7.25.2026

Phạm Duy Trọn Đời Khóc Cười Theo Vận Nước

Tuấn Huy

(Văn Học số 21, tháng 10/1987, trang 136–141)

"Nhạc phải là chấp cánh bay lên, dù là nhạc buồn..." Một lần nào đó, Phạm-Duy đã viết hoặc đã nói như thế. Một lần nào đó, trong cái đời sống nghệ thuật chập chùng và chữ nghĩa rối rắm, tôi đã ngồi thật lâu, rất lâu, trước Phạm-Duy. Một Phạm-Duy thật trẻ trung, thật nhiệt-thành, thật ồn ào, thật sống động. Một Phạm-Duy rất nhấp-nhổm, rất bồn chồn, rất náo nức, rất hăng say...

Thời gian đó, cách đây đã là 30 năm. Bên hàng hiên nhà hàng "La Pagode" Sàigòn, mỗi buổi chiều, bọn văn nghệ sĩ chúng tôi, thường không hẹn mà nên, cùng ra "họp mặt" với nhau, ở những chiếc bàn, những chiếc ghế màu đỏ, kê ngay trên vỉa hè đường Lê-Thánh-Tôn, dưới bóng mát của những tàng me xanh nõn. Có đủ những khuôn mặt đang sáng chói của nhiều bộ môn: Những Thanh-Nghị, Cung-Trầm-Tưởng, Ngy-Cao-Uyên, Hoàng-Trọng-Miên, Lê-Trọng-Nguyễn, Hà-Thúc-Cần, Hoàng-Thư, Đinh-Hùng, Trần-Lê-Nguyễn, Phan-Nghị, Lý-Hoàng-Phong, Quách-Đàm, Tô-Kiều-Ngân, Văn-Quang, Thái-Thủy, Thanh-Nam, Trịnh-Viết-Thành...

La Pagode từ góc nhìn công viên Chi Lăng.

Nguồn: NHỮNG QUÁN CAFE HUYỀN THOẠI CỦA NGƯỜI SÀI GÒN TRƯỚC 1975

Giữa những anh em bằng hữu, Phạm Duy ngồi xuống chiếc ghế trống mà mọi người đã dành sẵn cho anh. Anh bỏ đôi kính ra, nhìn một lượt, cùng với nụ cười rất hóm hỉnh và cũng rất thân thiết. Rồi, anh nói đùa với Thanh-Nghị, với Cung-Trầm-Tưởng. Rồi anh nheo mắt với Hà-Thúc-Cần, với Hoàng-Thư. Rồi, anh chụm môi lại. Hai hàm răng xít vào nhau. Đầu lưỡi anh đặt nghịch ngợm xát hai hàm răng ấy. Vài tiếng gần như hít-hà, gần như chép miệng, tiếp nối nhau. Những tiếng động phát ra thật quen mến và thân mật...

Tôi không nhớ rõ, hồi đó có phải Phạm-Duy đang làm việc ở trung-tâm Điện-Ảnh Quốc-Gia không? Nhưng thường thường, khoảng giờ đó, anh thường ra "cà kê dấu hót" với anh em, uống một ly trà-sữa, thăm hỏi người này, trêu chọc người kia — độ nửa tiếng hay một giờ đồng hồ, rồi chép-chép miệng vài tiếng, rồi đứng bật dậy, nói: "Thôi nhé... Moa phải đi nhé... Mai gặp..."

Chiếc xe hơi màu vàng cùng khuất dạng với những lớp bụi và những cánh lá me bay. Nhưng lần nào đến với anh em, Phạm-Duy cũng thế. Vui vẻ như thế. Hồn nhiên như thế. Ranh mãnh như thế. Và hóm hỉnh như thế...

Phần tôi, tôi thường quan sát Phạm-Duy qua những câu nói, qua những cái nhìn, qua những điệu bộ của anh, để thấy một con người khác, trong tác-giả những tình-khúc tuyệt vời đang được tất cả mọi người mến yêu, ngưỡng mộ... Phải thành thật mà nói, ở ngoài đời, Phạm-Duy không có gì "vĩ đại" như tài-năng của anh, không có gì "vĩ đại" như nguồn hứng-cảm của anh, và cũng không có gì "vĩ đại" như tâm-hồn một con người có những rung-động-bén-nhậy-vô-cùng của một nhạc-sĩ trọn đời khóc cười theo vận nước...

Vậy mà, Phạm-Duy là một nhạc-sĩ vĩ-đại. Trước anh và sau anh, trên dòng âm-nhạc đầy tình tự dân-tộc, chưa có một nhạc-sĩ nào sáng-tác nhiều như anh, sáng-tác về đủ mọi thể loại như anh, và sáng-tác thành công tốt đẹp như anh.

Thật vậy, ba bốn thế hệ đã được nghe Phạm-Duy giãi-bày những tâm-cảm-nóng-bỏng của anh, qua hơn một ngày ca-khúc. Từ những tình-ca, những tâm-ca, những đạo-ca, những trường-ca, những ngục-ca, nguồn cảm-hứng của Phạm-Duy như một dòng trường-giang chảy thao thiết không hề ngưng nghỉ, bên những tình-yêu, bên những hạnh phúc, bên những khổ đau, bên những hy vọng, bên những hăng-say, bên những chán-ngán, bên những thống-hận, bên những nhục nhằn, bên những chia lìa, bên những ê-chề, bên những cay đắng, bên những ngậm ngùi, bên những nuối tiếc, bên những mong-tìm, bên những chờ đợi, bên những thương-mến, bên những sót-xa của cả một dân tộc.

Khi thong-thả, khi êm-ái, khi tha-thiết, khi mát-mẻ, khi nồng-nàn, khi đau đớn, khi chậm rãi, khi nỉ-non, khi vỗ-về, khi buồn-tủi, khi lâng-lâng, khi ấm-áp, khi cuồn cuộn, khi rã rời... Nhạc Phạm-Duy đã thấm vào mọi tâm-hồn, đã loang-khắp mọi trái tim, đã đọng lại trên những nụ cười, và đã tan trôi cùng những giọt lệ.

Cũng vậy, từng nét nhạc Phạm-Duy bay bổng tới các vòm trời, hòa lẫn trong không khí, để người Việt-Nam hít thở — rực rỡ trên những cành mai, lấp lánh trên những giọt mưa, long lanh trên những sợi nắng, hắt hiu trên những lớp gió, quạnh quẽ trên những giải sương, lênh đênh trên những đám mây, đầm đìa trên những rẻo đất, nồng thơm trên những cát bụi, man mác trên những rong rêu, thênh thang trên những đồng cỏ, bát ngát trên những vịnh biển...

Cũng vậy, từng lời ca của Phạm-Duy, rất đẹp, rất thơ, rất tình, rất mộng, rất bình dị, rất cao-siêu, rất giản đơn, rất thanh thoát, rất thân quen, rất lạ-lẫm, rất bóng bẩy, rất chân phương, rất êm đềm, rất quằn quại, rất hùng mạnh, rất buông lơi, rất phảng phất, rất mong manh, rất mơ hồ, rất hình-tượng, rất phong phú, rất mông lung, rất bình thường, rất cao cả, rất thánh thiện, rất lõa-lồ, rất thong-dong, rất hối hả, rất tục, rất thiền...

Tất cả, Phạm-Duy đã mở ngỏ tấm lòng của một con người Việt-Nam, và bày tỏ tấm lòng ấy đối với quê-hương, đối với đất nước, đối với dân tộc, đối với cuộc đời... Và điều may mắn cho anh, cũng là một điều may mắn cho âm nhạc Việt — là, những điều anh nói ra, những điều anh bày tỏ, những điều anh phản ảnh, những điều anh thao thức — đã được mọi người lắng nghe một cách trang trọng, một cách say sưa, một cách cảm thông, một cách quan thiết, cho nên, có thể nói, nhạc của Phạm-Duy suốt 45 năm qua, đã sát liền cùng với vận nước thăng trầm trôi nổi. Từ những vinh quang cho đến những nhục nhằn. Từ những đau thương quằn quại cho đến những rã rời nghiêng ngửa. Từ những lãng mạn mộng mơ cho đến những ảo vọng cuồng điên. Từ những lo âu khiếp đảm cho đến những khát khao trông đợi. Từ những phiêu du huyền hoặc cho đến những tan-rã chia lìa... Cứ nhìn vào tiến-trình của âm-nhạc Phạm-Duy, chúng ta có thể thấy được một ảnh-ảo trung thực về tiến-trình suốt nửa thế-kỷ của dòng sinh-mệnh, vừa hào hùng vừa thảm-thương của dân tộc. Anh đã nói thật, nói đúng lúc, nói rất đầy đủ. Về tình yêu thương, về sự khổ đau, về sự-sống-vương-vất và về nỗi-chết-không-rời, của đồng-bào anh em từ Nam chí Bắc...

Cũng vậy. Nhạc của Phạm-Duy gần-gũi với chúng ta, bởi vì nó rất "người". Phạm-Duy yêu cả những cái tốt và yêu cả những cái xấu, yêu cả những giọt nước mắt và yêu cả những nụ cười, yêu cả những bình-minh và yêu cả những hoàng-hôn, yêu cả những thành công và yêu cả những thất-bại, yêu cả những hội-tụ và yêu cả những chia-ly, yêu cả những đắng-nồng và yêu cả những bùi-ngọt, yêu cả những thánh-thiện và yêu cả những tội-lỗi, yêu cả những cao-cả và yêu cả những thấp-hèn, yêu cả những thủy-chung và yêu cả những thay-đổi, yêu cả những bền-bỉ và yêu cả những mong-manh, yêu cả những xa-xăm và yêu cả những gần-gũi, yêu cả những thanh-thản và yêu cả những xô-bồ, yêu cả những tục-tằn và yêu cả những thanh-khiết...

Nhà thơ Trần-Dạ-Từ gọi Phạm-Duy là một "kẻ tình nhân lang chạ". Tôi muốn ngợi-ca anh là một tình-nhân lãng-mạn, đa cảm, đa tình. Hãy nghe những tình khúc của Phạm-Duy. Hãy nghe những trường-ca của Phạm-Duy. Và hãy nghe một vài đoạn trong tổ-khúc của Phạm-Duy. Mới thấy tài-năng anh ghê-gớm quá, tâm-hồn anh giàu-có quá, đầu óc anh lớn lao quá, và con tim anh — ôi, một con tim trọn đời, luôn luôn luân-lưu những dòng máu sôi sục của yêu thương.

Một buổi sáng cách đây ít lâu, tôi tìm đến thăm Phạm-Duy, sau những tháng năm dài cách biệt. Dưới chiếc mái thấp của một hàng hiên dựng bằng gỗ sơ sài, bên những chiếc bàn và những chiếc ghế nhỏ đóng bằng gỗ mộc — Phạm-Duy nằm thoải-mái trên chiếc võng đan bằng sợi trắng. Tóc anh đã là một lớp cước mênh mông. Vầng trán anh cũng là một dòng sông mênh mông. Những đường rãnh suy-tư hằn-sâu giữa cái mênh mông của thao-thức. Anh nhìn tôi. Vẫn đôi mắt hiền hòa, thân thiết ngày xưa. Anh nở một nụ cười. Vẫn nụ cười rất khoan dung và cũng rất trẻ trung tinh quái.

Chúng tôi ngồi chuyện trò với nhau. Về những người bạn. Về những kỷ niệm. Về một Sàigon đã mất. Về một Hà-Nội đã khuất-chìm trong quá-khứ mịt-mù. Về một Nguyễn-Chí-Thiện. Về một Hoàng-Cầm. Về một Cung-Trầm-Tưởng. Về một Thanh-Nghị. Về một Thái-Thanh. Về những bản nhạc anh đã làm. Về những bài thơ anh đã phổ nhạc. Về những loài chim mà anh mời gọi vào và nhắc nhớ đến, trong "tổ-khúc" rất ẩn-dụ anh mới hoàn thành. Về những vần ca dao và về những bài tâm ca. Về những tham vọng của người nghệ sĩ. Về những chuyến "du ca" ở khắp các tiểu bang và qua nhiều nước trên thế giới. Về những buổi sáng ngồi cặm cụi làm việc trước dàn "computer". Về những buổi chiều trầm mình trong hồ bơi, để mặc xác thân buông-xả...

66 tuổi đời. Tháng 10 này, anh đúng tuổi 66. "Người Anh Cả" — "Giáo-Chủ" — "Bố Già". Ai muốn gọi anh là gì, anh cũng chỉ mỉm cười. Chép miệng vài cái. Đôi mắt hấp hiu xa vắng. Rồi đôi mắt đó mơ màng. Rồi, đôi mắt đó sáng lên. Rực rỡ. Le lói tinh-anh...

Đúng 66 tuổi đời. 45 năm sáng tác và trình bày nhạc. Những bước chân mê-đắm đã đặt trên hầu hết mọi miền đất nước. Những bước chân mê đắm đã đặt đến nhiều nơi ở khắp mặt địa cầu. Trải qua những lênh-đênh-bèo-bọt và những trôi-giạt-thủy-triều — trải qua những vỗ-cánh-đại-bàng và những tung-lượn-hải-âu — trải qua những chắt-chiu-ong-mật và những an-thân-đà-điểu... Bây giờ, Phạm-Duy đang ở trước mặt tôi — có lúc anh nằm duỗi chân, hai tay kê xát dưới đầu thoải mái — có lúc anh ngồi nhỏm dậy, bàn tay giơ lên phác-vẽ một cử chỉ ân cần. Bộ quần áo nhẹ kiểu bà-ba màu đen. Những sợi tóc trắng. Những vết nhăn của thời gian. Những đường hằn của suy-tưởng... Không thể sai chạy được, Phạm-Duy vẫn là một biểu-tượng sáng-chói của một thiên-tài-âm-nhạc. Anh vẫn sống rất thiết tha, vẫn yêu rất thiết tha. Anh đã sống và đã yêu bằng cả cái khoảnh khắc ngưng nghỉ của trái tim, giữa hai nhịp đập. Anh vẫn là một tình-nhân lãng mạn. Quá đa tình. Quá đa cảm. Của cuộc đời...

Như thế, suốt bao nhiêu năm, chưa một lần nào Phạm-Duy quay lưng lại với dân tộc. Anh yêu thương dân-tộc lắm. Yêu thương đất nước lắm. Yêu thương cuộc đời lắm. Yêu thương con người lắm... Tấm lòng của anh, vẫn trải ra như một ngọn thác cuồn cuộn từ núi nguồn đổ xuống. Chẳng bao giờ khô cạn được. Và cũng chẳng có gì làm khô cạn được.

Tuy vậy, điều đáng quý ở Phạm-Duy, là một sự khiêm nhượng của một thiên-tài. Trong suốt buổi chuyện trò, anh đã trả lời những câu tôi hỏi, thẳng thắn và cởi mở nhất. Anh không che đậy. Anh không dùng kính-đen. Anh không xài dầu thơm. Anh không đeo mặt nạ...

Anh đã bày tỏ lòng mến yêu và sự kính trọng những tài-năng khác — một cách rất thật, một cách rất người. Anh nhắc đến những Văn-Cao, Lê-Thương, Đặng-Thế-Phong, Dương-Thiệu-Tước, Vũ Thành, Hoàng-Trọng, Trịnh-Công-Sơn v.v... Anh nói đến sự đóng góp công lao của tất cả các nhạc sĩ Việt Nam qua nhiều thế hệ, để đã cùng xây dựng một nền âm-nhạc giàu có về mọi mặt. Rồi anh khẳng-định: "Sự thành công của anh chỉ là một điều may mắn"

Đúng. Tôi cũng nghĩ, đúng là một điều may mắn, nhưng không phải là điều may mắn của anh, mà là điều may mắn của âm nhạc Việt-Nam, nói riêng, và của dân tộc Việt-Nam, nói chung. Bởi nhờ có những tâm hồn như tâm hồn Phạm-Duy, nhờ có những tài-năng như tài-năng Phạm-Duy, mà những thành-quả về văn học nghệ thuật của chúng ta — đặc biệt là bộ môn âm nhạc — trong suốt nửa thế kỷ, đã lớn lao được như thế và đã phong phú được như thế.

Một đất nước anh hùng, thường sản sinh ra những người con anh hùng. Đó hầu như là một định-luật. Cũng vậy, một dân tộc có một truyền thống văn hóa lâu đời, đẹp đẽ như dân tộc Việt-Nam — đã sinh ra những Nguyễn-Du, những Nguyễn-Công-Trứ, những Bà Huyện Thanh-Quan, những Nguyễn-Bỉnh-Khiêm, những Hồ-Xuân-Hương, những Nguyễn-Đình-Chiểu, những Tản-Đà v.v... thì cũng phải sinh ra những Nhất-Linh, những Vũ-Hoàng-Chương, những Thạch-Lam, những Xuân-Diệu, những Huy-Cận, những Văn-Cao, những Phạm-Duy v.v... để những "nòi tình" không bao giờ dứt, và để những tài-năng lừng-lẫy không bao giờ gián-đoạn.

Xin cảm-tạ Phạm-Duy. Cảm-tạ tất cả những gì mà anh đã cống hiến cho đời. Cảm-tạ những gì mà anh đã chia xẻ với mọi người, và cho mọi người được cùng anh chia xẻ. Cảm-tạ con sư tử già vẫn canh-cánh bên lòng một niềm thao thức, giữa bầy chim ngỡ ngàng bỏ xứ, lưu đày...

Tuấn Huy

No comments: