Written by: Claude AI.
Curator/Editor: Học Trò.
Nghiên cứu số 7 trong loạt đề xuất. Mỗi bản Kiều trên trang Nom Foundation đi kèm những lời chú hiện lên khi rê chuột vào một cụm chữ màu xanh. Cộng cả năm bản có 5.092 lời chú. Đó là công trình của năm nhóm biên soạn khác nhau, và mỗi nhóm chú theo một kiểu. Bài này đếm và phân loại chúng, đếm những nguồn được dẫn, rồi làm một phép kiểm chứng mà trước khi có dữ liệu tải về thì không làm được: khi lời chú của bản 1870 nói "bản Liễu Văn Đường đọc chữ X", thì bản Liễu Văn Đường tải về có thật đọc chữ X ở câu ấy không? Câu trả lời là có, ở 95% trường hợp, nhưng chỉ khi so với bản 1871. So với bản 1866, cũng của Liễu Văn Đường, thì tỉ lệ thấp hơn.
1. Năm bộ lời chú, năm kiểu chú
Mỗi lời chú được xếp vào một trong bốn loại: dị bản có ghi nguồn (có ký hiệu một bản in khác), dị bản không ghi nguồn (có chữ trích trong ngoặc kép nhưng không nêu nguồn), khảo cứu dài (trên 300 ký tự), và giải nghĩa hay ghi chú khác.
| Bản | Người biên soạn | Số lời chú | Dị bản có nguồn | Dị bản không nguồn | Khảo cứu dài | Giải nghĩa / khác | Độ dài trung bình |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1866 | Nguyễn Quảng Tuân | 1.379 | 29 | 290 | 87 | 973 | 101 ký tự |
| 1870 | Nguyễn Quảng Tuân | 1.088 | 930 | 43 | 101 | 14 | 115 ký tự |
| 1871 | Nguyễn Quảng Tuân | 666 | 0 | 659 | 0 | 7 | 31 ký tự |
| 1872 | Nguyễn Tài Cẩn | 1.001 | 131 | 28 | 116 | 726 | 160 ký tự |
| 1902 | Nguyễn Thế, Phan Anh Dũng | 958 | 647 | 45 | 28 | 238 | 72 ký tự |
Năm bộ chú làm năm việc khác nhau:
- Bản 1866 chủ yếu là từ điển: bảy phần mười lời chú giải nghĩa từ ngữ ("Hương thừa: mùi hương thơm còn toả bay, chưa tan hết"; "chấp chới: lung linh sáng").
- Bản 1870 là một bộ khảo dị có nguồn: gần như mọi lời chú có dạng "câu thơ theo bản khác, với chữ khác trong ngoặc kép, rồi tên bản trong ngoặc đơn", ví dụ "Những điều trông thấy “đã” đau đớn lòng (LVĐ)".
- Bản 1871 là khảo dị gọn: 659 lời chú chỉ ghi câu thơ có chữ khác, trung bình 31 ký tự, không ghi nguồn ("Bốn dây to nhỏ theo vần cung “thương”").
- Bản 1872 là khảo cứu: lời chú dài nhất (trung bình 160 ký tự, dài nhất 1.569 ký tự), bàn về cách đọc chữ Nôm, về chữ khắc nhầm, về lịch sử văn bản.
- Bản 1902 là so sánh với một bản quốc ngữ: 615 lời chú bắt đầu bằng "B-T:", so cách đọc của bản Kiều Oánh Mậu với một bản Kiều quốc ngữ (ký hiệu B-T, thường dùng để chỉ bản Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim).
Cùng một người (Nguyễn Quảng Tuân) làm ba bản 1866, 1870, 1871, nhưng mỗi bản một kiểu chú. Có lẽ ba bản được in thành sách vào ba năm khác nhau (2002, 2003, 2004), mỗi cuốn có một cách trình bày riêng.
2. Những nguồn được dẫn
Đếm số lời chú có nhắc đến mỗi ký hiệu:
| Ký hiệu | 1866 | 1870 | 1872 | 1902 | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|
| LVĐ | 24 | 900 | 6 | bản Liễu Văn Đường | |
| KOM | 13 | 250 | 10 | 73 | bản Kiều Oánh Mậu |
| LNP | 185 | ||||
| DMT | 1 | 145 | 47 | bản Duy Minh Thị | |
| T.H.Ư | 144 | ||||
| QVĐ | 11 | 133 | 4 | 9 | có lẽ là bản Quan Văn Đường |
| B-T | 28 | 615 | thường chỉ bản Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim | ||
| HTC | 2 | 60 | |||
| TVKI | 42 | ||||
| VVK | 19 | Vũ Văn Kính (lời chú ghi "xem V.V.Kính, 1994") | |||
| ĐDA | 2 | 16 | 6 | thường chỉ Đào Duy Anh | |
| TT12 | 77 | ||||
| CVT | 1 | 21 |
(Bài này chỉ giải nghĩa những ký hiệu mà chính dữ liệu cho thấy rõ, hoặc đã rất quen thuộc trong giới nghiên cứu Kiều; các ký hiệu khác giữ nguyên.)
Bộ khảo dị của bản 1870 dẫn sáu nguồn chính: LVĐ, KOM, LNP, DMT, T.H.Ư, QVĐ. LVĐ được dẫn nhiều gấp ba bốn lần các nguồn khác, vì đó là bản mà người biên soạn lấy làm đối chứng chính. Khi nhiều nguồn được dẫn cùng nhau trong một lời chú (ví dụ "(LVĐ - THƯ - DMT - QVĐ)"), các cặp hay đi cùng nhau nhất là KOM + LVĐ (183 lần), LNP + LVĐ (180), DMT + LVĐ (136), KOM + LNP (132).
3. Kiểm chứng lời chú bằng bản tải về
Đây là phần mới nhất của bài. Bộ khảo dị bản 1870 có một dạng rất đều: phần đầu mỗi lời chú là câu thơ theo bản khác, chữ khác nằm trong ngoặc kép, nguồn nằm trong ngoặc đơn. Máy đọc được 984 phần đầu như vậy. Với mỗi phần đầu dẫn LVĐ, DMT hay KOM, ta lấy chữ trong ngoặc kép rồi tìm nó trong câu tương ứng của bản tải về: bản 1866 và 1871 cho LVĐ, bản 1872 cho DMT, bản 1902 cho KOM.
| Lời chú bản 1870 nói | So với bản tải về | Khớp | Không khớp | Tỉ lệ khớp |
|---|---|---|---|---|
| LVĐ đọc "X" | 1871 (Liễu Văn Đường) | 822 | 42 | 95,1% |
| LVĐ đọc "X" | 1866 (Liễu Văn Đường) | 563 | 70 | 88,9% |
| KOM đọc "X" | 1902 (Kiều Oánh Mậu) | 122 | 11 | 91,7% |
| DMT đọc "X" | 1872 (Duy Minh Thị) | 9 | 2 | (quá ít để kết luận) |
(Những chữ trong ngoặc kép trùng với chính bản 1870 thì không kiểm được và bị bỏ ra. DMT ít khi được dẫn một mình ở phần đầu lời chú, nên mẫu rất nhỏ.)
Bộ khảo dị đáng tin cậy: chín phần mười trở lên những gì lời chú nói về các bản khác được xác nhận bởi chính các bản ấy trên cùng trang web.
Nhưng "LVĐ" trong lời chú gần với bản 1871 hơn bản 1866. Ở những chỗ hai bản Liễu Văn Đường khác nhau, lời chú gần như luôn theo bản 1871:
| Câu | Lời chú bản 1870 (dẫn LVĐ) | Bản 1871 | Bản 1866 |
|---|---|---|---|
| 25 | Làn thu thuỷ, “nét” xuân sơn | Làn thu thuỷ, nét xuân sơn | Làn thu thuỷ, thấp xuân sơn |
| 87 | Sống “thì tình chẳng riêng ai” | Sống thì tình chẳng riêng ai | Sống làm vợ khắp người ta |
Điều này hợp lý: bản 1870 (in năm 2003) ra đời sau bản 1871 (in năm 2002) của cùng một người biên soạn, nên bản Liễu Văn Đường mà ông dùng làm đối chứng nhiều khả năng là bản 1871 ông vừa làm xong. Điều này cũng nhắc người dùng dữ liệu rằng "LVĐ" không phải một văn bản duy nhất: hai lần in của Liễu Văn Đường (1866 và 1871) giống nhau 92% số câu nhưng không phải 100% (nghiên cứu số 4).
Những chỗ không khớp phần lớn là khác cách đọc hay chính tả giữa người làm lời chú và người phiên âm bản kia: lời chú viết "hòe", bản 1871 viết "hoè"; lời chú viết "hấng", bản 1902 viết "hứng". Một số ít là khác biệt thật, đáng xem lại từng trường hợp; danh sách được lưu kèm.
4. Những câu được chú nhiều nhất
74 câu được chú ở cả năm bản. Câu được chú nhiều nhất (8 lời chú) là câu 2266, trong cảnh quân của Từ Hải đến "rước chầu vu qui", đón Kiều về:
| Bản | Câu thơ | Lời chú |
|---|---|---|
| 1866 | Hoa bay chấp chới, hà y rỡ ràng | "Hoa bay" nên đọc là "hoa quan": mũ có bông vàng chạm kết ở trên; "chấp chới": lung linh sáng; "hà y": áo sắc đẹp rực rỡ như sắc ráng trời |
| 1870 | Hoa quan chấp chới, hà y rỡ ràng | Hoa “bay” chấp chới… (LVĐ) |
| 1871 | Hoa bay chấp chới, hà y rỡ ràng | Hoa “quan” chấp chới… |
| 1872 | Hoa quan giấp giới hà y RÕ RÀNG | Theo mặt chữ thì phải đọc RÕ RÀNG; chữ RÀNG khắc cũng không chuẩn; RỠ RÀNG ở A, B; RÕ RÀNG ở 3 bản Nôm cổ |
| 1902 | Hoa quan giấp giới hà y rỡ ràng | HOA QUAN: giải mũ; HÀ Y: áo tía màu ráng chiều |
Một câu thơ, năm cách đọc chữ thứ hai và chữ thứ ba, và năm lời giải thích. Bản Liễu Văn Đường khắc bay, các bản khác khắc quan; bản 1866 thì vừa phiên bay theo mặt chữ vừa chú rằng nên đọc quan.
Những câu khác được chú ở cả năm bản và nhiều lời chú: câu 898 ("Cực nhà đến đỗi giấn vào tôi ngươi"), 1724, 1784, 1991, 2302, rồi câu 44 ("Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"), 247 ("Sầu đong càng giở càng đầy"). Phần lớn là những câu có từ cổ hay điển tích, chỗ người đọc hiện đại cần được giải nghĩa và các bản cũng hay khác nhau.
Một lời chú đáng đọc
Lời chú dài nhất ở câu 2 của bản 1872 (Nguyễn Tài Cẩn) bàn về việc bản Duy Minh Thị đọc "chữ tài chữ sắc khéo là cợt nhau" thay vì "chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau". Ông nhận thấy hai chữ TÀI, SẮC "trông hơi khác 6 chữ còn lại trong dòng" trên ván, nên ngờ là chữ chêm vào, và phỏng đoán ba giai đoạn của câu thơ: từ một bản thảo xưa theo sát lời bình của Kim Thánh Thán ("chữ TÌNH chữ KHỔ khéo là KẾT nhau"), đến "tài sắc cợt nhau" của bản này, rồi đến "tài mệnh ghét nhau" của các bản hiện thấy. Đây là kiểu lời chú mà không phép đếm nào thay được.
Một lời chú khác của ông, ở câu 2266, có một chi tiết đáng chú ý cho nghiên cứu số 5: "Ở câu 2273 CÂN ĐAI khắc nhầm thành ĐAI CÂN, mất vần." Nhà nghiên cứu cũng dùng chính luật vần để phát hiện chỗ thợ khắc sai, đúng như phép thử máy móc ở nghiên cứu ấy.
5. Giới hạn của bài
- Phân loại lời chú dựa vào dấu hiệu bề mặt (độ dài, ngoặc kép, ký hiệu viết tắt). Một lời chú vừa giải nghĩa vừa so dị bản chỉ được xếp vào một loại.
- Phép kiểm chứng chỉ dùng phần đầu có cấu trúc của lời chú bản 1870 (984 phần đầu). Những nhận định nằm trong phần giải thích dài ("bản LNP và bản T.H.Ư chép là 古…") không được kiểm.
- "Khớp" nghĩa là chữ trích có mặt trong câu của bản kia, không xét vị trí. Với chữ ngắn, một vài trường hợp có thể khớp do tình cờ.
- Nhiều ký hiệu nguồn chưa được giải nghĩa (LNP, T.H.Ư, HTC, TVKI, TT12, CVT, KTTĐ…). Muốn biết chắc cần xem phần "ký hiệu" trong các sách in.
Nguồn và lời cảm ơn
Toàn bộ văn bản Nôm, phần phiên âm quốc ngữ, lời chú thích và ảnh quét dùng trong nghiên cứu này là của Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation, Nom Foundation). Hội đã số hoá và công bố miễn phí năm bản Truyện Kiều trên trang nomfoundation.org. Những lời chú được đếm và trích ở đây là công trình của các nhà phiên âm, khảo dị ghi trong bảng dưới. Xin chân thành cảm ơn Hội và các nhà nghiên cứu ấy. Không có công sức của họ thì không thể có những phép đếm ở đây.
| Bản | Tên bản | Người phiên âm / biên soạn | Nhà xuất bản (bản in) | Liên kết |
|---|---|---|---|---|
| 1866 | Bản Liễu Văn Đường, Nghệ An | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2004 | Truyện Kiều bản 1866 |
| 1870 | Bản Kinh đời Tự Đức | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2003 | Truyện Kiều bản 1870 |
| 1871 | Bản Liễu Văn Đường | Nguyễn Quảng Tuân, phiên âm và khảo dị | Văn học & Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, 2002 | Truyện Kiều bản 1871 |
| 1872 | Tư liệu Truyện Kiều: Bản Duy Minh Thị | Nguyễn Tài Cẩn (Moskva) | Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002 | Truyện Kiều bản 1872 |
| 1902 | Bản Kiều Oánh Mậu | Nguyễn Thế và Phan Anh Dũng (sưu tầm, khảo chú, chế bản Nôm); Nguyễn Đình Thảng (hiệu đính chữ Nôm) | — | Truyện Kiều bản 1902 |
Dữ liệu được tải về ngày 24/10/2026 để nghiên cứu cá nhân, phi thương mại.
Written by: Claude AI.
Curator/Editor: Học Trò.
Mọi trích dẫn đều phải ghi chú với dòng trên và nói rõ bài khảo luận được lấy từ trang https://hoctroviet.blogspot.com/
No comments:
Post a Comment