10.25.2026

Hai nghìn bốn trăm âm tiết: thống kê từ vựng năm bản Kiều

Nghiên cứu số 8, nghiên cứu cuối trong loạt đề xuất. Các nghiên cứu trước đã soi từng lớp riêng: từ láy, từ đôi, chữ Nôm, luật thơ, chữ Hán Việt, lời chú. Bài này lùi lại nhìn toàn cảnh: Kiều dùng bao nhiêu âm tiết khác nhau, bao nhiêu âm chỉ dùng một lần, phân bố tần suất có theo quy luật Zipf không, và sáu nhóm từ theo chủ đề (màu sắc, trời đất, hoa cỏ, tiền bạc, thân thể, sầu khổ) dày lên ở đoạn nào của truyện. Phần sau cùng là một ví dụ dễ thấy: chữ chỉ tiền bạc dày lên đúng ba lần, ở ba lần Kiều bị đem ra mua bán.


1. Những con số cơ bản

Bản Âm tiết (lượt) Âm khác nhau Âm chỉ dùng một lần "Từ" (lượt) Từ khác nhau Từ dùng một lần
1866 16.722 2.141 620 15.907 2.335 808
1870 22.820 2.376 651 21.694 2.606 832
1871 22.771 2.347 628 21.666 2.577 813
1872 22.809 2.400 654 21.699 2.651 871
1902 22.787 2.376 643 21.671 2.614 830

Cột "từ" đếm từ láy và từ đôi đã duyệt ở nghiên cứu số 1 và 2 như một đơn vị (bâng khuâng là một từ, không phải hai âm tiết), còn lại mỗi âm tiết là một từ. Đây là cách đếm thô (các từ ghép khác như hồng nhan, đoạn trường vẫn bị tách đôi), nhưng nó cho thấy hướng thay đổi: gộp từ láy và từ đôi làm số lượt giảm khoảng 1.100 và số "từ" khác nhau tăng khoảng 230, vì mỗi từ láy, từ đôi là một đơn vị mới.

Kiều dùng khoảng 2.350 đến 2.400 âm tiết khác nhau trên khoảng 22.800 lượt. Khoảng 650 âm (hơn một phần tư số âm khác nhau) chỉ xuất hiện đúng một lần trong cả truyện.

Để so được với bản 1866 (ngắn hơn vì thiếu trang), có thể đếm số âm khác nhau trong từng khúc 2.000 âm tiết liên tiếp rồi lấy trung bình:

Bản 1866 1870 1871 1872 1902
Số âm khác nhau / 2.000 âm tiết 819 821 812 818 818

Năm bản gần như bằng nhau: trong mỗi khúc 2.000 âm tiết (khoảng 285 câu) có hơn 800 âm khác nhau. Độ phong phú từ vựng không đổi qua các bản in; những khác biệt văn bản ở nghiên cứu số 4 không làm giàu thêm hay nghèo đi kho từ.

2. Những âm tiết dùng nhiều nhất

Ba mươi âm tiết dùng nhiều nhất trong bản 1870:

một (317), đã (271), người (221), nàng (199), là (187), lòng (183), cũng (179), lời (171), cho (167), rằng (166), có (161), lại (152), ra (146), hoa (131), còn (124), tình (122), ai (115), đâu (115), mới (115), trong (111), mà (111), đến (111), biết (111), này (109), chẳng (107), mình (105), nhà (102), nào (99), thân (98), càng (95).

Phần lớn là hư từ và từ thông dụng, như mọi văn bản tiếng Việt. Nhưng xen giữa chúng là sáu danh từ đã đủ kể lại câu chuyện: người, lòng, lời, hoa, tình, thân. Một đứng đầu (317 lần), phần nhiều trong những cấu trúc như "một mình", "một lời", "một nhà", "một ngày", và trong khung "một… một…" ở nghiên cứu số 2.

3. Quy luật Zipf

Theo quy luật Zipf, nếu xếp các từ theo tần suất giảm dần thì tần suất xấp xỉ tỉ lệ nghịch với thứ hạng. Trên đồ thị log–log, các điểm nằm gần một đường thẳng có độ dốc khoảng −1 với văn xuôi thông thường.

Đo trên 1.000 âm tiết dùng nhiều nhất của mỗi bản:

Bản 1866 1870 1871 1872 1902
Độ dốc Zipf −0,834 −0,836 −0,840 −0,844 −0,835

Độ dốc khoảng −0,84, thoải hơn −1. Nghĩa là những từ đứng đầu không áp đảo như trong văn xuôi, và tần suất được trải đều hơn xuống các từ ít gặp. Điều này hợp với thể thơ: câu lục bát ngắn, ít chỗ cho hư từ lặp lại, và luật vần buộc nhà thơ tìm nhiều chữ khác nhau cho vị trí cuối câu. (Cần dè dặt khi so con số này với văn bản khác, vì ở đây đếm âm tiết chứ không đếm từ.)

4. Sáu nhóm từ theo chủ đề

Mỗi nhóm gồm một danh sách ngắn những âm tiết tiêu biểu, đếm trong từng đoạn 100 câu (trung bình bốn bản đủ trang). Đây là danh sách chọn tay, không đầy đủ, và một số chữ mang nhiều nghĩa (hồng là màu và cũng là hoa hồng, châu là ngọc và cũng là nước mắt), nên con số chỉ cho thấy xu hướng.

Nhóm Các chữ được đếm (số lần ở bản 1870) Ba đoạn dày nhất
Màu sắc vàng 79, hồng 58, xanh 40, trắng 10, thắm 8, đen 8, lục 6, biếc 4, tía 2 câu 1–100; 2101–2200; 1901–2000
Trời đất, thời tiết gió 58, mây 50, trăng 43, mưa 34, sương 25, nguyệt 16, tuyết 10, nắng 7 câu 1201–1300; 301–400; 1001–1100
Hoa cỏ, cây hoa 131, mai 38, đào 37, cỏ 22, liễu 20, bèo 15, trúc 14, sen 9, lau 7, lan 7 câu 3001–3100; 1201–1300; 1001–1100
Tiền bạc, buôn bán bạc 31, tiền 23, giá 19, bán 18, của 15, nợ 10, buôn 9, mua 6, lạng 3 câu 2101–2200; 801–900; 601–700
Thân thể mặt 89, tay 80, chân 25, tóc 21, mày 21, gan 15, ruột 14, má 11, mắt 10 câu 1101–1200; 1801–1900; 901–1000
Nước mắt, sầu khổ châu 31, oan 28, sầu 27, đau 25, khóc 12, lệ 9, thảm 8 câu 2901–3000; 2501–2600; 501–600

Vài nhận xét:

  • Màu sắc dày nhất ở đoạn mở đầu (câu 1–100): chân dung chị em Thúy Kiều và cảnh Thanh minh ("Cỏ non xanh tận chân trời"). Vàng là chữ màu dùng nhiều nhất, nhưng phần lớn là vàng trong đá vàng, nghìn vàng, suối vàng: màu của kim loại quý nhiều hơn màu của vật.
  • Trời đất dày nhất ở câu 1201–1300, đoạn Kiều ở lầu xanh tự thương thân: "Mặt sao dày gió dạn sương, / Thân sao bướm thán ong chường bấy thân!" (bản 1870; các bản khác đọc "bướm chán"), "Khi sao phong gấm rủ là, / Giờ sao tan tác như hoa giữa đường?". Gió, sương, mưa ở đây là hình ảnh của đời phong trần hơn là cảnh thật.
  • Thân thể dày nhất ở câu 1101–1200, đoạn Sở Khanh lừa Kiều rồi trở mặt ("Mặt mo đã thấy ở đâu dẫn vào", câu 1170); câu 901–1000 cũng dày, với những lời chửi rủa của Tú bà ("Chẳng mắng vào mặt mà mày lại nghe!").

Tiền bạc: ba lần bị bán

Nhóm "tiền bạc" là nhóm có đỉnh rõ nhất và dễ giải thích nhất. (Ở nhóm này, bạc viết hoa giữa câu bị loại ra, vì đó là họ Bạc của Bạc Bà và Bạc Sinh, không phải tiền bạc. Vàng cũng không được đếm ở đây, vì phần lớn là đá vàng, suối vàng.)

Đỉnh Đoạn Chuyện gì xảy ra
1 câu 601–700 Kiều bán mình chuộc cha; Mã Giám Sinh ngã giá ("Giờ lâu ngã giá chịu ngoài bốn trăm", câu 648)
2 câu 801–900 Mã Giám Sinh và Tú bà: "Chung lưng mở một ngôi hàng, / Quanh năm buôn phấn bán hương đã lề" (câu 813–814)
3 câu 2101–2200 Bạc Bà, Bạc Sinh đưa Kiều về rồi lại bán vào lầu xanh

Ba đỉnh của nhóm chữ tiền bạc rơi đúng vào ba lần Kiều bị đem ra mua bán. Không ai cần máy để biết Truyện Kiều là câu chuyện của một người bị bán. Nhưng thấy chuyện ấy hiện lên từ một phép đếm vài chữ đơn giản là một cách nhắc rằng những con số trong loạt nghiên cứu này, dù khô, vẫn đang đo cùng một câu chuyện mà người đọc cảm thấy.

5. Tổng kết loạt nghiên cứu

Gộp chín nghiên cứu lại, đây là những điều năm bản Kiều của Nom Foundation cho biết khi đếm:

  1. Cứ năm câu có một từ láy, cứ tám câu có một từ đôi, và tỉ lệ ấy như nhau ở cả năm bản (nghiên cứu 1, 2).
  2. Chiều của từ đôi do âm luật quyết định: bằng trắc trước, vần sau (nghiên cứu 2, 5).
  3. Người viết Nôm dùng bộ thủ để "xếp" chữ vào ngăn nghĩa, ở từ láy cũng như ở cách viết từng chữ; bản 1902 thích thêm bộ, bản 1872 thích để trơn (nghiên cứu 1, 3).
  4. Hai nhánh văn bản: Liễu Văn Đường (1866, 1871) cùng Duy Minh Thị (1872), và Bản Kinh 1870 cùng Kiều Oánh Mậu 1902 (nghiên cứu 3, 4).
  5. Luật thơ là máy dò lỗi tốt: bản 1871 có nhiều lỗi riêng nhất, và ít nhất một lỗi đã được ảnh quét xác nhận là lỗi khắc ván (nghiên cứu 5).
  6. Lớp Hán Việt dao động theo cảnh từ khoảng 12% đến hơn 50% (nghiên cứu 6).
  7. Bộ khảo dị của các nhà phiên âm đáng tin cậy ở chín phần mười trường hợp kiểm được (nghiên cứu 7).
  8. Chữ Nôm trong Kiều trải từ vùng mã 1990 đến vùng mã 2025, và phần khác biệt "vô hình" lớn nhất giữa các bản là cách mỗi nhóm phiên âm chọn mã cho chữ chưa chuẩn hoá (nghiên cứu 9).

6. Giới hạn của bài

  • Đếm âm tiết, không đếm từ. Tiếng Việt viết tách âm tiết, và việc gộp thành từ chỉ làm được một phần (từ láy, từ đôi đã duyệt). Các con số "từ" ở đây vì vậy là gần đúng.
  • Nhóm chủ đề là danh sách chọn tay, ngắn, và không phân biệt nghĩa của chữ đa nghĩa (trừ bạc viết hoa).
  • Độ dốc Zipf trên âm tiết không so trực tiếp được với độ dốc tính trên từ ở các ngôn ngữ khác.

Nguồn và lời cảm ơn

Toàn bộ văn bản Nôm, phần phiên âm quốc ngữ, lời chú thích và ảnh quét dùng trong nghiên cứu này là của Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation, Nom Foundation). Hội đã số hoá và công bố miễn phí năm bản Truyện Kiều trên trang nomfoundation.org. Xin chân thành cảm ơn Hội và các nhà nghiên cứu đã phiên âm, khảo dị năm bản này. Không có công sức của họ thì không thể có những phép đếm ở đây.

Bản Tên bản Người phiên âm / biên soạn Nhà xuất bản (bản in) Liên kết
1866 Bản Liễu Văn Đường, Nghệ An Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004 Truyện Kiều bản 1866
1870 Bản Kinh đời Tự Đức Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2003 Truyện Kiều bản 1870
1871 Bản Liễu Văn Đường Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2002 Truyện Kiều bản 1871
1872 Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị Nguyễn Tài Cẩn (Moskva) Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Truyện Kiều bản 1872
1902 Bản Kiều Oánh Mậu Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng (sưu tầm, khảo chú, chế bản Nôm); Nguyễn Đình Thảng (hiệu đính chữ Nôm) — Truyện Kiều bản 1902

Dữ liệu được tải về ngày 24/10/2026 để nghiên cứu cá nhân, phi thương mại.

Written by: Claude AI.

Curator/Editor: Học Trò.

Mọi trích dẫn đều phải ghi chú với dòng trên và nói rõ bài khảo luận được lấy từ trang https://hoctroviet.blogspot.com/

No comments: