(Văn Học số 21, tháng 10/1987)
Anh yêu quý,
• Chúng ta sống bên nhau, thấm thoát đã gần 19 năm trời rồi, anh nhỉ? Chóng quá! Mới ngày nào.
Em tưởng như mới hôm qua, còn nhìn thấy anh đứng ở một góc trong studio của đài Quân Đội. Nhìn em. Lặng lẽ nhìn em. Em tưởng như mới hôm kia, sớt cho anh một ít "Eau de Cologne" mà em thường dùng, để hằng đêm anh có đủ âm thanh (giọng hát em trong băng của đài) hình ảnh (mấy tấm slides của em mà anh thích xem qua cái máy chạy pin nho nhỏ, mỗi tối khi đã vào màn) và mùi vị (mùi nước hoa của em)...
• Bây giờ thì chúng mình cùng "già" rồi, mà riêng em vẫn còn cái tật cứ thắc mắc không biết chúng mình yêu nhau rõ rệt từ ngày nào. Tình yêu đến với em mơ hồ và nhẹ nhàng quá. Có thể là từ lúc thấy mến đến thấy yêu chỉ trong một thời gian ngắn. Có thể là qua những câu chuyện trao đổi với nhau đầy thú vị, em cảm thấy nhớ anh nếu không được gặp sau... một ngày! Cũng có thể gặp anh em đã yêu ngay, vì em chưa bao giờ xưng "em" với người con trai nào khác, trước anh.
Em chỉ nhớ rõ rệt nhất một buổi sáng tháng 5 năm 1968. Anh còn nhớ không anh? Đó là một buổi sáng, trời thật đẹp. Vừa gặp em ở hành lang đài Quân Đội, anh tươi cười nhẹ hỏi: "Tối qua Quỳnh Giao ngủ có ngon không? Có thấy đôi chim Uyên đến giường, báo tin xuân đã về trong giấc mộng?
Em đọc được tình yêu trong lời nói của anh, trong ánh mắt của anh. Em chỉ biết cười, hơi ngượng ngập. Tim em đập lỗi một nhịp (mặc dù em rất giỏi nhạc lý) và em muốn nói (rất thầm) với anh: "lòng em yêu rồi, xin đừng nhạt phai."
Chúng ta đã mượn lời ca của Phạm Duy mà tỏ tình với nhau.
• Anh yêu, bây giờ đã xa rồi thời kỳ thơ mộng của ngày đó chúng mình yêu nhau. Câu chuyện hằng ngày của chúng ta — dù không thích — xoay quanh các vấn đề vật chất (tiền nhà, tiền điện, xe hư, máy lạnh hỏng...) như tất cả những đôi vợ chồng khác ở cái xứ Mỹ bao la mịt mùng này. Nhưng chúng ta may mắn còn có những buổi tối cùng ngồi nghe lại những băng nhạc và cùng có dịp nói chuyện phiếm bên nhau.
Chúng ta nói những cảm nghĩ của mình về giọng hát của danh ca này, tài sáng tác của nhạc sĩ kia, chỉ để thấy mình giống nhau, cùng có những sở thích như nhau — Chúng ta cùng ngưỡng mộ thiên tài số một của âm nhạc Việt, đó là Phạm Duy. Chúng ta đã cùng ngưỡng mộ Dương Thiệu Tước, Vũ Thành, Phạm Đình Chương, Cung Tiến...
Riêng đối với Phạm Duy, ngoài sự ngưỡng mộ, dường như có một cái gì gần gũi hơn. Phải chăng vì những nhạc khúc của Phạm Duy đã theo mệnh nước nổi trôi như thế hệ của chúng ta trong giai đoạn lịch sử đầy thăng trầm. Có bài ái quốc ca nào sánh với Tình Ca? Có bi kịch nào bi thảm hơn "Bà mẹ Gio Linh"? Có đôi lứa nào yêu nhau cho nhau cả bốn trùng dương, chỉ để xin lại sự tự do? Có ngày sinh nhật nào mà người mẹ không khóc khi nghe con tạ ơn đời? Có giọt nước mắt nào đau đớn hơn những giọt nước mắt rủ nhau về chết trên môi trong "nước mắt rơi"? Phạm Duy nói hộ, kể lể hộ cho nhân loại nhiều quá. Cả đến cái chết cũng không ai tả đẹp hơn: Cái chết nhẹ nhàng của thân phận con người tựa như một chiếc lá rơi trên đường vắng trong "đường chiều lá rụng". Chỉ một Phạm Duy. Duy nhất.
