10.25.2026

Cùng một chữ, năm cách viết: biến thể chữ Nôm giữa năm bản Kiều

Written by: Claude AI.

Curator/Editor: Học Trò.


Nghiên cứu số 3 trong loạt đề xuất. Mọi chuyện bắt đầu từ chữ lời*: bản Kiều 1870 viết* lời bằng 𠳒 (口 + 𡗶 trời) tới 164 lần, trong khi mộc bản 1879 của Hoàng Xuân Hãn hay khắc lời không có bộ khẩu. Câu hỏi đặt ra: còn những chữ nào như thế, và giữa năm bản Kiều của Nom Foundation thì chữ Nôm khác nhau đến mức nào? Bài này so từng chữ một ở 19.839 vị trí mà cả bốn bản đủ trang cùng có một âm, và trả lời ba điều. Thứ nhất, lời hoá ra là một trong những chữ ổn định nhất. Thứ hai, chỉ khoảng sáu phần mười số chữ được bốn bản viết giống nhau. Thứ ba, mỗi bản có một "phong cách chữ" riêng: có bản thích thêm bộ chỉ nghĩa, có bản thích dùng chữ mượn trơn.


1. Cách so

Hai bản được coi là "đang viết cùng một chữ" khi ở cùng một câu (theo số câu cau_guess), cùng vị trí trong câu, và cùng một âm quốc ngữ. Ví dụ chữ thứ tư của câu 1 phải đọc là cõi ở mọi bản thì mới đem so chữ Nôm. Như vậy những chỗ các bản khác nhau về từ (nghiên cứu số 4) không lẫn vào đây; chỉ còn lại khác biệt về cách viết.

  • Bốn bản đủ trang (1870, 1871, 1872, 1902): 19.839 vị trí gióng được.
  • Cả năm bản (tính cả 1866, bản thiếu 36 trang): 14.557 vị trí.

Theo nghiên cứu số 9, có một vấn đề phải xử lý trước: các mã ở vùng riêng (PUA). Ví dụ chữ mặt được bốn bản ghi bằng một mã PUA, còn bản 1902 ghi bằng mã chuẩn 𩈘, dù trên ảnh quét hai chữ trông cùng một hình. Vì vậy mọi phép đếm được làm hai lần:

  • Cách A: mã PUA là một chữ riêng.
  • Cách B: mã PUA được quy về chữ chuẩn mà các bản khác dùng ở cùng chỗ, khi chữ chuẩn ấy chiếm từ 80% số lần trở lên.

2. Bốn bản viết giống nhau đến đâu?

Cách A Cách B
Vị trí cả bốn bản viết cùng một chữ 12.049 (60,7%) 12.366 (62,3%)

Quy đổi PUA chỉ thêm khoảng 1,6 điểm phần trăm. Nghĩa là PUA không phải nguyên nhân chính; ngay cả khi bỏ qua mọi khác biệt về mã, gần bốn phần mười số chữ vẫn được viết khác nhau giữa các bản.

So từng cặp bản (cách B):

1871 1872 1902
1870 80,4% 73,2% 77,2%
1871 80,5% 78,0%
1872 72,0%

Và bản 1866 so với từng bản (14.557 vị trí):

1866 so với 1870 1871 1872 1902
Cùng chữ 80,3% 95,8% 79,8% 77,9%

Con số 95,8% nổi bật hẳn. Bản 1866 và bản 1871 cùng do hiệu Liễu Văn Đường in, và giống nhau đến từng chữ ở gần 96% vị trí, trong khi mọi cặp bản khác chỉ giống nhau 72% đến 80%. Cộng thêm hai bằng chứng từ các nghiên cứu trước (hai bản có cùng bố cục 136 trang, và có chung những lỗi vần, lỗi trầm bổng ở nghiên cứu số 5), có thể nói chắc chắn bản 1871 thuộc cùng một dòng ván với bản 1866, rất có thể là một lần khắc lại.

Một thí nghiệm tự nhiên

Ba bản 1866, 1870 và 1871 có chung một người phiên âm là Nguyễn Quảng Tuân. Nếu khác biệt chữ Nôm chủ yếu do người nhập liệu, ba bản ấy phải giống nhau như nhau. Thực tế 1866–1871 giống nhau 95,8%, còn 1870–1871 chỉ 80,4%. Người phiên âm không đổi mà mức giống nhau chênh lệch như vậy, nên phần lớn khác biệt giữa 1870 và 1871 phải đến từ chính ván khắc, không phải từ người nhập liệu. Đây là bằng chứng mạnh nhất trong bài rằng những khác biệt chữ đếm được ở đây phần lớn là thật, có trên mộc bản.

(Điều này không loại trừ phần đóng góp của người nhập liệu ở hai bản còn lại. Bản 1872 do Nguyễn Tài Cẩn làm, bản 1902 do Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng chế bản Nôm; với hai bản này không có "đối chứng" như trên.)

3. Chữ ổn định và chữ hay đổi

Ổn định nhất

Trong các chữ xuất hiện từ 80 vị trí trở lên, những chữ sau gần như luôn được bốn bản viết y hệt:

Âm Vị trí Bất đồng Chữ
lòng 164 0 𢚸
cho 153 0 朱
tình 115 0 情
này 98 0 尼
vào 84 0 𠓨
đã 234 1 㐌
lại 129 1 吏
mới 103 1 買
như 86 1 如
rằng 151 2 浪
nàng 187 3 娘
có 143 3 固
trời 89 2 𡗶
hoa 121 3 花

Còn chữ lời?

Bản Cách viết lời (ở các vị trí gióng được)
1870 𠳒 ×152, 唎 ×3, 利 ×2
1871 𠳒 ×153, 利 ×3, 𡗶 ×2
1872 𠳒 ×150, 利 ×2, 調 ×2, 𡗶 ×1
1902 𠳒 ×154, 唎 ×2, 利 ×2

Lời là một chữ rất ổn định: cả bốn bản đều viết 𠳒 ở khoảng 97% số lần. Dạng không có bộ khẩu (𡗶) chỉ xuất hiện ba lần (hai ở bản 1871, một ở bản 1872). Vậy nếu bản 1879 của Hoàng Xuân Hãn thường viết lời không có bộ khẩu, thì đó là một nét riêng của bản 1879, không phải của truyền thống chung mà năm bản này đại diện.

Hay đổi nhất

Những chữ mà ở mọi vị trí, bốn bản không cùng một cách viết (bất đồng 100%):

Âm Vị trí 1870 1871 1872 1902
là 155 羅 𱺵 𱺵 𱺵
ra 141 𠚢 𦋦 𦋦 𫥨
trong 96 𥪝 𥪞, 冲 冲, 𥪝 𥪞
nào 94 𱜢 𱜢 芇 芇
chẳng 93 拯 𫽄 庄 拯
làm 72 爫 𫜵 𫜵 爫
trước 68 𠓀 𠓀, 畧 畧 𠓀
nỗi 56 餒, 浽 浽 浽 餒
gió 55 𩙍 𱢻 𫗄 𫗄
nhau 48 饒 饒 饒, 僥 𠑬
thì 47 𪰛 時 時 時
xưa 46 𠸗 初 初 𠸗
nghĩ 41 擬 𢪀 𢪀 𢪀
cửa 38 𨷶 𲈳 𫔳 𲈾
mưa 31 𩅹 湄 湄 湄
chơi 29 制, 𨔈 制 制 𨔈

(Mỗi ô ghi cách viết chính của bản ấy.)

Bảng này cho thấy một điều quan trọng: khác biệt có tính hệ thống theo từng bản. Bản 1870 viết là bằng 羅 ở cả 151 lần, ba bản kia viết 𱺵 ở gần như mọi lần. Bản 1870 viết thì bằng 𪰛, ba bản kia đều 時. Bản 1872 viết nào bằng 芇 như bản 1902, còn 1870 và 1871 viết 𱜢. Không phải mỗi người khắc ván đổi chữ tuỳ hứng từng câu, mà mỗi bản giữ một bộ chữ của riêng nó cho các từ thông dụng.

4. Khác nhau theo kiểu nào?

Mỗi lần hai bản viết khác nhau ở cùng vị trí (27.502 lần, đếm theo từng cặp bản, cách B), hai chữ được so bằng bảng phân tích hình chữ (IDS):

Kiểu khác Số lần Ví dụ
Một bên thêm bộ chỉ nghĩa 2.707 nơi 尼 / 坭, cũng 共 / 拱, vui 盃 / 𢝙, chơi 制 / 𨔈
Một bên thêm thành phần khác 2.595 người 㝵 / 𠊛, thấy 体 / 𧡊, con 昆 / 𡥵
Cùng phần biểu âm, khác bộ 4.552 nỗi 浽 / 餒, bóng 䏾 / 𩃳, giờ 除 / 𣇞
Cùng bộ, khác phần biểu âm 4.362 nhà 茄 / 茹, trong 𥪝 / 𥪞, chẳng 拯 / 𫽄
Có mã PUA (không phân tích được) 559 dưới, chẳng, chơi
Khác hẳn 12.727 một 𠬠 / 𱥺, là 羅 / 𱺵, làm 爫 / 𫜵

Nhóm "khác hẳn" lớn nhất, nhưng cần đọc thận trọng, vì nó bị phóng đại bởi hai lý do. Thứ nhất, có những cặp rất gần nhau về hình mà phép so không nhận ra: người 𠊚 (⿰亻㝵) và 𠊛 (⿰㝵人) cùng gồm chữ 㝵 và chữ nhân, chỉ khác bên trái hay bên phải. Thứ hai, nhiều chữ thuộc các vùng mã mới như 𱺵 (là), 𱥺 (một), 𫜵 (làm) chưa có trong bảng IDS, nên không phân tích được và rơi thẳng vào nhóm này.

Bộ chỉ nghĩa: lời giải cho câu hỏi lời

Câu hỏi ban đầu là về bộ khẩu, nhưng dữ liệu cho thấy bộ khẩu chỉ là một trường hợp của một hiện tượng chung hơn: một bản viết chữ mượn âm trơn, một bản khác thêm vào đó một bộ chỉ nghĩa. Đếm theo bộ được thêm:

Bộ thêm vào Số lần Ví dụ (chữ trơn / chữ thêm bộ)
亻 (người) 504 người 㝵 / 𠊚, nhau 饒 / 𠑬, phần 分 / 份
口 (miệng) 436 đòi 隊 / 𠾕, dẫu 酉 / 唒, mời 𨑮 / 𠶆, khuyên 勸 / 𡅳, cay 荄 / 𠹽, thuê 税 / 𠾔
扌 (tay) 373 cũng, cùng 共 / 拱, sửa 所 / 𢯢, đổi 対 / 𢬭
氵 (nước) 267 đầy 苔 / 𣹓, rụng 用 / 𣳔, thênh 青 / 清
土 (đất) 182 nơi 尼 / 坭, nẻo 裊 / 𡑩
忄 (lòng) 181 vui 盃 / 𢝙, nhớ 女 / 𢖵, buồn 盆 / 𢞂
辶 (đi) 168 chơi 制 / 𨔈, gặp 及 / 﨤, sang 郎 / 𨖅
日 (ngày) 158 mai 枚 / 𣈕, lúc 六 / 𣅶, hôm 歆 / 𣋚, đêm 店 / 𣈘
阝 65 đà 它 / 陀
月 56 đêm 店 / 𣎀

Bộ được thêm luôn hợp với nghĩa: vui, nhớ, buồn thêm bộ tâm; mai, lúc, hôm, đêm thêm bộ nhật; chơi, gặp, sang thêm bộ sước; đòi, mời, khuyên, thuê (những việc làm bằng lời) thêm bộ khẩu. Đây là quy luật đã thấy ở từ láy (nghiên cứu số 1, mục 6): người viết Nôm dùng bộ thủ để "xếp" chữ vào một ngăn nghĩa. Ở đây cùng một từ, có bản xếp, có bản để trơn.

Bản nào thích thêm bộ?

Đếm, cho mỗi bản, số lần nó dùng dạng có thêm bộ chỉ nghĩa trong khi một bản khác ở cùng chỗ dùng dạng trơn, và ngược lại:

Bản Dùng dạng có thêm bộ (so với bản khác) Dùng dạng trơn (so với bản khác) Riêng bộ khẩu: dạng có 口
1870 806 424 117
1871 442 705 55
1872 283 1.261 63
1902 1.176 317 201

Hai đầu rất rõ:

  • Bản 1902 là bản "thêm bộ" nhiều nhất: đòi 𠾕, nơi 坭, nhau 𠑬, đầy 𣹓, chơi 𨔈, cay 𠹽, mà ba bản kia đều viết trơn. Bản này cũng là bản dùng dạng có bộ khẩu nhiều nhất.
  • Bản 1872 là bản "trơn" nhiều nhất: vui 盃, nhớ 女, gặp 及, lúc 六, đêm 店, người 㝵, khuyên 勸, mà các bản kia đều thêm bộ.

Bản 1870 nghiêng về phía thêm bộ, bản 1871 nghiêng về phía trơn. Bảng chữ cho vài từ tiêu biểu:

Âm 1870 1871 1872 1902
đòi 隊 隊 隊 𠾕
nơi 尼 尼 尼 坭
nhau 饒 饒 饒, 僥 𠑬
đầy 菭, 苔 苔 苔 𣹓
vui 𢝙 𢝙 盃, 𢝙 𢝙
nhớ 𢖵 𢖵 𢖵, 女 𢖵
gặp 﨤 﨤 及 﨤
lúc 𣅶 𣅶 六 𣅶
đêm 𣎀, 𣈘 𣎀 店 𣎀, 𣈘
người 𠊚 𠊛 㝵 𠊛
thuê 𠾔 税 税, 𠾔 𠾔
dẫu 唒 酉 酉 酉

Hai cách viết này phản ánh hai thói quen khác nhau của người làm sách Nôm: một bên viết sao cho chữ tự nói lên nghĩa (thêm bộ), một bên viết gọn bằng chữ Hán mượn âm và để người đọc tự hiểu theo văn cảnh. Bài này không đủ cơ sở để nói vì sao từng bản chọn như vậy; chỉ ghi nhận rằng sự chọn lựa ấy nhất quán trong mỗi bản.

5. Ý nghĩa cho người học chữ Nôm

Với người tự học chữ Nôm qua Truyện Kiều, kết quả này có hai hệ quả thực tế:

  1. Không có "một cách viết đúng" cho mỗi chữ. Cùng chữ người, bốn bản dùng 𠊚, 𠊛, 㝵. Cùng chữ là, có 羅 và 𱺵. Học một bản thì nên biết rằng bản khác có thể viết khác, và cả hai đều là chữ Nôm "thật".
  2. Bộ thủ là manh mối nghĩa, nhưng không bắt buộc. Gặp chữ 盃 trong một câu nói về niềm vui thì nên nghĩ đến vui (𢝙 bỏ bộ tâm), gặp 店 trong câu về ban đêm thì nghĩ đến đêm. Bản 1872 đặc biệt hay đòi hỏi kiểu đọc này.

6. Giới hạn của bài

  • Chỉ so ở vị trí cùng âm. Những chỗ các bản dùng từ khác nhau (mê mẩn / mê mải) không vào bài này.
  • Bảng IDS không nhận ra các biến thể sắp xếp (𠊚 / 𠊛) hay các dạng giản lược (羅 / 𱺵), nên nhóm "khác hẳn" bị phóng đại. Một bảng biến thể chữ Nôm chuyên dụng sẽ chia nhóm này tốt hơn.
  • Phần đóng góp của người nhập liệu chỉ tách được nhờ ba bản cùng một người phiên âm (1866, 1870, 1871). Với bản 1872 và 1902, khác biệt có thể đến từ ván khắc, từ người chế bản, hoặc cả hai.
  • Quy đổi PUA dựa trên chữ đối ứng, tức là giả định rằng chữ PUA và chữ chuẩn trội là cùng một chữ. Nghiên cứu số 9 đã cho thấy điều này đúng với mặt, nhưng chưa kiểm tra từng mã.

Nguồn và lời cảm ơn

Toàn bộ văn bản Nôm, phần phiên âm quốc ngữ, lời chú thích và ảnh quét dùng trong nghiên cứu này là của Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation, Nom Foundation). Hội đã số hoá và công bố miễn phí năm bản Truyện Kiều trên trang nomfoundation.org. Xin chân thành cảm ơn Hội và các nhà nghiên cứu đã phiên âm, khảo dị năm bản này. Không có công sức của họ thì không thể có những phép đếm ở đây.

Bản Tên bản Người phiên âm / biên soạn Nhà xuất bản (bản in) Liên kết
1866 Bản Liễu Văn Đường, Nghệ An Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004 Truyện Kiều bản 1866
1870 Bản Kinh đời Tự Đức Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2003 Truyện Kiều bản 1870
1871 Bản Liễu Văn Đường Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2002 Truyện Kiều bản 1871
1872 Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị Nguyễn Tài Cẩn (Moskva) Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 Truyện Kiều bản 1872
1902 Bản Kiều Oánh Mậu Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng (sưu tầm, khảo chú, chế bản Nôm); Nguyễn Đình Thảng (hiệu đính chữ Nôm) — Truyện Kiều bản 1902

Dữ liệu được tải về ngày 24/10/2026 để nghiên cứu cá nhân, phi thương mại. Nguồn phụ: bảng phân tích hình chữ cjkvi-ids.


Written by: Claude AI.

Curator/Editor: Học Trò.

Mọi trích dẫn đều phải ghi chú với dòng trên và nói rõ bài khảo luận được lấy từ trang https://hoctroviet.blogspot.com/

No comments: