Written by: Claude AI.
Curator/Editor: Học Trò.
Nghiên cứu số 4 trong loạt đề xuất. Năm bản Kiều của Nom Foundation khác nhau ở khoảng một phần ba số câu. Bài này lập bản đồ những khác biệt ấy đến từng chữ, rồi dùng chúng để trả lời câu hỏi cổ điển của ngành văn bản học: các bản có họ hàng với nhau thế nào? Nhờ dữ liệu ghép sẵn chữ Nôm với âm, mỗi khác biệt còn được tách làm hai loại mà trước đây phải đọc từng trang mới phân được: khác trên ván in (chữ Nôm khác) và khác ở người phiên âm (cùng một chữ Nôm, đọc ra hai âm). Kết quả là một cây gia phả hai nhánh: nhánh Liễu Văn Đường (1866, 1871) đi cùng bản Duy Minh Thị (1872), và nhánh 1870 đi cùng bản Kiều Oánh Mậu (1902).
1. Năm bản giống nhau đến đâu, tính theo câu?
Tỉ lệ câu có phần quốc ngữ giống hệt nhau giữa từng cặp bản:
| 1870 | 1871 | 1872 | 1902 | |
|---|---|---|---|---|
| 1866 | 71,3% | 92,4% | 68,5% | 64,0% |
| 1870 | 69,1% | 63,2% | 69,2% | |
| 1871 | 67,5% | 63,7% | ||
| 1872 | 62,6% |
Ngoài cặp 1866–1871 (hai bản cùng hiệu Liễu Văn Đường, giống nhau hơn chín phần mười số câu), mọi cặp còn lại chỉ có khoảng hai phần ba số câu giống hệt nhau.
2. Khác nhau ở bao nhiêu chữ?
Gióng bốn bản đủ trang (1870, 1871, 1872, 1902) theo số câu: 3.252 câu có mặt ở cả bốn bản. Trong đó 10 câu có số âm tiết khác nhau giữa các bản nên bị bỏ ra; còn lại 22.690 vị trí chữ được so.
- 2.851 vị trí (12,6%) có ít nhất một bản đọc khác.
- Theo câu: 1.535 câu (47%) giống hệt nhau ở cả bốn bản; 1.013 câu khác một chữ; 461 câu khác hai chữ; 134 câu khác ba chữ; 99 câu khác từ bốn chữ trở lên.
Nghĩa là gần một nửa số câu Kiều được bốn bản chép y như nhau, và phần lớn câu còn lại chỉ khác một hai chữ. Những câu khác bốn chữ trở lên là những câu viết lại hẳn, ví dụ câu 88: "Khéo thay nằm xuống là ma không chồng" (1870) so với "Khéo thay thác xuống ra người tình không" (1871).
3. Khác trên ván, hay khác ở người phiên âm?
Ở mỗi vị trí mà hai bản đọc khác nhau, ta nhìn vào chữ Nôm của hai bản (mã PUA đã được quy đổi như ở nghiên cứu số 3):
- Chữ Nôm khác nhau: hai ván in khắc hai chữ khác nhau. Đây là dị bản trên ván.
- Chữ Nôm giống nhau, đọc ra hai âm: hai ván khắc cùng một chữ, nhưng hai người phiên âm đọc khác nhau. Đây là khác biệt ở khâu phiên âm.
| Cặp bản | Khác chữ | Cùng chữ, khác cách đọc | Tỉ lệ khác do phiên âm |
|---|---|---|---|
| 1870–1871 | 1.429 | 126 | 8,1% |
| 1870–1872 | 1.550 | 284 | 15,5% |
| 1870–1902 | 1.241 | 250 | 16,8% |
| 1871–1872 | 1.004 | 435 | 30,2% |
| 1871–1902 | 1.488 | 232 | 13,5% |
| 1872–1902 | 1.520 | 279 | 15,5% |
| Tổng | 8.232 | 1.606 | 16,3% |
Khoảng năm phần sáu số khác biệt nằm trên ván in; khoảng một phần sáu do người phiên âm.
Bảng còn cho thấy một điều đáng tin cậy: cặp 1870–1871 có ít khác biệt do phiên âm nhất (126 lần, 8%). Đó cũng là cặp duy nhất trong bốn bản có chung một người phiên âm, Nguyễn Quảng Tuân. Cùng một người thì đọc cùng một chữ ra cùng một âm. Ngược lại, cặp 1871–1872 có nhiều khác biệt do phiên âm nhất (435 lần, 30%): hai ván rất gần nhau về chữ (xem mục 5), nhưng hai người phiên âm (Nguyễn Quảng Tuân và Nguyễn Tài Cẩn) đọc khác nhau.
Người phiên âm khác nhau ở đâu?
Những cặp "cùng chữ, khác cách đọc" hay gặp nhất chia làm ba nhóm.
Chính tả (không phải khác biệt thật): quỉ / quỷ (鬼), quì / quỳ (跪), qui / quy (歸, 皈), hoè / hòe (槐). Đây chỉ là cách đặt dấu và cách viết i / y.
Hai âm của cùng một từ (theo vùng miền hay theo thời): Lâm Tri / Lâm Truy (淄, 52 lần), dù / dầu (油, 46 lần), ngắn / vắn (𥐆), mái / mé (𠃅), giả / trả (者), đàng / đường (塘), gởi / gửi (𠳚), gẫm / ngẫm (𡄎), bậc / bực (堛), lẽ / nhẽ (𨤰), nghìn / ngàn (𠦳), thật / thực (寔), lạt / nhạt (𤁕), tràng / trường (膓), vầng / vừng (暈), dời / rời (移), thì / thời (時). Một chữ Nôm, hai cách đọc đều đúng; người phiên âm chọn theo thói quen của mình.
Đọc khác nghĩa (khác biệt thật về cách hiểu):
- Câu 20, chữ 𦝄: bản 1870 đọc lưng, bản 1871 và 1902 đọc trăng.
- Câu 58, chữ 油: dàu dàu (1870, 1871), rầu rầu (1872), dầu dầu (1902).
- Chữ 恩 đọc ân hay ơn, chữ 之 đọc chi hay gì: âm Hán Việt hay âm Nôm của cùng một chữ.
- Chữ 台 đọc hay hay thay; chữ 湥 đọc giọt hay lệ; chữ 𤑟 đọc rõ hay tỏ.
- Câu 50, chữ 鈽: bản 1870 đọc vó, bản 1871 đọc búa.
Nhóm thứ ba là nơi người đọc Kiều thấy rõ nhất vai trò của người phiên âm: cùng một nét khắc trên ván, mỗi nhà nghiên cứu nghe ra một chữ.
4. Bản nào đứng với bản nào?
Ở mỗi vị trí dị bản, bốn bản chia thành các "phe" theo cách đọc. Đếm các kiểu chia phe:
| Kiểu chia phe | Số vị trí | Ví dụ |
|---|---|---|
| 1872 một mình, ba bản kia giống nhau | 555 | câu 2: chữ tài chữ mệnh / chữ tài chữ sắc (1872) |
| 1902 một mình | 526 | câu 69: đến / tới (1902) |
| 1870 một mình | 466 | câu 8: có / cổ (1870) |
| 1871 một mình | 397 | câu 27: hai / đôi (1871) |
| 1870 + 1902 / 1871 + 1872 | 341 | câu 21: nói (1870, 1902) / thốt (1871, 1872) |
| 1870 + 1871 / 1872 + 1902 | 159 | câu 33: chương / xoang |
| 1870 + 1872 / 1871 + 1902 | 58 | câu 85: bấy / mấy |
| ba phe trở lên | 349 | câu 264: gợi / khảy / cới / khơi |
Hai điều rút ra:
Mỗi bản có nhiều chữ "riêng". Bản 1872 đứng một mình ở 555 vị trí, bản 1902 ở 526, bản 1870 ở 466, bản 1871 ở 397. Không bản nào là "bản gốc" mà các bản kia chỉ chép lại.
Trong ba cách chia đôi, một cách trội hẳn. Khi bốn bản chia thành hai cặp, cặp 1870 + 1902 đối với 1871 + 1872 xuất hiện 341 lần, gấp đôi cách chia thứ hai (159) và gấp sáu cách thứ ba (58). Trong văn bản học, những chỗ hai bản cùng một cách đọc riêng là bằng chứng tốt nhất về họ hàng. Ở đây bằng chứng chỉ về một hướng: 1870 gần 1902, 1871 gần 1872.
5. Cây gia phả
Đưa cả bản 1866 vào (16.652 vị trí có mặt ở cả năm bản), đếm số vị trí khác nhau giữa từng cặp bản:
| 1870 | 1871 | 1872 | 1902 | |
|---|---|---|---|---|
| 1866 | 1.039 | 208 | 997 | 1.243 |
| 1870 | 1.096 | 1.287 | 1.080 | |
| 1871 | 1.049 | 1.283 | ||
| 1872 | 1.319 |
Ghép dần các bản gần nhau nhất (phương pháp UPGMA, cách dựng cây đơn giản nhất từ một bảng khoảng cách):
- 1866 và 1871 ghép trước tiên, ở khoảng cách 208, rất gần nhau.
- 1872 ghép vào nhóm Liễu Văn Đường, ở khoảng cách trung bình 1.023.
- 1870 và 1902 ghép với nhau, ở khoảng cách 1.080.
- Hai nhánh gặp nhau ở khoảng cách 1.211.
┌── 1866 (Liễu Văn Đường)
┌────┤
│ └── 1871 (Liễu Văn Đường)
┌────┤
│ └─────── 1872 (Duy Minh Thị)
────┤
│ ┌─────── 1870 (Bản Kinh, Tự Đức)
└────┤
└─────── 1902 (Kiều Oánh Mậu)
Để chắc rằng cây không bị lệch do người phiên âm (ba bản 1866, 1870, 1871 có chung người phiên âm, điều này có thể kéo chúng lại gần nhau), cây được dựng lại chỉ bằng những khác biệt trên ván (khác chữ Nôm và khác cách đọc). Khoảng cách đổi, nhưng hình cây không đổi: 1866–1871 chỉ khác nhau 119 chỗ; 1872 gần 1866 (693) và 1871 (729) hơn mọi bản khác; 1870 gần 1902 nhất (887). Hơn nữa, nếu người phiên âm có kéo được, nó phải kéo 1870 về phía 1866 và 1871. Thực tế 1870 lại đi với 1902, bản do một nhóm khác phiên âm. Kết quả này vững.
Cần nói rõ giới hạn của cây: đây là cây họ hàng theo mức giống nhau, không phải cây phả hệ thật (bản nào chép từ bản nào). Muốn biết hướng chép phải xét từng chỗ sai chung, như các lỗi khắc ván của bản 1871 ở nghiên cứu số 5. Nhưng hai nhánh thì rất rõ, và khớp với những gì các nghiên cứu trước cho thấy: hai bản Liễu Văn Đường chung lỗi vần và chung chữ Nôm đến 95,8% (nghiên cứu số 3 và 5).
6. Chữ viết hoa của bản 1872
Ở các nghiên cứu trước, những chữ viết hoa trong phần phiên âm bản 1872 (TRỜ TRỜ, MẢI, THA LA, VẠNH VẠNH…) luôn rơi đúng vào chỗ bản này khác các bản kia. Giờ có thể đếm trên toàn văn bản:
- Bản 1872 có 1.325 chữ viết hoa ở những câu gióng được.
- 74% trong số ấy đứng ở chỗ bản 1872 khác ít nhất một trong ba bản 1870, 1871, 1902; 39% đứng ở chỗ nó khác cả ba.
- Ngược lại, ở 759 chỗ bản 1872 khác cả ba bản kia, 520 chỗ (68,5%) được viết hoa.
Vậy chữ hoa đúng là dấu đánh dấu khác biệt, nhưng không phải so với chính bốn bản này. Nhiều chữ hoa đứng ở chỗ bản 1872 giống một bản khác mà khác những bản còn lại: XOANG giống 1902, THỐT giống 1871, ĐÃ giống 1871 và 1902 mà khác 1870. Cách giải thích hợp lý nhất: người phiên âm bản 1872 viết hoa những chữ khác với một văn bản đối chiếu của riêng ông (có lẽ một bản Kiều quốc ngữ thông dụng), không phải với các bản Nôm ở đây. Chữ hoa vì thế là một manh mối tốt (bắt được hai phần ba số chữ riêng của bản 1872), nhưng không thay được phép so sánh trực tiếp.
7. Giới hạn của bài
- Chỉ so những câu có cùng số âm tiết ở mọi bản (bỏ 10 câu). Câu thêm bớt chữ không được so ở đây.
- Cách đánh số câu của trang web có vài chỗ trùng số. Số câu được suy từ số đỏ in trên trang, nên quanh các câu thừa của một bản có vài câu mang cùng một số: bản 1870 quanh câu 393, 531–532, 1827–1828, 1897–1898; bản 1872 quanh câu 1067–1073; bản 1902 quanh câu 532–533 và 1440. Ở những chỗ ấy việc gióng câu có thể lệch một hai câu. Đây cũng là chỗ các bản có câu thừa (chẳng hạn bản 1872 chèn một dòng tiêu đề chữ Hán và các câu đề thơ ở quãng câu 1067–1073).
- Khác biệt chính tả (quỉ / quỷ) chưa được lọc ra khỏi số liệu; chúng làm nhóm "khác do phiên âm" lớn hơn thực tế một chút.
- Cây UPGMA giả định mọi nhánh biến đổi cùng tốc độ. Với năm bản và hai nhánh rõ ràng như vậy, giả định này không làm đổi kết luận, nhưng không nên đọc độ dài nhánh như số năm.
Nguồn và lời cảm ơn
Toàn bộ văn bản Nôm, phần phiên âm quốc ngữ, lời chú thích và ảnh quét dùng trong nghiên cứu này là của Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation, Nom Foundation). Hội đã số hoá và công bố miễn phí năm bản Truyện Kiều trên trang nomfoundation.org. Xin chân thành cảm ơn Hội và các nhà nghiên cứu đã phiên âm, khảo dị năm bản này. Không có công sức của họ thì không thể có những phép đếm ở đây.
| Bản | Tên bản | Người phiên âm / biên soạn | Nhà xuất bản (bản in) | Liên kết |
|---|---|---|---|---|
| 1866 | Bản Liễu Văn Đường, Nghệ An | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004 | Truyện Kiều bản 1866 |
| 1870 | Bản Kinh đời Tự Đức | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2003 | Truyện Kiều bản 1870 |
| 1871 | Bản Liễu Văn Đường | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2002 | Truyện Kiều bản 1871 |
| 1872 | Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị | Nguyễn Tài Cẩn (Moskva) | Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 | Truyện Kiều bản 1872 |
| 1902 | Bản Kiều Oánh Mậu | Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng (sưu tầm, khảo chú, chế bản Nôm); Nguyễn Đình Thảng (hiệu đính chữ Nôm) | — | Truyện Kiều bản 1902 |
Dữ liệu được tải về ngày 24/10/2026 để nghiên cứu cá nhân, phi thương mại. Mọi con số trong bài được tính từ bản tải về ngày ấy.
Written by: Claude AI.
Curator/Editor: Học Trò.
Mọi trích dẫn đều phải ghi chú với dòng trên và nói rõ bài khảo luận được lấy từ trang https://hoctroviet.blogspot.com/
No comments:
Post a Comment