• Gia đình ta là một gia đình âm nhạc, nên sự giao dịch giữa em và các cô chú rất thân tình, gần gũi. Em rất quý các cô, các chú và ngược lại, các cô chú cũng rất mến em. Có lẽ một phần vì các cô chú biết em từ khi em còn nhỏ, và một phần là từ lúc đó đến bây giờ, em vẫn luôn luôn là đứa cháu ngoan. Em tưởng tượng một hình ảnh của tương lai thật dễ thương, khi các cô các chú đầu bạc, răng long, và em có thể đã có cháu ngoại, thế nhưng mỗi khi gặp nhau em vẫn khoanh tay cúi đầu như những ngày đầu tiên bước chân vào đài phát thanh của thuở 15, 16.
Đối với chú Duy, ngoài tình cảm của một gia đình văn nghệ, chú còn là "thần tượng" âm nhạc của em. Chú có tài năng của một thi sĩ trong âm nhạc. Như người ta vẫn ví Chopin vậy. Có điều Phạm Duy dùng ngôn ngữ của thi sĩ trong một nét nhạc thơ mộng, nên càng tăng rõ rệt chất thi sĩ của chú.
Hình: Cố Ca Sĩ Quỳnh Giao (1946 – 2014)
Nguồn: Quỳnh Giao Ca sĩ, cầm thủ và nhà văn
Em thuộc lòng tất cả những bản nhạc tình của Phạm Duy. Nhưng về nhạc hùng em xin chịu thua anh. Em còn nhớ những buổi nói chuyện về nhạc chú Duy trong thời chiến, anh vẫn thiết tha nói về một ước mơ được nghe trình bày lại tất cả các bản nhạc hùng của Phạm Duy, những bản nhạc mà theo anh, nó sẽ bị rơi vào quên lãng nếu không ai hát tới. Những lúc ấy em thầm nghĩ: thảo nào chúng mình nghèo. Ước gì không ước, lại ước được hát nhạc hùng. Nhưng em nhìn anh bằng một ánh mắt (nếu anh nhận thấy được) rất tinh quái, và âu yếm. Bởi vì lúc ấy em thấy yêu anh nhiều hơn.
• Em có một kỷ niệm, coi như đẹp nhất trong đời ca hát của mình. Ngày ấy em mới 14 tuổi, nghĩa là chưa đủ tuổi để hát với người lớn. Thế rồi... một trường hợp ngoại lệ xẩy ra... Hồi đó có một nhạc trưởng người Đức, ông Otto Sohnner, qua Việt Nam để giảng dạy và điều khiển dàn nhạc Đại hoà tấu của trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon — Là một nhạc trưởng rất có cảm tình với dân tộc Việt Nam, Otto Sohnner đã soạn hoà âm cho dàn nhạc Đại hoà tấu toàn thể trường ca "Con đường cái quan" mà chú Duy vừa mới hoàn thành. Theo em nghĩ, hẳn ông phải cảm phục tài năng của chú Duy lắm — Sau bao ngày viết hoà âm rất công phu cho "Con đường cái quan", người nhạc trưởng khả kính tiến hành công việc tập dượt. Ông đòi hỏi một dàn nhạc đại hoà tấu (đã có sẵn của trường nhạc) và một ban hợp xướng. Ca sĩ có đủ trình độ nhạc lý để hát bản trường ca với dàn nhạc lớn lúc đó... đếm được trên đầu ngón tay. Và vì thế mà nhóc tì là em thuở ấy được tuyển chọn vào ban hợp ca. Trong ban hợp xướng này, phía nữ gồm có các cô Kim Tước, Châu Hà, Thái Hằng, Tuyết Hằng, Tuyết Anh, Mộc Lan, Mẹ, Chị Mai Hương và... em (lúc đó chưa có tên Quỳnh Giao). Cô Thái Thanh đang mang bầu em Ý Lan nên không xuất hiện trên sân khấu được. Phía Nam có các chú Hồng Phúc, Nhật Bằng, Trần Ngọc, Mai Trường, Duy Khánh, Ngọc Quang, Hoàng Nguyên, Văn Phụng, Nguyễn Hữu Thiết, Trần Nam. Không có chú Anh Ngọc. Chú ấy lúc đó đang ở ẩn trên Đà Lạt vì một chuyện ngoài ý muốn. Anh có biết ai là ca sĩ chính trong vai người lữ khách của trường ca này không? Chú Duy đấy. Phải nhìn chú Duy hát trên sân khấu mới thấy hết cái say mê mà chú dâng hiến cho Nghệ Thuật. Dáng của chú rất phóng khoáng tự nhiên. Làn hơi tuy không phong phú cho lắm nhưng đủ để diễn tả những ý nhị của câu hát. Có lẽ không có nam ca sĩ nào hát đoản khúc "Giã ơn cái cối cái chày" hay bằng chú Duy được.
Sau một tháng trời tập dượt, ban đại hoà tấu Quốc Gia Âm Nhạc Viện và ban hợp xướng đài phát thanh Saigon ra mắt ba buổi tại rạp Norodom (Thống Nhất) và hai buổi lưu diễn tại Đà Lạt.
• Được đi xa bằng xe lửa lần đầu trong đời, ngủ trong toa couchette, lúc bấy giờ đối với em như chuyện thần tiên. Cũng là lần đầu em biết cảnh đẹp của đất nước mình. Xe lửa qua ga Tháp Chàm, lượn ven chân đèo Ngoạn Mục. Những cây lá xanh tươi, hoa dại bên đường rực rỡ, lấp lánh làm em thấy yêu đời quá. Sau này đọc Nguyễn Hiến Lê tả cảnh ở đèo Ngoạn Mục thấy ông ấy thật tài tình.
Vì đoàn văn nghệ khá đông, có tất cả độ 100 người, nên không ở hết ở hotel Palace, mà phải chia ra một ít ở hotel du Parc. Nhưng giờ ăn thì tụ tập tất cả ở hotel Palace. Ngủ trong một phòng hai giường với mẹ, em thấy sung sướng lạ. Đến giờ ăn được mặc áo đẹp xuống phòng ăn thật sang trọng nhìn ra phong cảnh mờ sương, có lúc em sướng đến ngợp thở. Nói ra anh đừng cười em nhé! Em thấy sung sướng hơn cả khi lớn lên, đi Đà Lạt với anh sau ngày cưới nữa đó! Có lẽ khi mình còn trẻ dại mọi vật đều đẹp hơn lúc mình lớn khôn.
Đêm cuối cùng của buổi trình diễn ở Dalat, em muốn khóc vì tiếc, khi nghe chú Duy hát câu "con đường thế giới xa xôi" và toàn ban chấm dứt với câu "trong lòng dân chúng nơi nơi". Em biết là hết rồi, em sẽ trở lại đời sống bình thường: đi học chữ, học nhạc, ngủ chung với các em... Hôm ra gare Đà Lạt về lại Saigon, em buồn ủ rũ, chỉ mong chú Duy làm thêm vài bài trường ca như vậy nữa, ông Otto Sohnner ở lại Việt Nam hoài (điều này trở thành sự thực vì Sohnner ở lại Việt Nam và dạy trường Quốc gia âm nhạc ở Huế cho đến khi xảy ra vụ tết Mậu Thân) để em lại được đi hát với các cô các chú. Chắc anh đang cười em trẻ con! Vậy anh có muốn em tả... em ở giai đoạn đó không?...
Thật ra thì đứng xen hàng với người lớn, trông em lớn hẳn ra (các cô chú nói với mẹ như thế) và xinh ra nữa. Cái vụ "xinh ra" thì chắc là vì được bôi son lên môi và phấn hồng lên má. Ngày ấy chị Mai Hương đã đến tuổi cập kê nên chị đánh môi son và má hồng một cách tự nhiên rồi. Còn em, đến giờ trình diễn mẹ phải trang điểm cho em. Chỉ mới bôi tí son lên môi, em đã cảm thấy khó chịu quá. Mẹ còn bắt em mặc corset (của mẹ) để cho đứng áo dài! làm em ngượng nghịu lắm. Em có quen mặc áo dài đâu. Mẹ đứng hát bên cạnh thỉnh thoảng phải "thúc" em một cái vì em cứ lâu lâu lại kéo vạt áo sau ra đàng trước... cầm chơi. Hát xong bài trường ca thì cũng vừa vặn em ăn hết son (thơm mùi dâu như kẹo) của mẹ trên môi mình.
Kỷ niệm xưa để lại dấu vết quá đậm trong em, đến nỗi sau này khi chúng mình đi trăng mật ở Đà Lạt, thành phố này chưa hồi phục sau những tàn phá của tết Mậu Thân, em buồn rầu khi nhìn lại hotel du Parc biến thành đài phát thanh Đà Lạt với giây kẽm gai chằng chịt. Em ngẩn ngơ trước cảnh hoang tàn, xơ xác của hotel Palace, nơi ngày xưa cả đoàn tụ tập ăn uống, nơi em khép nép ngồi bên mẹ ngắm nhìn các cô chú nhảy những bản Valse, Swing... thật đẹp trong buổi dạ hội khoản đãi để từ biệt đoàn văn nghệ... và cả đoàn cùng hát "Vần thơ sầu rụng" của chú Duy. Sau này em rất vui khi biết anh có dự buổi hòa nhạc ở rạp Thống Nhất. Chắc chắn là anh thích lắm, vì chương trình thật đặc sắc. Em còn nhớ phần đầu ban nhạc chơi một "ouverture" của Beethoven, và "petite musique de nuit" của Mozart. Phần nhì là "symphonie inachevée" của Schubert và kết thúc là trường ca "Con đường cái quan". Anh có kể lại với em là anh đi với bạn anh, anh Tuấn. Em không tin anh lắm đâu! Chắc anh đã đi với một người bạn tóc dài, lúc bấy giờ "họ" lớn hơn em cỡ... 10 tuổi! Anh lại bảo rằng anh chẳng "để ý" gì đến cô nhỏ đứng bên cạnh bà Minh Trang. Chẳng sao! Để rồi sau này tim anh sẽ đập lỗi nhịp (nhiều lỗi lắm) vì cô bé ấy.
• Hai năm sau, em trở thành thiếu nữ. Và chú Phạm Duy đã mời em hát cho ban "Hoa Xuân" hàng tuần trên đài phát thanh Saigon. Lúc ấy em đã có tên Quỳnh Giao và đang hát cho những ban Vũ Thành, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Võ Đức Thu, Hoàng long, Đan Phú, Y Vân. Em biết mình rất may mắn. May mắn vì được sinh ra và lớn lên trong một gia đình âm nhạc và được Trời phú cho khả năng để tiếp nối truyền thống âm nhạc của gia đình. Đừng kỳ vọng ở một thiên tài lớn sự nâng đỡ.
Họ chỉ có thể tin tưởng hay hy vọng vào khả năng mình có. Vì thế, em rất hãnh diện được hát với Phạm Duy. Em hát ban chú suốt mười mấy năm trời. Indicatif của ban "Hoa Xuân" thay đổi bao lần. Từ "Hoa Xuân", qua "Tiếng bước trên đường khuya", đến "Kỷ niệm" và sau đó là "Trả lại tôi tuổi trẻ". Hát ban chú Duy, điều em thích nhất là được hát toàn bài của chú, mà nhạc của chú bài nào cũng tuyệt cả. Thế rồi lại được theo dõi sinh hoạt của chú nữa. Có sáng tác nào mới, chú vừa đi nói chuyện với ai, ở đâu v.v... chú đều kể lại và em đều được biết. Đôi khi em được "quá giang" cô chú về nhà sau khi thu thanh, vì thuở đó nhà mình lại còn là hàng xóm với chú nữa. Cô chú ở ngõ F, còn gia đình em ở ngõ D trong cư xá Chu Mạnh Trinh. Là một nhạc sĩ lớn, chú Duy lại rất giản dị trong cung cách trình bày nhạc của mình. Chỉ một ban nhạc nhỏ. Đôi khi, chỉ một cây piano. Thế nhưng chương trình "Hoa Xuân" rất hấp dẫn thính giả, nhờ giọng giới thiệu của chú và những ca khúc tuyệt vời của chú. Thỉnh thoảng Duy Cường và Thái Hiền theo bố mẹ lên đài chơi. Cường thuở nhỏ hay cười, ít nói. Hiền khép nép, thẹn thùng.
• Cuối tháng 4, 1975 chúng mình đến Guam trong sự hốt hoảng của cơn biến động chung của đất nước. Một ngày nọ nghe tên loa phóng thanh tiếng chú Duy kêu gọi, tìm kiếm các em Quang, Minh, Hùng, Cường, vợ chồng mình nhìn nhau mừng rỡ, bởi biết cô chú đã thoát được.
• Một ngày mùa đông, rét cóng, năm 1976, chúng ta lặn lội đến hội trường trường tiểu học Page vùng Arlington, Virginia để dự buổi trình diễn của gia đình Phạm Duy. Vừa nhìn thấy cô chú xuất hiện với Thái Hiền... cả hai chúng ta chảy nước mắt.
• Anh yêu, có phải vì quá yêu mến chú Duy mà chúng mình trở thành thiên vị. Các nhà văn, nhà phê bình, nhà báo đã tốn khá nhiều giấy mực cho chú Duy mà mình vẫn thấy... chưa đủ, chưa nói hết tài năng của chú. Ngàn lời ca của chú được phân tích, mổ xẻ, và là đề tài của bao nhiêu cuộc thảo luận. Theo em nghĩ thì chú Duy có tư tưởng của một nhà văn lớn, và hồn nhạc của một nhạc sĩ lớn. Cả hai cộng lại biến Phạm Duy thành thiên tài số một của cả nền văn hoá Việt Nam. Nói một cách đơn giản thì âm nhạc của chính Phạm Duy đã làm lời ca Phạm Duy thăng hoa — Chú Vũ Thành có lần tâm sự với chúng mình rằng chú Duy là vô địch. Có cả ngàn bài ca mà mélodie nào cũng hay. Ngược lại, Phạm Duy rất khiêm tốn (cũng do chú Vũ Thành kể) vì luôn luôn chú Duy nhắc đến Dương Thiệu Tước và gọi cậu "c'est le maître".
Trong một cuộc điện đàm mới đây với anh Phạm văn Kỳ Thanh, một nhà biên khảo âm nhạc mà em rất mến phục, em có yêu cầu anh ấy viết về Phạm Duy. Phạm Văn Kỳ Thanh đã viết về Cung Tiến và Phạm đình Chương rất chính xác. George Gautier đã viết thật kỹ và sâu sắc về nhạc thuật của Phạm Duy. Chỉ tiếc là ông không phải là một người Việt Nam.
• Anh yêu quý, khi ngồi viết lá thư này cho anh, em muốn chia sẻ với anh lòng biết ơn của em với những người làm nghệ thuật. Nhờ họ mà mình giữ được những rung động quí báu của đời sống. Qua họ, mình thấy được cái đẹp của tình cảm con người. Có phải khi chúng mình cùng đọc một quyển sách hay, một bản nhạc bất hủ, mình như đang chia sẻ với nhau một cảm xúc, một hạnh phúc không anh? Anh ạ, chủ tâm chính của em là khơi lại kỷ niệm của chúng mình, với đề tài chính là Phạm Duy, nhưng dường như em đã nói về "mình" hơi nhiều! Nhưng có thể, em mới có lý do để viết thư cho anh, dù chúng ta đang cùng sống dưới một mái ấm. Vả lại, cũng đã lâu lắm rồi, từ ngày thành vợ thành chồng, em chẳng còn dịp để tỏ tình với anh trên những trang thư như những ngày mới yêu nhau nữa. Tuy nhiên... lá thư này, anh sẽ được đọc sau... nhiều người. Vì em gửi đến anh Nguyễn Mộng Giác cho số đặc biệt về Phạm Duy. Mong anh đừng buồn em.
Vợ anh,
Đoan Trang
QUỲNH GIAO
30 tháng 8, 1987

No comments:
Post a Comment