Written by: Claude AI.
Curator/Editor: Học Trò.
Nghiên cứu số 1 trong loạt đề xuất. Người đọc Kiều nào cũng cảm thấy chất "láy" của nó: tà tà, nao nao, sè sè, dàu dàu, chỉ trong mười câu tả cảnh Thanh minh. Nhưng cảm thấy và đếm được là hai chuyện khác nhau. Bài này đếm: trong năm bản Kiều của Nom Foundation (1866, 1870, 1871, 1872, 1902) có bao nhiêu từ láy, thuộc kiểu nào, dày ở đoạn nào và thưa ở đoạn nào, nằm ở chỗ nào trong câu lục bát, người khắc ván chọn chữ Nôm cho chúng ra sao, và năm bản khác nhau ở những từ láy nào. Câu trả lời ngắn: cứ khoảng năm câu thơ lại có một từ láy, gần như luôn nằm gọn trong một nhịp đôi, và chữ Nôm của chúng thường được chọn cho "cùng bộ" với nhau.
1. Cách đếm, và vì sao phải duyệt tay
Một từ láy là hai âm tiết lặp lại một phần hay toàn bộ âm của nhau. Máy có thể tìm ra mọi cặp âm tiết liền nhau có hình âm như thế, chia làm bốn kiểu:
| Kiểu | Quy tắc | Ví dụ |
|---|---|---|
| Láy toàn bộ | hai âm tiết y hệt | rành rành, bời bời, nao nao |
| Láy đổi thanh | cùng âm tiết, khác thanh | thăm thẳm, canh cánh, mơn mởn |
| Láy vần | cùng vần, khác phụ âm đầu | bâng khuâng, lao xao, bơ vơ |
| Láy âm đầu | cùng phụ âm đầu, khác vần | vội vàng, ngẩn ngơ, dập dìu |
Nhưng máy không biết nghĩa. Quét năm bản ra 1.627 kiểu cặp có hình âm láy, và phần lớn không phải từ láy: trăm năm cùng vần, một mình cùng phụ âm đầu, Hỏi nàng, nàng đã bán mình lặp âm vì câu thơ lặp từ. Vì vậy mỗi kiểu cặp được duyệt bằng tay, có đọc câu chứa nó khi cần, rồi xếp vào bốn nhóm:
- Từ láy thuần Việt (nhóm chính của bài): 441 kiểu trên cả năm bản.
- Từ Hán Việt có hình âm láy như thuyền quyên, ân cần, bồi hồi, bàng hoàng, hoảng hốt, hồ đồ, phần lớn là từ liên miên gốc Hán: 18 kiểu, đếm riêng.
- Lặp ngữ pháp như ngày ngày, người người, ai ai, thôi thôi: lặp một danh từ, đại từ hay thán từ để nói "mỗi, mọi" hoặc để nhấn. 11 kiểu, đếm riêng.
- Không phải láy: còn lại. Trong số này có một trường hợp đáng nhớ là năm năm. Ở câu 2404, 2408, 2450, 2555, chữ Nôm viết 𠄼𢆥 (năm "số năm" + năm "năm tháng"), nên đó là "năm năm trời", không phải từ láy. Hình âm như nhau, nhưng chữ Nôm nói rõ là hai từ khác nhau.
Một chỗ phải xử lý riêng: dầu dầu. Ở câu 58 bản 1902, "Dầu dầu ngọn cỏ" là cách viết khác của dàu dàu, tức từ láy; ở câu 697, "Phận dầu, dầu vậy cũng dầu" thì không. Danh sách duyệt tay có một mục ngoại lệ theo câu cho những trường hợp như vậy.
Ví dụ của chính người đề nghị đề tài, leo lét, không có trong bản nào cả.
Phụ lục: toàn bộ 470 từ (láy thuần Việt, láy Hán Việt, lặp ngữ pháp), mỗi từ kèm chữ Nôm và mọi lần xuất hiện trên năm bản, mỗi lần một dòng (3.336 dòng), nằm ở file riêng Phụ lục từ láy. Không một bản nào trong năm bản có âm tiết leo hay lét.
2. Bao nhiêu từ láy?
| Bản | Số câu | Lượt từ láy thuần Việt | Số từ khác nhau | Trên 1.000 câu | Láy Hán Việt (lượt) | Lặp ngữ pháp (lượt) |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1866 | 2.390 | 465 | 282 | 194,6 | 32 | 16 |
| 1870 | 3.260 | 651 | 349 | 199,7 | 43 | 23 |
| 1871 | 3.254 | 625 | 337 | 192,1 | 44 | 20 |
| 1872 | 3.259 | 638 | 351 | 195,8 | 45 | 22 |
| 1902 | 3.256 | 649 | 352 | 199,3 | 42 | 21 |
(Bản 1866 thiếu 36 trang, tức 864 câu, nên phải so bằng tỉ lệ trên 1.000 câu, không so số lượt.)
Năm bản giống nhau đến từng phần trăm: khoảng 192 đến 200 từ láy trên 1.000 câu, tức cứ năm câu thơ có một từ láy. Một con số ổn định như vậy qua năm bản in, ba người phiên âm khác nhau và 36 năm khắc in cho thấy đây là đặc điểm của chính tác phẩm, không phải của một bản in nào.
Chia theo kiểu âm (bản 1870, tính lượt):
| Kiểu | Lượt | Tỉ lệ | Số kiểu từ (cả năm bản) |
|---|---|---|---|
| Láy âm đầu | 456 | 70,0% | 286 |
| Láy toàn bộ | 101 | 15,5% | 79 |
| Láy vần | 80 | 12,3% | 61 |
| Láy đổi thanh | 14 | 2,2% | 15 |
Láy âm đầu chiếm bảy phần mười, đúng như trong tiếng Việt nói chung. Láy đổi thanh hiếm (14 lượt), nhưng lại là những từ được nhớ nhiều nhất: thăm thẳm, canh cánh, thoang thoảng, thui thủi, vò võ, đằng đẵng, mơn mởn.
Kho từ rất rộng, ít lặp. Bản 1870 dùng 349 từ láy khác nhau, trong đó 215 từ (62%) chỉ xuất hiện đúng một lần. Nguyễn Du không có một bộ từ láy "quen tay" để dùng đi dùng lại; mỗi cảnh có từ láy riêng.
3. Những từ láy dùng nhiều nhất
Tổng lượt trên năm bản, kèm số lượt trong bản 1870:
| # | Từ | Kiểu | Năm bản | 1870 | # | Từ | Kiểu | Năm bản | 1870 | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | vội vàng | âm đầu | 81 | 15 | 16 | đau đớn | âm đầu | 24 | 5 | |
| 2 | rõ ràng | âm đầu | 61 | 13 | 17 | tan tành | âm đầu | 24 | 5 | |
| 3 | thong dong | vần | 56 | 12 | 18 | mặn mà | âm đầu | 23 | 5 | |
| 4 | rành rành | toàn bộ | 45 | 9 | 19 | bâng khuâng | vần | 23 | 5 | |
| 5 | rụng rời | âm đầu | 41 | 8 | 20 | sẵn sàng | âm đầu | 23 | 5 | |
| 6 | ngẩn ngơ | âm đầu | 38 | 8 | 21 | dập dìu | âm đầu | 21 | 5 | |
| 7 | xôn xao | âm đầu | 36 | 7 | 22 | tần ngần | vần | 21 | 4 | |
| 8 | xa xôi | âm đầu | 33 | 7 | 23 | lần lần | toàn bộ | 20 | 4 | |
| 9 | bời bời | toàn bộ | 33 | 7 | 24 | đòi đoạn | âm đầu | 20 | 4 | |
| 10 | đùng đùng | toàn bộ | 33 | 7 | 25 | ngổn ngang | âm đầu | 19 | 4 | |
| 11 | lân la | âm đầu | 32 | 7 | 26 | dùng dằng | âm đầu | 19 | 4 | |
| 12 | lạ lùng | âm đầu | 30 | 6 | 27 | ngậm ngùi | âm đầu | 19 | 4 | |
| 13 | mơ màng | âm đầu | 30 | 8 | 28 | xăm xăm | toàn bộ | 18 | 4 | |
| 14 | sụt sùi | âm đầu | 29 | 5 | 29 | bơ vơ | vần | 18 | 3 | |
| 15 | lạc loài | âm đầu | 29 | 6 | 30 | phũ phàng | âm đầu | 17 | 4 |
Đứng đầu là vội vàng và rõ ràng, hai từ của hành động và của sự thật. Ngay sau là thong dong, từ của sự thảnh thơi, trong một truyện mà nhân vật chính hầu như không bao giờ được thảnh thơi. Đọc 12 câu có thong dong ở bản 1870 thì thấy nó thường đánh dấu một khoảng lặng ngắn giữa hai biến cố ("Việc nhà mới tạm thong dong", câu 693), có khi lại đặt vào tay kẻ xấu ("Tú bà ghé lại thong dong dặn dò", câu 1200).
Một chi tiết chữ Nôm: cả năm bản đều viết thong dong bằng 從容, hai chữ Hán đọc theo âm Hán Việt là thung dung. Từ láy được cảm như thuần Việt này thật ra có gốc Hán; chữ Nôm còn giữ dấu vết ấy. Dập dìu cũng vậy: bản 1870 có hai lần viết 熠燿 (âm Hán Việt tập diệu, một từ liên miên chữ Hán chỉ ánh lấp lánh), bên cạnh những cách viết mượn âm như 習燿.
4. Từ láy dày ở đâu, thưa ở đâu
Đếm từ láy trong từng đoạn 100 câu, lấy trung bình bốn bản đủ trang (1870, 1871, 1872, 1902); mỗi ô vuông là hai từ láy:
| Câu | 1870 | TB 4 bản | Câu mở đầu đoạn | |
|---|---|---|---|---|
| 1–100 | 31 | 30,8 | ███████████████ | Trăm năm trong cõi người ta. |
| 101–200 | 22 | 22,0 | ███████████ | Lại càng mê mẩn tâm thần, |
| 201–300 | 25 | 25,2 | █████████████ | Âu đành quả kiếp nhân duyên, |
| 301–400 | 25 | 24,5 | ████████████ | Tan sương đã thấy bóng người |
| 401–500 | 18 | 17,8 | █████████ | Sinh rằng: "phác hoạ vừa rồi, |
| 501–600 | 29 | 28,8 | ██████████████ | Thưa rằng: "Đừng lấy làm chơi, |
| 601–700 | 16 | 16,0 | ████████ | Duyên hội ngộ, đức cù lao. |
| 701–800 | 19 | 18,5 | █████████ | Thề hoa chưa ráo chén vàng, |
| 801–900 | 19 | 19,8 | ██████████ | Phòng khi nước đã đến chân, |
| 901–1000 | 27 | 25,0 | █████████████ | Nghìn tầm nhờ bóng tùng quân, |
| 1001–1100 | 33 | 32,8 | ████████████████ | Thuốc thang suốt một ngày thâu, |
| 1101–1200 | 16 | 15,0 | ████████ | Lặng ngồi thấm thía gật đầu: |
| 1201–1300 | 27 | 27,0 | ██████████████ | "Nghề chơi cũng lắm công phu, |
| 1301–1400 | 16 | 17,0 | ████████ | Lạ cho cái sóng khuynh thành, |
| 1401–1500 | 15 | 15,0 | ████████ | Lượng trên quyết chẳng thương tình, |
| 1501–1600 | 16 | 16,2 | ████████ | Tần Hoài một dải trong xanh, |
| 1601–1700 | 24 | 22,8 | ███████████ | Được lời như mở tấc son, |
| 1701–1800 | 22 | 18,8 | █████████ | Chẳng qua đồng cốt xằng xiên, |
| 1801–1900 | 16 | 16,0 | ████████ | Tiểu thư đón cửa dã dề, |
| 1901–2000 | 15 | 14,8 | ███████ | Ví mà có số giàu sang, |
| 2001–2100 | 24 | 24,0 | ████████████ | Ngăn tôi đứng lại một bên, |
| 2101–2200 | 12 | 11,0 | ██████ | Nơi gần thì chẳng tiện nơi, |
| 2201–2300 | 24 | 23,2 | ████████████ | Khen cho con mắt tinh đời, |
| 2301–2400 | 11 | 10,5 | █████ | Mấy người phụ bạc xưa kia, |
| 2401–2500 | 11 | 10,8 | █████ | Rồi đây bèo hợp mây tan, |
| 2501–2600 | 20 | 19,0 | ██████████ | Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng, |
| 2601–2700 | 14 | 14,5 | ███████ | Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền, |
| 2701–2800 | 30 | 29,5 | ███████████████ | Một lòng chẳng quản mấy công, |
| 2801–2900 | 20 | 21,2 | ███████████ | Bây giờ ván đã đóng thuyền, |
| 2901–3000 | 18 | 17,8 | █████████ | Thoắt buôn về, thoắt bán đi, |
| 3001–3100 | 12 | 12,5 | ██████ | Xếp nhau lạy tạ Giác Duyên, |
| 3101–3200 | 15 | 15,0 | ████████ | Còn chi là cái hồng nhan, |
| 3201–3254 | 9 | 8,2 | ████ | Khúc đâu êm ái xuân tình, |
(Đoạn cuối chỉ có khoảng 55 câu, nên 9 từ láy ở đó tương đương khoảng 16 trên 100 câu, gần mức trung bình.)
Ba đỉnh rõ nhất, và bốn bản đều đồng ý:
- Câu 1–100 (31 từ láy): phần mở đầu, chân dung chị em Thúy Kiều và cảnh đi chơi Thanh minh: đầy đặn, nở nang, sắc sảo, mặn mà, nô nức, dập dìu, ngổn ngang, tà tà, thơ thẩn, nao nao, nho nhỏ, sè sè, dàu dàu…
- Câu 1001–1100 (33 từ láy, đoạn dày nhất cả truyện): Kiều ở lầu Ngưng Bích. Riêng 22 câu từ "Trước sau ngưng bích khoá xuân" (câu 1033 theo cách đánh số của bản 1870) đến hết tám câu "Buồn trông…" đã có 9 từ láy (bát ngát, bẽ bàng, bơ vơ, thấp thoáng, xa xa, man mác, dàu dàu, xanh xanh, âm thầm), tức khoảng 41 trên 100 câu, gấp đôi mức trung bình. Chữ cuối cùng trong danh sách đến từ câu kết đoạn, mà bản 1870 đọc là "Âm thầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi"; nhiều người quen thuộc hơn với cách đọc ầm ầm, cũng là một từ láy.
- Câu 2701–2800 (30 từ láy): Kim Trọng trở lại vườn cũ tìm Kiều, cảnh hoang vắng và nỗi thất vọng: lưa thưa, quạnh quẽ, rã rời, xập xè, tả tơi, ngơ ngẩn, dằng dặc, dầm dề, thẫn thờ…
Những đoạn thưa nhất là đoạn xử án và hành động. Câu 2301–2500, nơi Kiều báo ân báo oán và Từ Hải dựng nghiệp, chỉ có khoảng 11 từ láy trên 100 câu, bằng một nửa trung bình. Đoạn 2101–2200 cũng thưa như vậy.
Bức tranh rất nhất quán: từ láy dày lên khi có cảnh và có tâm trạng, thưa đi khi truyện kể việc. Lầu Ngưng Bích và vườn cũ của Kim Trọng là hai cảnh cô đơn trước không gian, và đó là hai đỉnh cao nhất.
5. Từ láy đứng ở đâu trong câu lục bát
Câu lục bát ngắt theo nhịp đôi: 2-2-2 ở câu sáu chữ, 2-2-2-2 ở câu tám chữ. Một từ láy có hai âm tiết, nên câu hỏi tự nhiên là: nó có nằm gọn trong một nhịp không, hay có khi vắt qua ranh giới nhịp?
Gộp năm bản, đếm vị trí của từ láy (vị trí 1 = âm tiết 1–2, vị trí 2 = âm tiết 2–3, v.v.):
| Câu lục | Âm tiết 1–2 | 2–3 | 3–4 | 4–5 | 5–6 |
|---|---|---|---|---|---|
| Lượt | 393 | 18 | 426 | 18 | 602 |
| Tỉ lệ | 27,0% | 1,2% | 29,2% | 1,2% | 41,3% |
| Câu bát | 1–2 | 2–3 | 3–4 | 4–5 | 5–6 | 6–7 | 7–8 |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lượt | 290 | 67 | 304 | 11 | 368 | 79 | 452 |
| Tỉ lệ | 18,5% | 4,3% | 19,4% | 0,7% | 23,4% | 5,0% | 28,8% |
Hai điều hiện ra:
Từ láy gần như luôn nằm trong một nhịp. Ở câu lục, 97,5% từ láy đứng đúng nhịp (âm tiết 1–2, 3–4 hay 5–6). Ở câu bát là 90%; câu bát có thêm một số trường hợp vắt nhịp ở âm tiết 2–3 và 6–7, khớp với chỗ câu tám chữ đôi khi được ngắt 3-3-2 hoặc 4-4. Từ láy là một khối âm thanh không tách ra được, nên nhà thơ đặt nó vào đúng một ô nhịp.
Từ láy dồn về cuối câu. Ở câu lục, 41% từ láy nằm ở hai âm tiết cuối, chỗ chữ thứ sáu phải hiệp vần với chữ thứ sáu của câu bát. Ở câu bát, vị trí 7–8 (chữ cuối, chỗ gieo vần cho câu lục kế tiếp) cũng đông nhất. Nói cách khác, từ láy hay được dùng để mang vần: Lơ thơ tơ liễu buông mành, Tà tà bóng ngả về tây là láy đầu câu, nhưng Dấu giày từng bước rêu in rành rành, Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa mới là kiểu phổ biến hơn.
Tần suất cũng hơi khác giữa hai loại câu: 189 từ láy trên 1.000 câu lục và 204 trên 1.000 câu bát. Câu bát dài hơn nên có nhiều chỗ hơn, nhưng tính theo số ô nhịp thì câu lục lại "đậm láy" hơn một chút.
6. Người khắc ván viết từ láy bằng chữ Nôm thế nào
Láy toàn bộ: lặp nguyên chữ
Trong cả năm bản, gần như mọi từ láy toàn bộ được viết bằng cùng một chữ lặp hai lần: 㝹㝹 nao nao, 斜斜 tà tà, 排排 bời bời, 同同 đùng đùng. Bản 1870 lặp nguyên chữ ở cả 101 trên 101 lượt, bản 1871 ở 100 trên 100, bản 1902 ở 99 trên 99. Không bản nào dùng dấu lặp (々 hay 〃) như sách Hán Nhật thường làm.
Vài ngoại lệ đều có lý do khác. Bản 1866 có một lượt lần lần viết 各吝 ở câu 3236, có lẽ là lỗi nhập. Bản 1872 có bốn lượt "khác chữ" (câu 51, 82, 424), nhưng xem lại thì đó là chỗ phần ghép chữ với âm bị lệch một vị trí trong dữ liệu. Ví dụ câu 424 ghép phới phới với 派藏 và tàng tàng với 藏派, rõ ràng là hai cặp bị trượt vào nhau.
Cách viết một từ láy toàn bộ khá thống nhất giữa các bản, nhưng không hoàn toàn. Rành rành có ba cách: 伶伶 (phần lớn các bản), 停停 (bản 1866 và 1871 mỗi bản 3 lần), 冷冷 (bản 1872 hai lần). Đăm đăm thì bản 1902 viết 㴷㴷, các bản khác dùng những chữ ở vùng mã riêng (PUA) hoặc 耽耽.
Láy bộ phận: hai chữ thường "cùng bộ"
Đây là phát hiện thú vị nhất của phần chữ Nôm. Với các từ láy được viết bằng hai chữ khác nhau, ta hỏi: hai chữ ấy có cùng bộ thủ không? Tra bộ thủ theo bảng Unihan, rồi so với một đường nền là các cặp chữ liền nhau bất kỳ trong cùng bản:
| Bản | Từ láy cùng bộ | Cặp chữ bất kỳ cùng bộ |
|---|---|---|
| 1866 | 118 / 372 (31,7%) | 5,1% |
| 1870 | 157 / 510 (30,8%) | 6,1% |
| 1871 | 160 / 497 (32,2%) | 5,8% |
| 1872 | 154 / 488 (31,6%) | 5,3% |
| 1902 | 179 / 527 (34,0%) | 5,3% |
Cứ ba từ láy bộ phận thì có một từ được viết bằng hai chữ cùng bộ, gấp khoảng sáu lần mức ngẫu nhiên. Và bộ được chọn thường nói lên nghĩa của từ láy:
| Bộ | Số từ láy cùng bộ (bản 1870) | Ví dụ |
|---|---|---|
| 口 (miệng, âm thanh) | 52 | xôn xao 吨嗃, lầm rầm 啉𠽍, nức nở 𠽋𭈿, rền rĩ 𡃚𠯇, thỏ thẻ 𠴡𠱈, ngao ngán 嗷喭 |
| 氵 (nước) | 27 | sụt sùi 湥洡, dầm dề 滛湜, thấm thía 滲𤀏, tầm tã 潯瀉 |
| 火 (lửa, ánh sáng) | 20 | rõ ràng 𤑟𤉜, rỡ ràng 焒𤉜, tưng bừng 熷𤇊, dập dìu 熠燿, chấp chới 𤎒𤈪 |
| 扌 (tay) | 12 | rụt rè 揬提, rạch ròi 攊𢬗, đo đắn 𢵋捵, dan díu 攔𢬢 |
| 忄 (lòng) | 12 | mơ màng 𢠩恾, thổn thức 忖恜, thẹn thùng 𢢆𢝣, chán chường 𢥇悜, xót xa 㤕𢚷 |
| 辶 (đi) | 11 | lạ lùng 邏𨓡, dặt dìu 迭迢, đong đưa 𨒟迻 |
| 疒 (bệnh) | 6 | đau đớn 𤴬疸, mòn mỏi 𤷱痗 |
Tiếng khóc, tiếng nói thì mang bộ khẩu; nước mắt và mưa thì mang bộ thủy; ánh sáng thì mang bộ hỏa; tâm trạng thì mang bộ tâm. Người viết chữ Nôm không chỉ ghi âm từ láy, mà còn "đánh dấu" nó bằng một bộ chung, như đặt hai chữ vào cùng một ngăn nghĩa. Điều này đúng ở cả năm bản (31–34%), nên đó là một thói quen chung của nghề viết Nôm, không phải ý riêng của một người khắc ván.
Bảng chữ Nôm của mấy từ láy quen thuộc qua năm bản:
| Từ | 1866 | 1870 | 1871 | 1872 | 1902 |
|---|---|---|---|---|---|
| rõ ràng | 𤑟𤉜 | 𤑟𤉜 | 𤑟𤉜 | 𤑟𤉜 | 𤑟𤉜 |
| thong dong | 從容 | 從容 | 從容 | 從容 | 從容 |
| bâng khuâng | 氷傾, 冰傾, 水頃 | 氷傾 | 氷傾 | 氷傾 | 氷傾, 冰傾 |
| vội vàng | 倍傍, 倍鐄 | 倍鐄 | 倍傍, 倍鐄 | 倍傍, 倍鐄 | 倍傍 |
| ngẩn ngơ | 謹魚 | 菫魚 | 謹魚 | (PUA), 謹魚 | 謹魚, 菫魚 |
| xôn xao | 㖔𡁞 | 𠮿嗃 | 㖔𡁞, 𠮿嗃 | 𠮿嗃 | 𠮿嗃 |
| lơ thơ | 羅䜹 | 盧疎 | 羅䜹 | 閭舒 | 盧䜹 |
| tần ngần | 秦銀 | 秦銀 | 秦銀 | 秦銀, 秦艰 | 秦垠 |
| mơ màng | 𢠩恾 | 𢠩恾 | 𢠩恾 | 𢠩恾 | 𢠩忙 |
Có từ cả năm bản viết y hệt (rõ ràng, thong dong); có từ mỗi bản một kiểu (lơ thơ có bốn cách viết cho năm bản). Ở những từ có nhiều cách viết, bản 1866 và 1871 (cùng hiệu Liễu Văn Đường) thường giống nhau: cùng 羅䜹 cho lơ thơ, cùng 㖔𡁞 cho xôn xao.
7. Năm bản khác nhau ở những từ láy nào
Gióng bốn bản đủ trang theo số câu (3.252 câu có mặt ở cả bốn), rồi so từng từ láy của bản này với câu tương ứng của bản kia, từng cặp bản một:
| Kết quả so sánh | Số lần | Tỉ lệ |
|---|---|---|
| Bản kia có đúng từ láy ấy | 3.388 | 88,2% |
| Bản kia dùng một biến thể của cùng từ (dàu dàu / rầu rầu, la tha / tha la…) | 114 | 3,0% |
| Bản kia dùng một từ láy khác ở cùng chỗ | 179 | 4,7% |
| Bản kia không có từ láy ở chỗ ấy | 160 | 4,2% |
Gần chín phần mười từ láy giống nhau giữa các bản. Phần còn lại là chỗ thú vị nhất cho người nghiên cứu văn bản:
| Câu | Các bản đọc |
|---|---|
| 57 | Sè sè nắm đất bên đàng (1866, 1870, 1871, 1902) · Trờ trờ nấm đất bên đường (1872) |
| 58 | Dàu dàu ngọn cỏ (1866, 1870, 1871) · Rầu rầu (1872) · Dầu dầu (1902) |
| 101 | Lại càng mê mẩn tâm thần (bốn bản) · mê mải (1872) |
| 170 | bóng chiều la tha (1870, 1902) · tha la (1872) · bóng chiều đã ra (1871) |
| 173 | Mảnh trăng chênh chếch dòm song (1870, 1902) · Gương nga vành vạnh từ song (1871) · vạnh vạnh đầy song (1872) |
| 207 | Xem thơ nức nở khen thầm (1870, 1871, 1902) · thắc thỏm (1872) · nức thỏm (1866) |
| 226 | hãy dầm dề giọt mưa (bốn bản) · đầm đìa (1902) |
| 241 | Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng (1870, 1902) · chênh chênh (1866, 1871, 1872) |
| 255 | Mành Tương phất phất gió đàn (1870, 1871, 1872) · phân phất (1866) · phơn phớt (1902) |
| 346 | Công đeo đẳng (1870) · đeo đuổi (bốn bản còn lại) |
| 361 | Mơ màng lá rụng hoa rơi (1870) · Vội vàng (bốn bản còn lại) |
| 449 | Vầng trăng vằng vặc giữa trời (1870, 1871, 1902) · vặc vặc (1872) |
| 550 | đã sầu pha phôi (1866, 1870, 1871) · chia phôi (1872, 1902) |
Vài nhận xét từ bảng này:
- Câu 207 là một chuỗi chuyển tiếp hiếm thấy: 1870 đọc nức nở, 1872 đọc thắc thỏm, còn 1866 đọc nức thỏm, nửa này nửa kia. Đây là kiểu bằng chứng mà các nhà văn bản học tìm để đoán đường lây truyền giữa các bản.
- Bản 1866 và 1871 (cùng Liễu Văn Đường) thường đứng chung chống lại 1870: chênh chênh ở câu 241, đeo đuổi ở câu 346, vội vàng ở câu 361.
- Bản 1870 hay đứng một mình với từ láy riêng: đeo đẳng, mơ màng ở câu 361.
- Những chữ viết hoa trong bản 1872 đánh dấu chỗ khác biệt. Trong dữ liệu, người phiên âm bản 1872 viết hoa đúng những chữ này: TRỜ TRỜ, MẢI, THA LA, VẠNH VẠNH, THẮC THỎM, CHÊNH CHÊNH, SÁN QUANH (câu 64, thay cho xôn xao). Chữ hoa có lẽ là cách người phiên âm đánh dấu chỗ bản Duy Minh Thị khác các bản thông dụng; nghiên cứu số 4 sẽ kiểm tra giả thuyết này trên toàn bộ văn bản.
Một lưu ý về cột "không có từ láy": một phần trong số 160 lần ấy không phải khác biệt văn bản mà chỉ là khác cách viết quốc ngữ của người phiên âm. Bản 1902 viết rụt dè (câu 321) thay vì rụt rè, giữ ràng (câu 519) thay vì giữ giàng; bản 1871 và 1872 viết sắm xanh thay vì sắm sanh (câu 77). Đó vẫn là cùng một từ láy, chỉ khác chính tả khi phiên âm. Danh sách đầy đủ 453 lần khác nhau (114 + 179 + 160) được lưu kèm, để đọc từng trường hợp.
8. Láy Hán Việt và lặp ngữ pháp
Hai nhóm này được đếm riêng để không làm sai lệch con số chính.
Từ Hán Việt có hình âm láy (32 đến 45 lượt mỗi bản, 18 từ): thuyền quyên, ân cần, đinh ninh, bồi hồi, bàn hoàn, bàng hoàng, đề huề, hồ đồ, tán hoán, cà sa, hoảng hốt, lưu ly, lẫm liệt, lưu lạc, song song, đường đường, trùng trùng, vân vân. Phần lớn là từ liên miên của tiếng Hán (嬋娟, 殷勤, 叮嚀, 徘徊, 盤桓, 彷徨, 恍惚, 糊塗…), tức chính tiếng Hán cũng cảm chúng là một khối âm. Tuy vậy ranh giới với láy thuần Việt không sắc: thong dong (從容) và dập dìu (熠燿) cũng có gốc Hán, nhưng được cảm như thuần Việt nên vẫn đếm ở nhóm chính.
Lặp ngữ pháp (16 đến 23 lượt mỗi bản, 11 từ): ai ai, ngày ngày, đêm đêm, người người, lòng lòng, lời lời, hàng hàng, lớp lớp, thức thức, này này, thôi thôi. "Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu" (câu 1316) và "Lòng lòng cũng giận, người người chấp uy" (câu 2308) là hai câu dùng lối này rõ nhất.
9. Giới hạn của bài
- Danh sách từ láy do một người duyệt. Có những trường hợp ở ranh giới mà người khác có thể xếp khác: sắm sửa, thuốc thang, hỏi han, bạn bè (láy hay ghép?), hoặc tà tà, thường thường (láy thuần Việt viết bằng chữ Hán, hay từ Hán Việt?). Danh sách được lưu thành file riêng để ai cũng có thể sửa rồi chạy lại.
- Chỉ tìm từ láy đôi liền nhau. Láy ba, láy bốn (sạch sành sanh) chỉ được bắt ở dạng cặp (sạch sành, sành sanh). Láy cách quãng như "dùng dằng dở ở dở về" thuộc về nghiên cứu từ đôi (số 2).
- Phần chữ Nôm dựa trên chỗ ghép chữ với âm của dữ liệu web. Khi phần ghép lệch (như câu 424 bản 1872), kết quả chữ Nôm của câu ấy sai theo.
- Bộ thủ tra theo Unihan, nên chữ ở vùng mã riêng (PUA) không có bộ thủ và bị bỏ khỏi phép thử "cùng bộ".
Nguồn và lời cảm ơn
Toàn bộ văn bản Nôm, phần phiên âm quốc ngữ, lời chú thích và ảnh quét dùng trong nghiên cứu này là của Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation, Nom Foundation). Hội đã số hoá và công bố miễn phí năm bản Truyện Kiều trên trang nomfoundation.org. Xin chân thành cảm ơn Hội và các nhà nghiên cứu đã phiên âm, khảo dị năm bản này. Không có công sức của họ thì không thể có những phép đếm ở đây.
| Bản | Tên bản | Người phiên âm / biên soạn | Nhà xuất bản (bản in) | Liên kết |
|---|---|---|---|---|
| 1866 | Bản Liễu Văn Đường, Nghệ An | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004 | Truyện Kiều bản 1866 |
| 1870 | Bản Kinh đời Tự Đức | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2003 | Truyện Kiều bản 1870 |
| 1871 | Bản Liễu Văn Đường | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2002 | Truyện Kiều bản 1871 |
| 1872 | Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị | Nguyễn Tài Cẩn (Moskva) | Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 | Truyện Kiều bản 1872 |
| 1902 | Bản Kiều Oánh Mậu | Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng (sưu tầm, khảo chú, chế bản Nôm); Nguyễn Đình Thảng (hiệu đính chữ Nôm) | — | Truyện Kiều bản 1902 |
Dữ liệu được tải về ngày 24/10/2026 để nghiên cứu cá nhân, phi thương mại. Mọi con số trong bài được tính từ bản tải về ngày ấy.
Nguồn phụ: bảng Unihan của Unicode 17.0 (trường bộ thủ kRSUnicode); bảng phân tích hình chữ cjkvi-ids; chỉ mục Hán Việt Tự Điển của Thiều Chửu (bản trên đĩa) để gắn nhãn âm Hán Việt khi lọc ứng viên.
Written by: Claude AI.
Curator/Editor: Học Trò.
Mọi trích dẫn đều phải ghi chú với dòng trên và nói rõ bài khảo luận được lấy từ trang https://hoctroviet.blogspot.com/
No comments:
Post a Comment