ảnh của một người bạn tri âm ở trong lòng. Hơn nữa, để cho anh thanh niên ở cách Việt Nam một vài đại dương và một vài lục địa được yên tâm về số phận của quê hương chúng ta (anh đã xin nhận Việt Nam làm quê hương, nói theo kiểu Nguyễn đức Quảng), hòa bình đã le lói ở cuối đường hầm rồi! Người nghệ sĩ nào đã chọn lựa khóc cười theo mệnh nước thì đã đến lúc hắn có thể hát cười vui được rồi! Nhất là khi hắn vẫn còn rất nhiều tin tưởng vào dân tộc hắn, và nếu từ nay hắn có mất đi những cuộc phiêu lưu tình ái nào đó thì hắn vẫn còn nhận rất đầy đủ ân tình ở người vợ hiền, một ngày nào sẽ vuốt mắt hắn cũng như đã từng khuyến khích, vỗ về, tha thứ hắn hơn nửa đời qua.

Tưởng cũng nên tri ân anh Lê Ngộ Châu đã để cho một người Gia Nã Đại và một người Việt Nam quá lạm dụng diễn đàn chung và xin những độc giả Bách Khoa nào phải đọc những dòng này, rộng tình tha thứ cho một kẻ chưa bao giờ có một tham vọng nào ngoài ý muốn đóng góp vào nỗi buồn vui của thời đại.

PHẠM DUY


Nguồn: tạp chí Bách Khoa, số 376, trang 53–55.

OCR từ bản scan bời Claude Sonnet AI. Học Trò ra đề và duyệt xét lỗi nếu có - Tháng 8 năm 2026.


  Summary: This is Phạm Duy's "Tri ân người tri âm" ("Bài đáp lễ của Phạm-Duy"), published in Bách Khoa số 376, trang  53–55 (1972) — his open-letter response to Georges Etienne Gauthier's series on him. He credits three factors behind a  song's success (the work itself, the performers, and — most important — the audience's response), thanks Thái Thanh,  his arrangers/conductors (Vũ Thành, Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Hoàng Trọng, etc.), the earlier generation of singers,  and the radio-era patrons who championed Vietnamese music; then turns personal — his own fast-forgetting nature, a  friend's line about wishing life could be unraveled and reknit like a sweater — and closes reflecting on the guilt and  absurd suspicion faced by a "ca nhân" (singer) in wartime Vietnam, before thanking Lê Ngộ Châu for hosting the exchange. Signed PHẠM DUY.