Đồng tác giả: Claude AI and Học Trò.
Bạn đọc thân mến,
Bài này là bài đầu tiên, nhờ Claude AI chuyển từ PDF ra nhiều trang png, rồi cũng chính Claude giúp chuyển sang Unicode. OCR là từ bản in:
Contes plaisant Annamites,
tác giả là Abel Des Michels soạn năm 1888.
Thân mến,
Học Trò
Gộp từ các trang CDX_Fr_Page021 … 044 (số in 3–26): hai mươi
truyện «Truyện chơi». Giữ nguyên chính tả in những năm 1870. Dấu
[tr. NNN] đánh dấu chỗ bắt đầu mỗi trang scan.
[tr. 021 — số in 3]
I
Con gái cầu chồng đại vương (1).
Có một con kia nhan sắc đẹp đẽ, mà trông cho được một người chồng sang trọng đứng vì vương vì tướng, cho nên thường bữa thường ra chợ mua nhang đèn, đem vô chùa vái cùng Phật bà, xin xui khiến cho mình đặng như tình mình sở nguyện. Người bán nhang còn nhỏ tuổi; thấy cô ấy mỗi bữa mỗi ra mua nhang thì lấy làm lạ. Quái giờ thì cũng có khi, có đâu mà mỗi ngày, ngày nào cũng như ngày nấy. Đánh mòm theo coi, thấy vô chùa vái xin chồng cho sang. Anh ta dòm hiểu được ý, thì bữa sau mướn người khác bán thế cho mình. Liệu vừa chừng cô ấy vô chùa, anh ta vô trước núp sau tượng Phật. Cô ấy vào thắp nhang, đốt đèn, ngồi lạy xin một hai cho được chồng làm vua mà thôi. Chú chàng ở sau ứng tiếng lên nói : « Con muốn làm vậy, mà không nên; con phải lấy thằng bán nhang ngoài chợ. Sô con làm vậy đó. » Cô ta ra về, vưng theo lời Phật bà dạy, ra tìm
[tr. 022 — số in 4]
người bán nhang. Hẹn hò ngày kia buổi nọ thì ra chỗ nọ cho nó đem về nhà. Vậy nó bỏ con ấy vào cái bao không, bỏ một đầu thì nó, một đầu thì nhang, gánh thẳng về nhà. Đàng về nhà thì phải đi ngang qua cái rừng. Bữa ấy có thái tử đông cung đi săn trong ấy. Anh ta sợ gặp quân gia quan quyền, có khi họ hỏi han, khó lòng, mới đứng ngừng lại. Quân gia đâu vừa đi trợt tới. Nó thấy vậy để gánh dẹp lại một bên đường, chạy tuột vào bụi trốn trông. Quân thấy gánh mà không có người, thì lại lục mà coi, mở cái bao ra, thấy một nàng xinh tốt lắm nằm khoanh trong ấy; thì dẫn về cho thái tử. Đức ông mới hỏi tự sự trước sau. Thì cô ấy gởi rỏ duyên cớ đầu đuôi gốc ngọn, lại cho Đức ông nghe. Sẵn có săn được một con cọp; thì thái tử dạy đem con cọp mà bỏ vào cái bao, cột lại, để lại trong gánh như trước. Còn cô ấy thì thái tử đem về làm vợ. Anh kia núp vào trong bụi nghe coi đã vắng tiếng, thì biết họ đã đi đi rồi; thì ra, lại rờ cái bao thăm coi vợ mình còn hay không. Bóp coi thấy còn, thì kề vai gánh về nhà. Cha mẹ anh em ra mừng hỏi chó giống gì trong cái bao nầy vậy? thì nó nói nọ rằng : « Cọp đó, chớ gì ? » cất nhang dồ rồi, nó rính cái bao ấy vào phòng, được có đem vợ ra. Chẳng ngờ vợ đâu chẳng thấy! cọp ở trong nhảy ra bẻ cổ anh ta chết tươi đi tức thì.
II
Hữu dũng vô mưu.
Thần cày mở trâu ra sắm sửa đi cày. Ra đồng cày đàng kia qua đàng nọ. Trâu một đà lẹ lười; mà mắc cày ruộng gần chưn núi. Khi cày thì thằng trai cầm cày hò hét đánh đập con trâu đà cơ khổ. Lại thêm chưởi rủa hành hạ quá chừng. Con cọp ngồi rình trong núi, ngó thấy vậy thì giận lắm. Đến buổi
[tr. 023 — số in 5]
thôi cày, thằng chăn thả trâu ra đi ăn. Con cọp mới lại gần kêu con trâu mà mắng nhiếc sao có chịu làm vậy : « Mầy có vóc giạc, mạnh mẽ sức lực, lại có hai cái sừng nhọn là khí giái mầy; sao mầy không cự không chống, để gằm đầu mà chịu nó, theo làm đầy tớ nó cho nó hành phạt mầy, nó leo, nó cỡi lưng, cỡi cổ mầy như vậy? » con trâu mới nói rằng : « Trời sinh muôn vật, mà khôn thì làm sao cũng hơn mạnh thôi. Dầu mầy nữa cũng phải thua nó, huống chi là tao. » Con cọp tức giận mới nói rằng : « Tao có nghề trong mình, tao lại mạnh, cho mười nó đi nữa tao cũng làm chết, lựa là một. » Con trâu nói : « Thì vậy mầy đi lại đây đặng cho tao kêu nó đánh với mầy cho biết sức. » Con trâu mới đi kêu thằng cày lại. Anh trai cày lơn tơn lại nói với cọp rằng : « Tao bây giờ đang đói bụng, không có lẽ mà đánh với mầy đặng. » Con cọp nói : « Vậy thì mầy đi ăn cơm đi, rồi có lại mà đánh với tao. » Thằng cày nói : « Mầy hay nói láo lắm; tao bỏ tao về, thì mầy chạy đi mất, còn gì mà đánh. » Con cọp nói : « Tao chẳng thèm trốn; mầy nói tao đọa kiếp! Mặt nào, chớ mặt nầy có chạy đâu. Thằng cày nói : « Như có thiệt làm vậy thì để tao trói mầy lại đây, đặng tao về tao ăn cơm cho no, rồi tao ra tao mở mầy ra, đặng mầy đánh với tao như vậy, mới chắc; không, mầy trốn đi, tao không biết chừng. » Con cọp ỷ mình mạnh, thì nói : « Tao chẳng sợ gì, trói thì trói. » Nó mới để cho thằng cày trói nó. Xong xả rồi, thằng cày mới chạy đi, bẻ cây lại đánh con cọp. Con cọp mắc trói thất thế, vùng vẫy không đươc, bị đòn mà chết. Con trâu khi ấy mới khè miệng con cọp rằng : « Tao đã nói với mầy ấy, mầy không muốn nghe tao; mầy ỷ mầy sức lực mạnh mẽ mà thôi. Bây giờ mầy chết, là đáng sô mầy lắm, không thương hại lấy một chút. Ấy là mạnh mà không mưu : ý thế mạnh mà khinh dễ người ta. »
Có người tuy yêu thế yêu sức mà cao mưu, nên nhiều khi thắng được kẻ mạnh quờn mạnh thế mà thấp mưu.
[tr. 024 — số in 6]
III
Ông huyện thanh liêm.
Ông huyện kia đác chỉ ra ngồi huyện nơi kia. Mà ông ấy là người thanh liêm lắm, cho nên không hay dụng lề mề của ai lấy một đồng. Đem của trước cũng không xong, đem cửa sau cũng không lọt. Bà huyện thấy tình chồng không có ưa, thì cũng không dám lãnh lấy của ai vật gì.
Có cái làng kia nhờ ông huyện lắm, mà đền ơn nghĩa không được. Hễ đem tới giống gì giống gì bất kì, vàng bạc tiền của gì ông cũng không thèm gì hết; tức mình mới lo đem đút cho bà huyện. Mà bà cũng rằng rằng quyết một, một hai không dám lãnh : « Ngài tôi thanh liêm, tính không có chịu; tôi mà có lấy nữa sau rầy tôi. » Làng càng nài, xin bà cắt, nhậm lấy lễ biếu trẻ thàu cho. Bà thấy làng năn nỉ, cầm lóng không đậu, thì bày rằng. « Ông huyện tôi ngài tuổi Tí, vậy làng có bụng làm vậy thì thôi, làng có muốn, thì về đúc một con chuột bằng bạc đem tới đây, để tôi chịu khó, tôi nói giùm cho, họa may có được chăng. » Vậy làng nghe lời về đúc một con chuột công đặc ruột bằng bạc ròng, đem vô. Bà huyện lãnh lấy cất đi, không dám nói với chồng.
Đến sau khi ông huyện thôi làm quan, về hưu trí, thì nghèo, nhiều khi túng ngặt thiếu trước thiếu sau. Mà bà huyện thì lấy con chuột chặt lần ra mà bán lấy tiền mua sắm ăn sắm mặc.
Bữa kia ông huyện nói với mụ rằng : « Bây giờ ta nghèo túng xảy túng xài hơn thuở trước ta còn làm quan lắm; mà mụ lấy đâu mụ mua ăn mua mặc làm vậy? » « Thì bà huyện mới học lại chuyện làng đem của đền ơn mà không lấy : « Thuở ông ngồi huyện làng kia mắc ơn ông, mà tới năn nỉ đem lễ vật, mà tôi không chịu. Họ nài quá, tôi mới bày cho họ về đúc
[tr. 025 — số in 7]
con chuột bạc đem dâng, vì ông là tuổi Tí. Bây giờ nhờ con chuột ấy tôi chặt một khi một ít bán đi mà tiêu dụng. » Thì ông huyện mới tiếc mới nói rằng : « Vậy sao bà không có nói là tuổi Sửu, cho họ đúc con trâu? Phải nói vậy, bây giờ chẳng khá à ? »
IV
Con chồn cáo với con cọp.
Trong thú vật thì con cọp làm lớn có oai quờn. Hễ nó đi tới đâu thì con nào cũng đều sợ nó. Có một con chồn cáo hay phản nghịch, kiêu ngạo lại dễ ngươi, gặp cọp thì nhún trẻ cho nó, rồi chạy tách đi mất. Cọp giận sao nó có khinh đi mình làm vậy. Bữa nọ chồn cáo nằm ngũ, cọp đi tới gặp chụp bắt lấy, muốn ăn thịt đi, mới mắng chồn ba dều rồi có trị tội nó : « Mầy ỷ mầy có tài chạy hay, nên chi mầy khinh dễ tao ghe phen. Bây giờ tới sô mầy rồi, tao nhai xương mầy, tao chẳng tha. » Con chồn mới nói với cọp rằng : « Mầy đừng làm phi nghĩa, mà tao biểu các muông thú hại mầy mà khôn giờ! » Cọp mới nói : « Mầy ấy là giống gì mà mầy làm đều ấy được, mầy nói, tao nghe coi thử ! » Chồn mới nói lại như vậy : « Tao có phép mà sai khiến được, vì Ngọc-hoàng có phong cho tao làm vua quản trị hết thảy; mầy cũng phải kính sợ tao nữa. » Cọp nói : « Tao không tin ngay : Có lẽ nào mầy là hèn hạ làm vậy mà ai đi cho mầy chức quờn sang trọng thể ấy! Mầy nói láo mà thôi. » Chồn cáo lại gắn đều nầy nữa : « Như mầy không tin, thì mầy để tao leo lên lưng mầy, tao cỡi mà đi dạo các nẻo đàng rừng mà coi, thì mầy biết, chớ tao nói dối với mầy cũng không cùng. » Cọp chịu : « Ừ, mầy đã quả quyết làm vậy, thì mầy leo lên, tao đem mầy đi; nếu không có thiệt như lời, thì
[tr. 026 — số in 8]
ta sẽ nhai xương mầy đi cho đáng. « Khi ấy chồn lên cỡi cọp; đi tới đâu tới đó, thì con chi cũng đều thất kính chạy hết, mà con cọp dại tưởng chúng nó sợ con chồn; chớ không dè là chúng nó sợ mình; cho nên trở lại xin lỗi với chồn cáo; vưng phục đầu lụy con chồn. Cọp bái tạ đi, thì chồn dặn biểu cọp : « Từ nầy về sau mầy đừng còn dễ ngươi tao nữa. Mới một lần thì tao tha đi cho, mà sau có làm vậy, thì tao không dung nữa. »
Chuyện nầy nói xàm kẻ tiểu nhơn hèn hạ bất tài mà hay nương thế kẻ có oai quờn mà húng hiếp người binh dân. Lại nói biếm người có quờn thế lớn hùng hào mà lại hữu dõng vô mưu để cho kẻ dưới mình gạt được.
V
Ông thầy già nghe nghĩa mà ăn khín bánh của học trò.
Có một nhà kia giàu có sinh được một đứa con trai. Con nhà giàu lại là con một, nên cưng lắm. Khi nó được năm sáu tuổi, cha mẹ nó muốn cho con đi học, mà sợ tới trường học, học trò nhiều đứa ngang tàng rán mát ăn hiếp chăng; nên tốn thì tốn, lo rước thầy về nhà cho nó học.
Mà anh thầy ấy hay ăn thép. Bữa kia mẹ thằng ấy đi chợ về, mua cho con một tấm đường, hay là cái bánh ngọt tròn tròn mà lớn. Con nó ra mừng mẹ đi chợ về, mẹ nó đưa cho nó; nó mừng cặp ôm lấy lại tiếc chưa dám ăn, cầm chơi để dành. Thầy thấy thèm: mới kêu thằng học trò lại; nầy con đem lại cho thầy tập nghe nghĩa cho con. Nó tình ngay thiệt thà lật đật cầm đem lại. Thầy lấy lấy, rồi để ra giữa cái ghế; mới giả đò nghe sách cho nó coi : « Ngôi Thái cực là như vậy : để ra giữa nguyên như vậy. » Rồi bẻ hai ra mà nói rằng : « Như vậy là Thái cực sanh Lưỡng nghi. » Rồi lại bẻ ra làm bốn mà
[tr. 027 — số in 9]
nói rằng : « Như vậy là Lưỡng nghi sanh Tứ tượng. » Rồi thầy cầm lấy cái bánh nói : « Còn như vậy là Tứ tượng biến hóa vô cùng, » cầm đem lủm phứt cái bánh đi. Thằng học trò nó mới lăn ra, nó giãy, nó khóc. Mẹ nó nghe, mới kêu, mới hỏi; thì nó nói : « Thầy nói : » « Để thầy tập nghe nghĩa cho tôi, » « rồi thầy ăn cái bánh của tôi đi. »
VI
Con Thỏ cứu cá, mà ra khỏi nơm.
Con thỏ ở nhằm chỗ đồng khô cỏ cháy, không có cỏ rác mà ăn cho no. Tính qua sông sang đi xứ khác; thì nói với con cần đước rằng : « Anh chịu khó chở tôi qua bên kia sông, thì sau tôi sẽ gả chị tôi cho anh. » Cần đươc chịu. Đưa tới giữa sông, cần đươc hỏi : « Cái lưng tôi vậy ngồi có êm có tốt không? » Thỏ nói : « Còn nói chi nữa? Đã láng thì chớ, mà lại mát nữa. » Con cần đươc chở qua tới bờ. Nó lên rồi, nó lại nói : « Cực chẳng đã tao mới ngồi trên mầy mà thôi. Tanh hôi dơ dáy quá; chị ở đâu mà đem mà gả cho uồng? » Nói vậy rồi bỏ đi đi.
Lên bờ, thấy một vườn mới vui vẻ xinh tốt, đi lần vô moi khoai người ta mà ăn. Chủ vườn giận, gài bẫy đánh. Thỏ quen chừng qua bữa sau cũng tới đó ăn, mắc bẫy. Người ta bắt được đem về, lấy cái nơm, chụp lại, để gần một bên cái chậu cá. Mà trong nhà, bữa ấy, tính làm việc chi đó, nghe nói : « Hai con cá với con thỏ thì đủ dọn. » Con thỏ mới nói với hai con cá rằng : « Hai anh biết họ tính họ làm thịt ta đi đó; mà hai anh có muốn ra cho khỏi, hay không? » Cá nói : « Làm sao không muốn? Muốn lắm, mà không đươc chớ. » « Vậy thì làm vậy, hai anh nghe lời tôi, thì xong : Cắn đuôi nhau mà
[tr. 028 — số in 10]
vùng cho mạnh, bẻ hai cái chậu ra, thì nhảy mà xuông hồ, thì thôi ! Họ bắt không đươc đâu. »
Hai con cá nghe lời, ra sức vùng, bẻ chậu đi. Thỏ cao mưu kêu : « Bớ ông chủ, cá đi cà ! » Trong nhà lật đật chạy ra, xách cái nơm theo mà chụp cá; thỏ vùng chạy đi mất. Đã cứu cá, mà lại cứu mình nữa.
VII
Con thỏ cứu con voi mà nhát cọp.
Lần khác con thỏ đi chơi, gặp con voi đang rầu rỉ quá; mới hỏi vì làm sao mà làm bộ buồn bực làm vậy. Thì con voi nói : « Bữa hôm con cọp gặp, biểu tôi thì ngày kia tháng nọ tới chỗ nọ, nộp mình cho nó tới nó ăn thịt, mà nay đã gần tới kì; không biết liệu làm sao. » Thỏ thấy tội nghiệp, thì nói : « Thôi ! Để tôi tính giùm mà cứu cho cho khỏi nó ăn thịt ! Hễ tới ngày, thì lại rước tôi; tôi đi với, tôi làm phước, tôi cứu cho ! »
Đến ngày đi nộp mình, thì voi tới rước thỏ cỡi trên lưng mà đem tới chỗ hẹn. Thỏ dặn voi : « Cứ nằm đó, đừng nói gì hết ! Để mặc tôi ! » Dặn dò xong rồi, cọp đâu vừa tới. Thỏ ngó thấy cọp đến, thì nhảy ra trước đầu, táp một miếng, và táp và nói : « Không có con chi vừa. » Nhảy đàng sau, nhảy bên nầy bên kia, cũng nói làm vậy. Rồi ngó quanh ngó quất, thấy cọp lại : « Ờ ! Ờ ! Có cọp đây ! Thịt cọp ngon hơn thịt voi ! » Cọp nghe nói, thất kinh, không hiểu đặng con gì nhỏ mà dữ làm vậy, vật voi xuống mà ăn, lại đòi ăn tới thịt cọp nữa. Nên nhảy trái ra, chạy miệt dài. Bấy khi thấy cọp chạy, thì kêu hỏi : « Việc gì mà chạy hung làm vậy ? » Thì cọp nói : « Uý ! đừng hỏi ! Cái con chi nhỏ thó mà nó vật voi nó ăn ! Nó thấy tôi, nó nói : « Ờ ! thịt cọp ăn ngon hơn thịt voi ! » Tôi sợ, tôi chạy. »
[tr. 029 — số in 11]
« Anh dắc với tôi tới coi cho biết với. » Cọp nói : « Tao mạnh, lại lẹ chơn. Có sao, tao chạy được; mà bay, đến chừng làm vậy, mà chạy sao khỏi ? » Khỉ nói : « Không hề gì ! Để mầy tôi bứt dây cột xâu lại với nhau, rồi cột vào mình anh ! Rủi có làm sao, anh chạy, anh kéo đùa với tôi theo ; có hề gì ? » Cọp chịu, mới để cột dòng theo sau một bầy khỉ, dắc nhau tới. Tới nơi, ngó vào; thấy con thỏ còn đang táp, làm ào ào trên mình con voi; cọp lại sợ, quày chạy đi. Kéo lết bầy khỉ, va đầu trong gai gốc, chết nhăn răng hết cả bầy, Tới chỗ khỉ, mới dừng lại; thả khỉ ra. Ngó ngoái, lại thấy bầy khỉ nhăn răng nằm thài lai; thì cọp la, mắng nó : « Tao chạy mệt đà hết hơi, mà bay còn vui sướng ! Nỗi gì mà cười ? »
Mạnh, mà dại, mắc chúng quỉ quái hãm mà thua, thì là cọp.
VIII
Thầy trừ chồn cáo.
Cái nhà kia hay nuôi gà nuôi vịt bán; mà bị chồn nó phá nó ăn hết nhiều lắm. Gài bẫy, đánh nó hoài, mà cũng không trừ nó cho lại được. Anh kia nghe vậy, tính gạt ăn của nó một bữa chơi; nên tới nói : « Nghe nói chồn nó phá gà phá vịt đày lắm, có muốn trừ nó, thì tôi trừ cho. » Chủ nhà nghe, chịu liền. Vậy thầy mới biểu đàm bột cho nhỏ, lấy đậu làm nhuần cho lấy một thúng cái. « Đến mai tôi làm phép cho, một bữa thì hết. » Thầy xách cái thúng tới, lấy bột lấy đậu, đem ra, nắn chồn lớn chồn nhỏ để đầy ghế; lại nắn một con lớn hơn hết, để giữa. Rồi đứng dậy, biểu vợ chủ nhà ra lạy. Thầy đứng vòng tay, đọc : « Chồn đèn, chồn cáo, láo dáo ăn gà, tao chẳng có tha, tao tra vào thúng. » Nói vừa rồi, bắt chồn bột, bỏ vào thúng, bẽ lịa bỏ vô túi. Con mẹ nọ, thấy vậy, tiếc, thấy thầy lấy đà
[tr. 030 — số in 12]
nhiều quá, thì nóng ruột, thì lồm cồm chồi dậy, và chạy, và la : « Chồn nào chồn nầy, tôi cũng lấy một chồn ! Rồi ôm con chồn lớn, chạy vô mất.
IX
Thầy dạy ăn trộm thử học trò.
Có ông thầy kia làm thầy dạy phép đi ăn trộm. Học trò cũng được năm bảy đứa. Có một đứa mới vô sau. Thầy muốn thử coi cho biết nó có dạn dĩ lanh lợi hay không; thì thầy dắc nó đi ăn trộm với thầy. Thầy đem rình cái nhà có đứa con gái hay làm hàng lụa. Biết có cây lụa dệt rồi, nó gói, nó để trên đầu giường kề đầu mà ngủ. Thầy mở cửa, biểu nó vô, lấy cây lụa, đem ra. Thầy thì đứng giữ nơi cửa. Nó vào, thắp đèn, ló lên. Coi thầy rồi, thụt đèn, đi thò tay, lấy cây lụa; mà chưa từng, dứng dựa cái giường, sợ run rẩy, động con ấy thức dậy, nắm đầu chú bợm. Nó thất kinh kêu : « Nó nắm được đầu tôi rồi, thầy ôi ! » Thầy nó mới nói mưu : « Tưởng nắm đầu chớ nắm đầu, không hề gì ! Nắm mũi kia, mới sợ. » Con kia nghe, tưởng nắm mũi chắc, bỏ đầu, nắm lấy mũi; nó dựt, nó chạy ra được. Mỏ ông, làng xóm chạy tới rượt theo. Nó sợ quá, nhè bụi tre gai, chun vào trỏng. Gai đâm trầy da, nát cả và mình; mà khi vậy không biết đau. Thủng thẳng càng lâu càng đau, nhức nhôi rát ráo lắm. Còn ông thầy chạy thẳng về nhà ngủ. Sáng ngày ra, thầy nói với vợ nó phải lo mà đi kiếm nó về, chỉ phải đi kiếm đàng nào. Vợ nó ra đi kiếm. Nó ở trong bụi tre gai, thấy còn đi ngang qua, mới kêu vô : « Mầy về nói với thầy cứu tao với. Tao hồi hôm sợ quá, chun vô đây. Họ rượt thét lấy, chun đại vào, không biết đau; bầy giờ chun ra không được; mình mẩy nát hết. » Vợ nó về thưa lại với thầy. Thầy
[tr. 031 — số in 13]
xách gậy ra, nó lạy lục, xin cứu. Thầy nó mới vùng la làng lên : « Bớ làng xóm ! Thằng ăn trộm đày ! » Nó sợ đã sẵn, thất kinh quên đau, vụt chạy ra được. Về nhà, thuốc men hai ba tháng, mới lành.
Còn có thằng học trò khác dạn lắm, thầy nó muốn thử coi nó có ngoan, biết làm mưu mà thoát thân khi túng nước hay không, thì đem anh ta tới nhà kia giàu lắm. Thầy đánh ngạch, vô được. Dở rương xe ra, biểu nó vô khuân đồ. Nó chun vô. Ở ngoài, thầy khóa quách lại, bỏ đó, ra về ngủ. Nó ở trỏng, không biết làm sao ra cho được; mới tính dùng mưu. Vậy nó lấy hết các áo quần tốt, mặc vào sùm sùm sề sề; lại lấy cái bung, đội trên đầu, khuất mặt khuất mày đi hết. Ở trong rương mới kêu lên : « Ớ chủ nhà ! Ta là thần ! Bấy lâu nay ta ở với cho mà làm giàu; nay mở rương, cho ta ra đi dạo chơi ít bữa. Mở rương rồi, đờn bà ô uế phải đi đi cho xa ! Còn đờn ông, thì phải nhang đèn; mà đứng nới ra xa xa, đứng có lại gần, không nên ! » Trong nhà ngờ là thần thật, vật heo vật bò để tạ thần. Lại có mời tổng xã tới thị đó nữa. Dọn dẹp xong tiệm tất, mở rương, chồng nắp lên, dẹp lại hai bên, đứng ra xa xa, chờ ông thần ra. Đàu ở trỏng thầy mặc đồ sùm sề, đầu đội cái bung đen đen đi ra. Rồi đi luôn đi phán dạy ai có muốn cúng dàng vật chi, thì đi theo sau xa xa. Tới chùa, thần mới vô ngự cho mà lạy. Thiên hạ ai nấy nghe đồn, rủ nhau đô hội đi theo coi.
Tới cái chùa kia, ông thần vô chùa leo trên bàn thờ ngồi, cất cái bung đi. Thiên hạ vô, thì đứng xa ngoài sàn, không dám vô. Bữa ấy, anh học trò nhát mà bị chúng rượt chun bụi tre gai có đi theo coi. Biết là bạn học mình, thì thưa với quói chức, xin cho va vô va coi cho gần. Mà mắc có lời thần đã phán : « Hễ ai lại gần thì thần phạt, sạt máu ra mà chết ! » Làng tổng mới nói với nó : « Mặc ý muốn chết, thì vô ! Nó bươn, nó vô leo lên đàng sau, dòm mặt biết. Anh kia mới nói : « Anh đừng có nói ra ! Để nữa về, tôi chia đồ cho ! » Nó không tin,
[tr. 032 — số in 14]
nói : « Rồi về, anh chôi đi, anh không chia. » Anh kia nói : « Không, thì thề ! » Thằng nọ hỏi : « Thề làm sao ? » Nó nói : « Anh le lưỡi, tôi liếm, rồi tôi le lưỡi, anh liếm, thì là thề đó ! » Vậy thằng kia le lưỡi ra. Anh nọ cắn ngang, đứt lưỡi đi, máu chảy ra dầm dề. Nó chạy ra, mà nói không được, lấy tay chỉ biểu làng vô bắt. Ai nấy thấy máu mủ vậy, thì ngờ là nó bị thần phạt sạt máu, liền sợ thất kinh, bỏ chạy ráo. Thần ta mới mang đồ, về nhà thầy, chia cho thầy mà đền ơn. Thầy khen nói : « Mầy học phép ăn trộm được rồi đó ; có muốn ra riêng, thì thầy cho ra được. »
X
Thằng đi làm rể.
Có một thằng ít oi thiệt thà, không biết gì hết. Mà đến tuổi phải lo đôi bạn với người ta, mới tính đi cưới vợ. Đi coi rồi, mượn may dong đi nói. Đàng gái chịu gả, cho bỏ trầu cau. Mà phép hễ có miếng trầu miếng cau rồi, thì phải đi làm rể ; mà nó không biết làm rể là làm sao. Lấy làm khó lòng, mới hỏi thăm ông may : « Chớ làm rể phải làm làm sao ? » Ông may mới dạy rằng : « Đạo làm rể, hễ thấy ông gia làm giống gì, thì phải dành lấy mà làm ; hễ thấy làm đi gì, thì phải làm theo như vậy. » Bữa ấy, tới nhà làm rể. Cơm nước rồi, cha vợ nó xách rựa đi đốn cây, nó cũng vác rựa mà đi theo. Ông lại cây nầy, mới kê rựa vào đốn, thì nó lại nói : « Cha để tôi đốn cho ! » Cha nó nghe, thì để cho nó mà qua cây khác. Nó cũng lại, nó nói làm vậy. Ông cũng để cho, ông đi cây khác ; nó lại nó cứ dành hoài. Ông gia nó thấy vậy, mới sinh nghi có khi nó điên chăng ; nên dựt mình đâm đầu chạy đi. Ngó ngoái lại, thấy nó lăn căn chạy theo, lại càng thêm nghi. Chạy rớt cái khăn mắc trên bụi tre. Nó thấy vậy, nó cũng lột cái khăn của
[tr. 033 — số in 15]
nó, mà ném lại đó như cha vợ nó vậy. Ông gia nó mới tin chắc nó là điên thiệt, nên cong lưng chạy riết về nhà. Thở hào hển chạy ngay vô nhà, thấy mụ ngồi trong bếp đang thổi lửa, mới đá mồng mủ một đá, biểu chạy trốn đi, thằng rể nó diên thiệt. Chàng rể chạy, thấy bà mẹ còn đó, cũng bắt chước, giợ chơn, đá mụ một đá như ông vậy. Hai ông bà chạy, chun núp dưới vựa lúa. Nó cũng chun theo. Hai ông bà thất kinh hồn vía, sợ dại nó có làm hung chăng, mới la làng lên. Nó cũng bắt chước, la làng lên nữa.
XI
Học phép hà tiện.
Anh kia đi tìm thầy dạy học phép hà tiện. Tới nhà thầy, hỏi thầy phải mua chi mà làm lễ cúng tổ. Thầy mới biểu đi mua một cái bánh tráng mà thôi, đừng có mua gì nữa mà tốn tiền. Nó mới đi chợ mua cái bánh tráng, lại có mua một con gà, ôm về. Thầy nó thấy gà, thì la : « Cái thằng dại ! Ai biểu mua gà làm chi cho uổng của ? » Học trò mới thưa với thầy : « Tôi tính làm vậy, nên mới mua gà : « Là khi bẻ bánh tráng mà ăn, thì làm sao cho khỏi rớt vụn vần xuống cũng uổng ; nên mua gà để phòng khi nó có rớt mảnh mùn, thì nó lượm nó ăn, lớn lên thì bán, được lời. » Thầy nghe nói lý ấy thì nói : « Thôi ! Mầy hà tiện quá cha tao đi rồi ! Còn đi học gì nữa ? »
[tr. 034 — số in 16]
XII
Láo dinh láo quề.
Hai đứa kia có một tài đi nói láo mà ăn mà thôi. Một đứa láo dinh, một đứa láo quề. Hai đứa đi đàng gặp, nói chuyện vãn với nhau. Đâu vừa đến cái sông, mới rủ nhau mà tắm cho mát, kẻo trời nóng nực lắm. Thằng điếm quê muốn nói láo mà gạt thằng kia chơi; thì buộc năm tiền vào lưng, không cho thằng kia thấy, mới lặn xuống dưới nước một hồi, rồi trồi lên, tay xách năm tiền, mà nói rằng : « Anh ! Nầy ! tôi xuống dưới, tôi gặp hai ông tiên ngồi đánh cờ tướng với nhau; tôi ngồi ghé lại, tôi coi. Thì hai ông cho tôi năm tiền, biểu tôi thì đi đi, đứng có coi nữa. Tôi mừng, xách tiền trồi lên. » Thằng kia biết nó nói láo, thì tính bẻ lật độ nó chơi; nên mới nói : « Để tôi lặn xuống, tôi coi thử, có khi các ông sẽ cho tôi chăng ? « Nó mới lặn xuống, quào dưới bùn, lấy miếng sành, rạch mặt cho trầy ra, rồi trồi lên, kêu thằng kia : « Anh ơi ! tôi xuống, gặp hai ông tiên đó, mà họ giận, họ nói : » « Tao đã cho thằng trước năm tiền, biểu về mà chia nhau, sao mầy còn xuống đây làm chi nữa ? » « Thì họ lấy bàn cờ mà quăng, là mặt tôi đi đây. » Té ra điếm mác điếm. Thằng kia phải chia cho nó hai tiền rưỡi; ăn trọn một mình không được.
XIII
Anh học trò sữa liền Triều đình đặt.
Có người học trò còn nhỏ tuổi mà đã già chữ nghĩa lắm. Lúc dọn phủ cho đức ông nhứt ở, thì triều đình có hội nhau
[tr. 035 — số in 17]
lại mà đặt một câu liễn cửa ngõ đức ông. Đáp chữ vôi thếp vàng từ tề. Hai câu ấy đặt như vậy :
« Tử năng thừa phụ nghiệp ; Thần khả báo quân ân. »
Anh học trò đi ngang qua cửa thấy câu liễn, đứng lại coi, không ưng ý. Đi học về giận đứng đi đó, không cất nón. Quân canh nhựt cửa đó liền bắt ; hỏi sao vô phép không có cất nón : « Có biết đó là phủ ông nào chăng ? » Người học trò nói : « Tôi biết, mà mắc tôi giận, thấy câu liễn đặt không nhầm, nên quên lấy nón xuống. » Quân, mới dẫn vào thái tử đông cung. Đức ông hỏi. Người học trò cũng cứ khai thiệt làm vậy. Chừng Đức ông cho mời đình thần vào, mới kể tự sự cho các quan nghe rằng : « Tên học trò chê câu liễn các quan đã đặt ngoài cửa. » Vậy mới hỏi học trò : « Vì làm sao mà chê ? Bây giờ có dễ sửa lại hay không ? » Thì anh học trò nói : « Đặng. » Đức ông biểu : « Bẻ làm sao thì bẻ đi, rồi sửa đi thử coi. » Anh học trò mới bẩm : « Câu liễn ấy thất lễ, là vì đặt con đứng trước cha, tôi đứng trước vua. » Làm vậy sao cho phải ? » Ừ ! Nói nghe được ; mà bây giờ sửa lại làm sao ? » Bẩm lịnh các ông lớn, sửa lại như vầy, thì hay quyết đi thôi :
« Phụ nghiệp tử năng thừa ; Quân ân thần khả báo. »
Các quan ai nấy đều khen, vua cho người ấy đậu tân sĩ, lại ban cho một ngàn quan tiền thưởng tài. Triều đình lại thưởng hai ngàn nữa.
XIV
Thầy bói : « Bụng làm, Dạ chịu. »
Có một anh bất tài chẳng biết làm gì mà ăn, mới đi học làm thầy bói. Bói nhiều quẻ, cũng khá ứng ; nên thiên hạ tin,
[tr. 036 — số in 18]
đua nhau đem tiền đến xin bói. Làm vậy ăn tiền cũng đã khá, lại càng ra dạn dĩ, càng đánh phách, khua miệng rản. Bữa kia trong đền vua có mất con rùa vàng. Kiếm thôi đã cùng đã khắp, mà không ra. Người ta mới tâu có anh thầy bói kia có danh, xin cho rước va tới mà dạy gieo quẻ bói thử, họa may có được chăng. Vậy vua giáng chỉ dạy sắm võng dá, quân gia, dù lọng, cho đi rước cho được anh ta đem về. Thấy quân gia rần rộ tới nhà, trong bụng đà có lo có sợ, không biết lành dữ dường nào. Chẳng ngờ nghe nói vua đòi đến bói, mà kiếm con rùa vàng của vua mất đi. Trong lòng đã bàn bíu, lo đái ra cay, sợ e bói chẳng nhằm mà có khi bay đầu đi. Mà phải vưng, phải đi đánh liều mặc may mặc rủi. Bịt khăn, bận áo, bước lên võng, ra đi. Nằm những thở ra thở vô, không biết liệu phương nào. Mới than rằng : « Bụng làm, dạ chịu ! Chớ khá than van ! » Chẳng ngờ may đâu hai tháng khiêng võng, một đứa tên là Bụng, một đứa tên là Dạ, là hai đứa đã đồng tình ăn cắp con rùa của vua. Nghe thầy nói làm vậy, thì ngờ là thầy thông thiên đạt địa đã biết mình rồi; sợ thầy tới nói tên mình ra, vua chém đi; cho nên để võng xuống, lại lạy thầy, xin thầy thương xót đến mình, vì đã dại sinh lòng tham, mới ăn cắp con rùa ấy mà giấu trên máng xối : « Xin thầy làm phước, đừng có nói tên ra, mà chúng tôi phải chết tội nghiệp ? » Anh thầy nghe nói, mới hớ hơi được, đem bụng mừng, thì mới nói : « Thôi ! Tao làm phước, tao không có nói đâu mà hòng sợ ! » Tới nơi, anh ta bói xong, kiếm được rồi, vua trọng thưởng ; lại phong cho chức sắc. Về vinh vang ; mà vốn thiệt là việc may đâu mà nên mà thôi ; chẳng phải là tại va có tài nghề chi đâu.
Ở đời có nhiều người nhờ vận may mà nên mà thôi, chớ chẳng phải tài tình chi.
[tr. 037 — số in 19]
XV
Đại-trượng-phu với Quân-tử.
Thuở xưa kia có hai người anh em bạn thiết, một người tên là Đại-trượng-phu, người kia tên là Quân-tử. Anh trước giàu có, anh sau thì nghèo, năng tới lui chơi bời với nhau. Hai vợ chồng anh Đại-trượng-phu thấy anh kia nghèo cực, thì nói : « Thôi ! Anh nghèo, không có vốn mà buôn bán ; có muốn lấy năm ba trăm chi đó, thì lấy mà dùng làm vốn đi buôn, cho té ra một hai đồng mà chi độ thế nhi. » Anh Quân-tử nghĩ đi nghĩ lại : « Mình lấy thì được đó, hai vợ chồng cũng tử tế, có lòng thương ; mà mai sau, rủi có lỗ hay là có đều nào, thì biết lấy chi mà trả ? Nên không dám lãnh ; nghèo, thì chịu vậy. Cám ơn anh chị có lòng với em út ! Tôi tính cũng không buôn bán chi mà hòng lấy của anh khó lòng. »
Vợ chồng Đại-trượng-phu, nhà thôi đã đủ đồ, chẳng thiếu vật chi ; đồ nữ trang cũng hiếm, chẳng thiếu gì ; mới tính với nhau lấy vàng, đem cho thợ kéo ra đậu một con rùa vàng để chơi. Đưa năm lượng. Cách ít lâu, Quân-tử lại nhà chơi. Đại-trượng-phu mới hỏi : « Anh đã có thấy rùa vàng hay chưa ? » Rùa vàng hiếm chi, thiếu gì ? » « Không ! Không phải rùa vàng ngoài đồng đâu ! Cái nầy là rùa vàng làm bằng vàng thật. » « Cái thì chưa thấy. » Đại-trượng-phu mới biểu vợ đi lấy đem ra coi. Coi rồi, để trong cái dĩa, ngồi uống rượu, nói chuyện hoài, rót thêm rót thêm hoài, hai anh em say nằm ngủ, quên đi. Thằng con trai anh Đại-trượng-phu đi học trường xa chạy về thăm nhà. Thấy con rùa tốt, gói trong khăn, cầm đem đi chơi. Đến khi tỉnh dậy, quên lửng con rùa vàng. Quân-tử từ giã, kiếu về. Một chặp lâu, Đại-trượng-phu sực nhớ lại con rùa, chạy vào hỏi vợ. Vợ nói không có cất. « Khó a ! Không biết tính
[tr. 038 — số in 20]
làm sao ! Không có lẽ nghi cho anh em, người có bụng dạ tốt. » Thôi ! bữa nào cha nó có đi lên nhà Quân-tử chơi, thì hỏi mánh rằng : « Hôm trước đó, con rùa vàng, anh có cầm về cho chị coi không ? » Chẳng lành thì chớ, Quân-tử sợ anh em nghi, thì chịu bốc lấy mình có cầm về. Đại-trượng-phu mới nói : « Thôi ! Để đó mà chơi, hề gì ? Bước chơn ra về. Hai vợ chồng Quân-tử không biết tính làm sao lo mà trả cho được. Người ta thấy mình nghèo, người ta nghi, cũng phải ; không phép chôi đi. Vậy mới bán nhà bán cửa, dắc nhau đi tới với ông Phú-trưởng-giả, giàu có muốn hộ. Vào lạy ông, xin ở làm tôi, mà xin năm lượng vàng làm rùa mà trả cho anh em. Ông Phú-trưởng-giả nghe biết việc, thì lấy vàng, kêu anh thợ làm con rùa trước tới làm, rồi giao cho hai vợ chồng đem về trả. Mà không cô thân, giúp mà thôi. Đàng kia cũng không chịu, cứ ở làm bộ hạ chơn tay.
Cách đôi ba bữa, con trai Đại-trượng-phu, chơi no con rùa, cầm về đi về thăm nhà luôn trót thể. Vào, mới nói : « Cha mẹ, thì thôi ! hồm, may là tôi ! Phải người ta lạ, người ta đã lấy mất con rùa vàng đi, còn gì ? » Hai vợ chồng chưng hửng, lấy làm lạ. « Mẻ ! Rùa nào con mình lấy đi chơi, rùa nào anh kia đem trả, không hiểu được. » Mới định chừng có khi anh Quân-tử sợ mình có ngại lòng ảnh, nên mới làm rùa khác đem mà thế. Đại-trượng-phu lật đật chạy lên trên nhà Quân-tử hỏi thăm ; thì người ta nói : « Quân-tử bỏ xứ, đi đâu trên ông Phú-trưởng-giả, cô thân mà lấy vàng thường con rùa vàng nào đó. Nghe nói vậy, không biết nữa. « Nghe vậy, lại càng thêm lo. Tìm tới nhà Phú ông, hỏi thăm có hai vợ chồng Quân-tử hay không. Người ta nói có, kêu ra. Hai đàng khóc ròng. Đại-trượng-phu vào trả con rùa vàng cho Phú ông mà lãnh hai vợ chồng Quân-tử về. Phú ông là người nhơn, không chịu lấy rùa. « Anh có mượn của tôi sao anh trả ? Còn hai vợ chồng Quân-tử, tôi có bắt buộc chi mà anh xin lãnh ? » Tính không xong. Trả vàng, không lấy ; hai vợ chồng Quân-tử mắc nợ, không đi ; trả rùa cho
[tr. 039 — số in 21]
Quân-tử, Quân-tử không lấy. Túng mới đề điệu nhau ra quan mà xin quan xử. Té ra ba nhà hết thảy đều thật là người ngay lành trung trực. Chẳng biết kẻ của cải ra giống gì, nguyên lo tu đạo đức, lấy nhơn ngãi mà ở với nhau. Ấy mới thật là người Quân-tử.
XVI
Bạn học người đậu người không.
Hai anh em bạn học kết nghĩa với nhau đã lâu. Có một anh tốt phước, đi thi đậu, về làm quan vinh vang tử tế ; mà bụng không được tốt mầy, mắc tham tâm mà quên nhơn ngãi. Bữa kia anh học trò lở vận tới dinh đi thăm. Cậy quân vô bẩm ; nó ra, nó nói ngài giấc, ngài ngơi, đợi không được. Lại về. Bữa khác cũng tới làm vậy ; thì ngài lại mắc việc khác, không ra khách được. Là vì thấy tới mặt không, không có lễ mễ gì ; nên lánh đi. Anh kia lèo đèo tới hoài đã năm ba phen, mà không có gặp mặt ; thì về mua một con heo choai, quay vàng lườm, để vô mâm, bưng tới. Quân vô bẩm, ngài nghe có lễ ngãi, lật đật mang áo ra. Chào, hỏi sơ sài lều lảo ba tiếng, biểu quân cầm một miếng trầu, chàm một điếu thuốc đem lại đưa cho. Anh ta lãnh lấy, xăm xuôi đem lại nhét trong miệng con heo ; đứng vòng tay, lạy con heo ba lạy : « Già ơn mầy, vì bởi nhờ có mầy, nên tao mới vào được cửa quan mà thăm bạn củ tao ! » Rồi bỏ ra về một thể, chẳng thèm tới lui nữa.
[tr. 040 — số in 22]
XVII
Hang Từ-thức.
Ở ngoài bắc có một cái hòn tự nhiên bốn bề đá dựng ; đêm ngày sóng tạt bồ ầm ầm. Người ta đặt tên là hang ông Từ-thức. Do cái chuyện nó người ta bày làm vầy :
Thuở xưa kia, vua tính xây một cái thành chỗ đồng nội kia. Thình lình chỗ ấy có mọc lên một cây vô danh, bông lá lạ thường, đã xinh, mà lại thêm thơm nữa. Ai nầy đều định phải đem dưng cho vua. Vậy mới cho dàn canh giữ nhặt nhiệm, kẻo sợ người ta hái bông đi. Thiên hạ đồn dực, đâu đó rủ nhau tới đó coi. Tiên ở hòn nói trước nầy cũng đua nhau đi coi. Mà có nàng Giáng-hương tiên xinh tốt lại gần rờ rẫm cái hoa, rủi rụng xuống. Quân lính mới bắt lại đó. Xúm lại, xin nói, gảy lưỡi cũng không tha. Vừa may có ông Từ-thức, là ông quan lão, nghe đồn, cũng đi tới coi cho biết. Bước vô, thấy bắt buộc làm vậy, thì hỏi lính : « Tội tình chi mà bắt trói người ta lại ? Người ta là con gái, mà bắt làm gì tội nghiệp vậy ? Tha người ta đi ! » Lính bẩm : « Bẩm ông, cô nầy ở đâu không biết tới coi, lấy tay núm cái hoa, nó rụng xuống nơi tay ; tôi bắt cổ lại đây. Bây giờ ông dạy tôi tha, tôi có dám tha ở đâu ? » Ông Từ-thức mới cởi áo, đưa cho thằng lính cho nó đặng nó tha nàng Giáng-hương đi. Sau về nhà. Ông Từ-thức mới nhớ mường tượng hình nhan nàng con gái mình cứu ; trong lòng nó bất khoăn khoái, nhớ thương, ước cho đặng gặp mặt lại, mới phi tâm lòng. Ra vô bàng khuâng tư tưởng, ăn chẳng ngon, nằm chẳng ngủ ; thao thức cả đêm. Đang chừng nửa đêm, lồm cồm chờ dậy, kêu một đứa hầu thổi lửa thắp đèn ; rồi ông cuông gói, xuống chiếc xuồng, cầm dầm bơi đi, đi bơ vơ, chẳng biết đi đâu. May đâu đi tới hòn tư bể đá dựng đứng, lại
[tr. 041 — số in 23]
có cái cửa vô ; mà cửa đóng. Vậy ông viết thơ, dán nơi cánh cửa ; bỗng cửa tự nhiên khi không mở ra. Ông vào, thấy còi tiên vui vẻ, cứ xăm đi tới hoài ; ngó trước, thấy nàng Giáng-hương ra rước vô cung ở đó vui vẻ đủ no mọi đàng. Đến bữa nàng Giáng-hương phải đi chầu bà chúa tiên, thì đóng cửa lại, dặn ông ở nhà làm gì thì làm, mà đừng có mở cái cửa sau mà khôn ; đến nữa, phải trở về, không được ở đó nữa. Dặn dò trước sau phân minh, nàng ấy ra đi. Ông Từ-thức ở nhà nghi hoài : « Mẽ ! Nầy ! Không biết ý làm sao mà biểu đừng mở cửa sau ! Có khi bên kia có giống gì xinh tốt quí báu hơn bên nầy, nên cổ cầm mình vậy chăng ? » Lục tặc tới cửa, mở phứt ra. Ngó ra, thấy thế gian ; khi ấy mới nhớ nhà. Vậy các tiên ở đó nghe động đất, thì biết ; nên về, đuổi ông Từ thức về, không cho ở nữa. Tưởng là mới đâu vài ba bữa. Ai hay ! Về kiếm nhà không được ! Nhớ chắc chỗ củ ; mà vào hỏi, thì chẳng thấy một ai quen biết. Hỏi thăm nhà ông Từ thức, thì họ nói họ không có biết, cũng không có nghe tên ấy bao giờ. Hỏi mấy ông già bà cả ; thì người ta nói : « Thuở trước, đời vua kia vua nọ, thì có ông quan lão tên là Từ-thức ; mà ông chết đã hơn ba bốn trăm năm nay rồi, còn ở đâu ?
XVIII
Ông huyện xử tội con ruồi.
Một người kia ở xứ rầy, bái quê mùa. Đến bữa nó đơm quải, dọn ra một mâm cúng ; thì con ruồi lên đậu ăn. Thì người chủ giận sao nó có xác ; mới đi thưa với ông huyện rằng : Lạy ông, tôi cúng cho cha mẹ tôi, mà con chi không biết nó bay lên, nó ăn trước đi, hỗn hào quá lắm. Ông huyện mới biểu nó : « Hễ nó hỗn hào vô phép, thì gặp nó đâu đánh nó đó ! »
[tr. 042 — số in 24]
Nói vừa buông miệng, con ruồi ở đâu bay lại, đậu trên má ông huyện ấy. Thì thằng ấy nói : « Bẩm ông, ông mới xử nó làm vậy, mà nó còn dễ ngươi, nó tới đậu trên mặt ông. » Và nói và giơ tay ra, giăng cánh, đánh một và trên mặt ông huyện xứng vứng.
XIX
Con beo nhờ ông già cứu, rồi đòi ăn thịt ông già đi.
Ngày kia con beo buồn bát khí võng, đi dạo sơn thủy chơi. Thình lình nghe tiếng chó sói đi săn. Khỉ, cái nghiệp nó hay giớn giác. Nghe động rừng thất kinh, quăng vòng, trèo lên cây, ngồi hết. Còn con beo cong lưng chạy miết dài. Chó sói cứ rượt mãi. Con beo túng nước, sợ có khi nó bắt được ; may đâu gặp một ông già, theo lạy lục, xin ông già cứu. Ông già không biết làm làm sao ; mới mở cái đày, ông biểu nó chun vô ; rồi thắt lại, vác trên vai, mà đi. Chó sói chạy tới, thấy đâu mất đi ; mới hỏi thăm ông già. Ông già nói không có thấy. Chó sói bỏ về. Ông già đi được một đồi xa xa, rồi mở miệng đày, thả con beo ra. Con beo, phần thì mệt, phần thì đói bụng quá chừng, nó đòi ăn thịt ông già đi. Ông già nói : « Tao làm ơn, cứu mầy cho khỏi miệng chó sói, mà mầy đòi ăn thịt tao à ! » Con beo nói : « Cứu gì, ông ? Ông bỏ tôi vô đày ngột, thiếu một chút nữa, chết còn gì ? Bây giờ đói bụng quá, phải ăn, mới xong ! » Ông già nài : « Thôi ! Thì đi hỏi chứng cớ cho hẳn hòi, rồi sẽ ăn. » Vậy tới chòm cày cao lớn, dắc nhau lại hỏi ; thì cày nói : « Người ta là giống bất nhơn. An nó đi ! Để làm chi ? » Mầy tôi hằng giúp nó, làm nên lương đông nhà cửa, mà nó còn lấy búa lấy rìu, nó chặt chém chúng tôi hoài. Ơn ngãi gì mà để ? An đi ! » Con beo nói : « Đó còn từ chôi gì nữa ? » Nó
[tr. 043 — số in 25]
xốc lại, nó đòi ăn. Ông già lại nói : « Cày côi biết gì ? Nói vậy chưa đủ tin ! » Dắc nhau đi tới nữa. Gặp một bầy trâu già. Con beo lại hỏi : « Có nên ăn đi hay không ? » Thì trâu nói : « Chúng tôi làm đầy tớ nó già đời, cày bừa lam ruộng cho có lúa gạo cho nó ăn cho no ; đến khi chúng tôi chết rồi, nó còn phân thây xẻ thịt. Cái xương thì làm vạch, da thì bịt trống, đóng giày đóng dép, cứt thì làm phân ; không có biết công ơn chúng tôi chút nào, huống gì là anh ? An nó đi, là đáng lắm ! » Con beo lại đòi ăn. Ông già nói : « Lục súc vô đồ, cũng chưa có chắc ; lời tục ngữ có nói rằng : « Sự bất quá tam. » Xin mầy để đi hỏi một lần nữa, rồi mầy hãy ăn tao cho đáng sô tao. » Dắc nhau đi nữa một đồi đàng khá xa ; mới gặp một người còn trai đi đường, đứng dừng, lại hỏi ; thì người biểu nói gốc tích lại ban đầu cho nó nghe ; nghe biết rồi, mới nói : « Nào con beo hồi đầu mầy thàu mình lại mà chun vô đày ông già làm sao, thì làm lại coi thử, rồi hãy ăn thịt ông già. » Con beo chun vô rồi, thì nó thắt miệng đày lại, vô bẻ cày, đập con beo chết đi, và dánh và dặn : « Mầy vô ơn bạc ngãi với kẻ làm ơn cứu mầy, thì tội mầy, đập chết đi, thì đáng lắm ! »
Lấy đó mà xét, ở đời biết là mấy người bạc tình, đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nơm, chẳng những là bội ơn mà thôi, mà lại dĩ ân báo oán nữa. Mấy người làm vậy bụng dạ vầy vò, chẳng người, thì trời cũng hại nó đi có thuở. Hễ làm lành thì gặp lành, mà làm dữ thì lại gặp dữ, chẳng chầy thì kíp, chạy đàng trời không khỏi. Làm ơn mắc oán là sự thường ; nhưng vậy ơn cũng chẳng mất đi đâu ; làm sao cũng sẽ có trả, chẳng người nầy, thì người khác, chẳng thể nầy, thì thể khác ; nên ai nầy cứ làm lành, thì sẽ gặp lành mà chớ.
[tr. 044 — số in 26]
XX
Con chồn với con cọp.
Ngày kia con chồn đi kiếm ăn trong rừng, mắc hở hang, vô ý sảy chơn, sụt xuống dưới hầm ; chẳng biết làm sao mà lên cho được. Hết sức tính nữa. Than ván thở dài, không bề tận thôi ; như cá mắc lờ tưởng đã xong đời đi rồi. May đâu nghe đi thịch thịch trên đất, mới lo mưu định kế, rồi lên tiếng hỏi rằng : « Ai đi đó ? » Chẳng ngờ là con cọp. Thì làm bộ mừng rỡ mới hỏi : « Chớ anh đi đâu, đi có việc chi ? » Anh cọp nói : « Tôi đi dạo kiếm chác ăn ; mà anh xuống mà làm chi đó vậy ? » Thì anh chồn ta lại trở cách mà nói rằng : « Ủa ! Vậy chớ anh không có nghe đi gì sao ? Người ta đồn đến mai nầy trời sập. » — « Cơ khổ thôi nhưng ! Tôi không hay một đều ! Mà có thật như vậy, hay là người ta đồn huyền vậy anh ? » — « Ấy không thật làm sao ? bởi thật tôi mới xuống đây má núp, kẻo đến nữa mà chạy không kịp, trời dè, giập xương chết đi uổng mạng. Mà anh ! Chẳng qua là nghĩ tình củ ngãi xưa, tôi mới nói ; chớ như không, thì ai lo phận nầy ! Tôi có nói lăm chi ? » — « Thôi ! Vậy thì xin anh cho tôi xuống đó với anh cho có bạn. » — « Ừ, mặc ý xuống, thì xuống ! » Anh cọp mới nhảy xuống. Chuyện vãn một hồi, rồi anh chồn mới theo chọc anh cọp hoài. Cọp la không đặng ; cứ lèo đèo theo khuấy luôn. Con cọp nổi giận, mới ngăm : « Chọc tôi, thì tôi ném lên cho trời sập đè dẹp ruột đi giờ ! » Anh chồn cũng không nao, càng ngăm, lại càng chọc hoài. Anh cọp hết sức nhịn, mới dỗi quách anh chồn lên : « Rán mát ! Nói không được ! Lên trên trời đè cho bỏ ghét ! » Anh chồn mừng quá bội mừng, thấy mình gạt được anh cọp mắc mớp. Mới chạy đi kêu người ta tới đầm cọp sa hầm.
Đồng tác giả: Claude AI and Học Trò.
Mọi trích dẫn đều phải ghi chú với dòng trên và nói rõ bài khảo luận được lấy từ trang https://hoctroviet.blogspot.com/


No comments:
Post a Comment