Showing posts with label Tạp Chí Bách Khoa. Show all posts
Showing posts with label Tạp Chí Bách Khoa. Show all posts

8.06.2026

Tên các tác giả và bài họ viết trên Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)

Tác giả: Claude Sonnet 5, dưới sự dẫn dắt và chỉnh sửa của Học Trò. Để xem các tạp chí đã số hóa, ấn vào số báo ở giữa mỗi row.


Học Trò xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Phú Minh (https://phamxuandai.blogspot.com/), Nhật Báo Người Việt tại Little Saigon, và các thiện nguyện viên phụ trách việc số hóa tạp chí này, để hậu thế có thể được xem lại những áng văn chương, nghệ thuật cùa Việt Nam Cộng Hòa trước ngày mất nước.

6570 rows, sắp theo Tác giả → Tựa bài → Số.

Tác giả Tựa bài Số Trang Ngày
(SINH HOẠT) Thư ngỏ của tạp chí Tin-Văn 239 86 15-12-1966
Con dán (dịch Dino Buzzati) 222 82 1-4-1966
Đời sống sinh viên tại Hoa Kỳ, Pháp, Nhật: qua những lá thư về gia đình 203 31 15-6-1965
MỤC LỤC BỘ MÔN B.K.T.Đ. TỪ 193 ĐẾN 204 204 82 1-7-1965
MỤC LỤC BỘ MÔN TỪ 253 ĐẾN 264 264 78 1-1-1968
MỤC LỤC BỘ MÔN TỪ 337 ĐẾN 348 348 81 1-7-1971
MỤC LỤC BỘ MÔN TỪ SỐ 361 ĐẾN SỐ 372 372 81 1-7-1972
MỤC LỤC BỘ MÔN TỪ SỐ 373 ĐẾN SỐ 384 384 74 1-1-1973† (ước tính, xem ghi chú)
MỤC LỤC BỘ MÔN TỪ SỐ 395 (P) ĐẾN SỐ 401 (V) 401 ~12-12-1973† (năm suy ra từ nhịp độ 3 tuần/số, nối tiếp ước tính số 400)
MỤC-LỤC BỘ-MÔN TỪ 241-42 ĐẾN 252 252 80 1-7-1967
Những sai lầm trong truyện ngắn «Vết thương dậy thì» 192 70 1-1-1965
TRANH BÌA CỦA PHẠM THẮNG 265-266 15-1-1968
(không ký tên) Mục lục bộ môn từ số 313-314 đến 324 324 81 1-7-1970
MỤC LỤC THEO BỘ MÔN TỪ 385-386 (E, F) ĐẾN 394 (O) 394 ~14-7-1973† (năm suy ra từ nhịp độ 3 tuần/số)
(không tên) Mục Lục bộ môn từ số B.K.T.Đ. 206 đến 116 216 82 1-1-1966

Nội Dung 426 số báo của Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)

Tác giả: Claude Sonnet 5, dưới sự dẫn dắt và chỉnh sửa của Học Trò. Để xem các tạp chí đã số hóa, ấn vào số báo ở đầu mỗi row.


Học Trò xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Phú Minh (https://phamxuandai.blogspot.com/), Nhật Báo Người Việt tại Little Saigon, và các thiện nguyện viên phụ trách việc số hóa tạp chí này, để hậu thế có thể được xem lại những áng văn chương, nghệ thuật cùa Việt Nam Cộng Hòa trước ngày mất nước.

6570 rows total. 426 issues.

Số Ngày Tác giả Tựa bài Trang
1 15-1-1957† (năm suy ra) BÁCH-KHOA Thay lời phi-lộ
1 15-1-1957† HUỲNH-VĂN-LANG Thử tìm một giải-pháp để xuất-cảng
1 15-1-1957† PHAN-MAI «NGƯỜI» trong tác-phẩm Saint-Exupéry
1 15-1-1957† PHẠM-NGỌC-THẢO Thế nào là Quân-đội mạnh
1 15-1-1957† HUÊ-CHÂU Địa-vị nhạc JAZZ trong nghệ-thuật hiện-đại
1 15-1-1957† HOÀNG-MINH-TUYNH Nên để trẻ được tự-do hay nên nghiêm-khắc với trẻ
1 15-1-1957† MINH-ĐỨC Sau giấc ngủ mười năm (chuyện ngắn)
1 15-1-1957† MINH-PHONG Để không đau
1 15-1-1957† THU-TRÙNG Cỏ ấy không ghen
1 15-1-1957† BÙI-VĂN-THỊNH Một giai-đoạn mới trong chính-sách kinh-tế
1 15-1-1957† PHẠM-HOÀNG-MĨ Vài ý-kiến về học sử
1 15-1-1957† PHAN-LẠC-TUYỀN Viễn xứ (thơ)
1 15-1-1957† Bác-sĩ NGUYỄN-VĂN-BA Đông-y Dịch-lý
1 15-1-1957† VĂN-QUỲ Văn-chương nước Mỹ
1 15-1-1957† YÃ-HẠC & TRỊNH-NGUYÊN Chú khổng-lồ ích-kỷ

8.01.2026

Tên các tác giả và bài họ viết trên tạp chí Văn Học / Văn Học Nghệ Thuật ở Hải Ngoại (1978 - 2008)

Tác giả: Claude Sonnet 5, dưới sự dẫn dắt và chỉnh sửa của Học Trò. Để xem các tạp chí đã số hóa, mời bạn đọc vào trang https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/TapChiVanHoc.php.

Bạn cũng có thể tới ngay báo nếu ấn vào số ấy, nằm ngay sau bộ "", "Mới", hoặc "Văn Học".

Tác giả Tựa bài Bộ Số Ngày Chủ đề đặc biệt Trang
A. Solzhenitsyn (Nguyễn Phúc dịch) sự kiên trì tôn thờ cái mới đã tác hại ra sao trong thế kỷ này Văn Học 159 7-1999 30
Alain Robbe Grillet tiểu thuyết pháp ngày nay Văn Học 180 4-2001 121
Alberto Moravia khinh bỉ 2 5-1978 54
† Alexandre Lê trao đổi với lê hữu mục về chinh phụ ngâm Văn Học 205 5-2003 41
Algernon C. Swinburne (Tô Thẩm Huy dịch) lần tăm về tối Văn Học 236 3&4-2008 220
Andrew Lâm quay cuồng trong điệu vũ Văn Học 116 12-1995 83
trên sông hương (thạch hãn dịch) Văn Học 121 5-1996 85
Andrew Q. Lâm gỗ mun và hồn ma bóng quế Văn Học 117-118 1&2-1996 47
André Maurois bóng hồng tháng chín 5 8-1978 61
Antoine de Saint Exupéry & Võ Đình thư cho một con tin (dịch) Văn Học 58 12-1990 28

Nội Dung các số báo của Tạp chí Văn Học / Văn Học Nghệ Thuật ở Hải Ngoại (1978 - 2008)

Tác giả: Claude Sonnet 5, dưới sự dẫn dắt và chỉnh sửa của Học Trò. Để xem các tạp chí đã số hóa, mời bạn đọc vào trang https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/TapChiVanHoc.php.

Bạn cũng có thể tới ngay báo nếu ấn vào số ấy, nằm ngay sau bộ "", "Mới", hoặc số báo.

Văn Học Nghệ Thuật (Bộ Cũ)

Bộ Số Ngày Chủ đề đặc biệt Tác giả Tựa bài Trang
1 4-1978 Phạm Duy nhạc Việt trên đất Mỹ 5
1 4-1978 Võ Phiến đọc thơ Cao Tần 10
1 4-1978 Mặc Đỗ kế hoạch chống đàn bà (truyện) 16
1 4-1978 Lê Tất Điều nắng biển (truyện) 21
1 4-1978 Phạm Tăng một chuyến đi (thơ) 31
1 4-1978 Thợ Vườn bữa tiệc linh đình (thơ vui) 32
1 4-1978 Nguyễn Nhất Thanh Tâm nụ cười buổi chiều -- bây giờ đã mất (thơ) 33
1 4-1978 Hoàng Dung chàng Từ Thức Phú Yên (truyện) 34
1 4-1978 Pearl Buck ba người con gái bà Lương (truyện dài rút ngắn) 43
1 4-1978 Lê Tất Điều (Bùi Tố Loan dịch) the 492nd day of the cease-fire (truyện) 76

7.28.2026

Duyên Hội-Ngộ Trong Câu Hò Miền Nam

Thuần-Phong

Tạp chí Bách Khoa, số 7 (1957), trang 51–56

Claude Sonnet OCR ra tiếng Việt, Học Trò đối chiếu và sửa chữa vài chỗ.


Ca-dao Với Dân-tộc

Đã từng học-hỏi ca-dao, ai cũng phải thừa-nhận tánh-cách đồng-nhứt của dân-tộc, từ văn-chương đến phong-tục, trong lãnh-vực cũng như ở tinh-thần. Ca-dao là một phương-tiện tuyên-truyền, một thể-thức liên-lạc, vượt tất cả đèo ải núi sông, qua suốt cả thời-gian triều-đại. Trải qua tất cả chướng-ngại vật-chất và vô-hình, ca-dao đi sát theo gót nam-tiến và có khi tung bay ra hải-ngoại lân-bang.

Trước hơn hết, ca-dao là chiếc xe chở ngôn-ngữ từ Bắc vào Nam; như tiếng « ô », tiếng « mồm », hai tiếng thổ-ngữ ở Bắc và ở Trung chỉ có lưu-truyền trong hai câu ca-dao miền Nam, mà không hề nói:

— Lọng che sương dầu sườn cũng lọng,
Cái « ô » bịt vàng dầu trọng cũng « ô ».
— Một trăm ông chú không lo,
Lo vì một nỗi mụ o nỏ « mồm ».

Những tư-tưởng phổ-thông, phản-ảnh khía-cạnh của dân-tộc-tính, cũng nương theo giọng lảnh-lót mà truyền thẳng vào Nam. Chẳng hạn câu ca-dao ở Bắc:

Chim quyên xuống suối ăn trùn,
Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than.

chuyển vào Nam thành câu:

Chim quyên xuống suối kiếm mồi,
Thấy anh lao-khổ đứng ngồi không yên.

Có những câu đi ngang qua thời-gian suốt Bắc, Trung, Nam, mà vẫn còn nguyên vẹn:

— Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.
— Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,
Nhớ người đãy gấm khăn điều vắt vai.
— Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,
Bâng-khuâng nhớ mợ chín chiều ruột đau.

Chủ-yếu và thông-dụng nhứt là câu cổ-võ đoàn-kết:

Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây giụm (chụm) lại nên hòn núi cao.

Ngoài ngôn-ngữ và tư-tưởng, ca-dao vẫn còn chứng-minh được sự đồng-nhứt trong thể-cách hành-văn, trong phương-pháp diễn-tả. Câu trong Nam người bạn biển hát ở ngoài khơi hòn Phú-Quốc:

Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Anh đi năm bãi hòn Khơi một mình.

nếu không phải vì truyền-thống đồng-nhứt, có lẽ nào ngẫu-nhiên mà trùng với câu ca-dao ở đồng quê sông Nhị-Hà:

Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà...

Bài nầy không nhắm mục-đích chứng-minh sự thống-nhứt xứ-sở. Một ít thí-dụ dẫn-chứng, chỉ mong thanh-minh trước rằng bài nầy không có dụng-tâm phân-biệt địa-phương, dưới một đầu đề thâu-hẹp. Đầu đề sở-dĩ thâu hẹp vì vấn-đề quá ư to rộng mà nhứt là vì quan-niệm dân-tộc vẫn đồng-nhứt về vấn-đề, dầu cho xét ca-dao ở lưu-vực sông Hồng, xét câu hò mái đẩy ở mặt sông Hương, hay là xét câu huê-tình trong giòng sông Cửu. Vậy thâu hẹp vấn-đề ở trong khung-cảnh miền Nam tựu-trung không có dụng-ý phân ranh hạn giới mà trái lại, có tác-dụng điển-hình cho khắp cả dân-tộc từ Bắc chí Nam. Phương-chi, từ hồi Hoàng-ngọc-Phách trong bài diễn-văn đọc tại Hội Trí-Tri Nam-Định ngày 14-10-1923 và Phạm-Quỳnh trong bài diễn-văn đọc tại Hội Địa-Dư Hà-Nội ngày 19-12-1929, dẫn đến Hoa-Bằng Hoàng-thúc-Trâm trong quyển « Dân-Tộc-Tính trong Ca-dao », đã nhiều lần ca-dao ngoài Bắc được nghiên-cứu trình-bày, được rộng-rãi phổ-biến khắp nước; trong lúc ấy, ca-dao miền Nam chỉ được hát, hò trong cảnh đồng rộng sông dài, chưa có dịp phô-trương giới-thiệu.

Duyên Gặp-gỡ

Cùng một dân-tộc, cùng một huyết-thống, cùng một tâm-hồn, nên ở Đàng Ngoài hay ở Đàng Trong, người Việt chúng ta bao giờ cũng vẫn là người Việt:

Tới đây chẳng hát thì hò,
Chẳng phải con cò ngóng cổ mà nghe.

Vì yêu đời mà vừa làm vừa hát; vừa làm vừa hát để càng yêu đời. Từ xưa và từ Nam chí Bắc, hát gắn liền với cuộc đời, hát là một điều-kiện sanh-sống, — sanh-sống tập-đoàn: trước hơn hết, hát là duyên gặp-gỡ.

Trên chiếu bông hay trường-kỷ, ngoài điếu thuốc miếng trầu bên chung trà chén rượu, những nhà trí-thức kết duyên tao-ngộ bằng câu phú câu thơ. Kẻ chân lấm tay bùn lấy trời làm nhà, lấy nước làm chiếu, chào hỏi nhau bằng tiếng hát, câu hò và cứ hát hò mà kết duyên hội-ngộ.

Trên khúc sông rộng trời khuya, một anh trạo-phu thả chèo theo nước, lòng những lâng-lâng theo ngọn thủy-triều, khấp-khởi như những chòm sao nháy trên chín từng mây, rộn-rực như các vừng lửa đóm hai bên mé rạch, không thế nào mà chẳng cất tiếng lên hò, nhứt là khi nhìn thấy một đốm đen linh-đinh thả trước mặt, sắp khuất dạng bên doi:

Bớ chiếc thuyền loan!
Khoan khoan ngớt mái,
Đặng dãy tỏ một hai lời phải trái nghe chơi.

Dầu chưa phải một nòi tình, nhưng vẫn là người đồng-điệu, khách thương-hồ cũng sẵn-sàng tao-ngộ gầy duyên, thung-dung đối lại:

Bớ chiếc ghe sau!
Chèo mau, em đợi,
Kẻo khỏi khúc sông nầy, bờ bụi tối-tăm.

Thế là duyên gặp-gỡ đã gầy đầu.

Có khi duyên gặp-gỡ bắt đầu một cách khác.

Đây là trường-hợp một cô thương-nữ đêm khuya sông vắng, lẻ-loi một gái một thuyền, muốn tìm một bạn đường cho giải muộn, lảnh-lót hát lên đánh thức cô-bác anh-em:

Gió đưa con buồn ngủ lên bờ,
Đừng cho nó xuống nó rờ mắt tôi!

Thiên-hạ đã thức và âm-thầm thổn-thức vì câu hò có duyên; để đáp lại tiếng ho hen tằng-hắng trên bờ và để trêu-ghẹo các anh trai đồng-điệu, chị lái đò nối tiếng hò lên:

Đời phải đời thạnh-trị,
Cuộc phải cuộc văn-minh,
Kìa là gió mát trăng thanh,
Biết đâu nhơn-đạo bày tình cho vui?

Quả-nhiên, trên bờ có khách đồng-điệu ứng tiếng hò lên đáp lại:

Thùng thùng! đó nói một câu,
Đây anh chầu nửa chục,
Hễ là gạn đục,
Thì phải lóng trong;
E cho miệng chẳng in lòng,
Chớ thuyền-quyên sánh với anh-hùng mới xuê.

Thì chàng « anh hùng » này tức-khắc, hoặc là thả bộ trên bờ sông, hoặc là bơi xuống theo cô lái, đối đáp cho phỉ tình đồng-điệu, thỏa duyên tao-phùng.

Duyên gặp-gỡ đã gầy mối rong, tiếp theo là một cuộc đối-đáp, gạn đục lóng trong, thử lòng đua trí.

Anh đò đã nghe « người nghĩa » cất tiếng vọng lại « Bớ chiếc ghe sau! chèo mau em đợi », là anh rán hết nước chèo theo, miệng hò với:

Thuyền em đã nhẹ
Chèo lẹ khôn theo!
Khuyên em bớt mái, khoan lèo chờ anh!

Cô lái trước đòi không lẽ hẹp-hòi mà không đáp lại:

Đây đã chèo lơi
Đặng chờ người tri-kỷ,
Gặp mặt chuyện trò cho phỉ ước-mơ.

Cô lái đã gầy đầu, anh đò cố-nhiên vội buộc:

Bâng-khuâng bát-ngát
Nghe em hát hữu tình,
Căn-duyên tiền-định khiến đôi đứa mình gặp nhau.

Từ bây giờ là bắt đầu cuộc thi tài. Cô gái hát lên một câu đối từ-ngữ, lấy tiếng của thợ mộc mà ướm tình:

Chàng đừng có lóng trong gạn đục,
Thiếp giao tình bằng thẳng như cưa,
Giữ cho trọn nghĩa sau xưa,
Cũng như anh thợ mộc liệu vừa rập-khuôn.

Anh đò bắt buộc phải đáp lại theo phương-pháp mỹ-từ ấy, dùng tiếng thuật-ngữ của thợ dệt tơ:

Anh dốc kén cho đặng một người kim chỉ,
Nên chí làm cho phỉ tóc-tơ
Bởi vậy anh mới ước mơ,
Cũng như người dệt lụa giữ hờ mối-manh.

Cô lái tiếp-tục đối-ngữ, dùng những vật lễ-nghi trong đám cưới:

Chim chìa-vôi bay ngang đám thuốc
Cá bả-trầu lội tuốt mương cau
Đâu anh đối thử cho mau!
Em đây chịu khó đứng hầu lóng nghe.

Anh đò khéo hơn, dùng những tiếng trong bếp, hòa lẫn những tiếng văn-phòng, ngụ-ý hợp-hòa hôn-phối:

Nước chanh-giấy rưới vào mắm mực,
Rau mùi-viết trộn lộn giấm son,
Bốn mùi hiệp lại càng ngon,
Cũng như qua gần bậu, chẳng còn nhớ trông.

Cô lái chưa chịu, sang qua nghề hạ-bạc có ý mỉa-mai:

Quần lủng đáy đi đâu xớ-rớ,
Áo rách te nói chuyện bốc-chài,
Thế-gian em thấy thường hoài,
Hễ ăn được cá, tính bài bỏ nơm.

Anh đò đáp bằng nghề cung ná phỏng-đối:

Cơn ngộ-nạn gió run bây-bảy,
Lúc giựt-giàng chạy lịa băng cung,
Việc đời nói chẳng hay cùng,
Đặng chim bỏ ná, anh chẳng dùng vậy đâu.

Cô lái trở về vườn quê, ví mình với trái hạnh, biểu-hiệu đức vẹn toàn:

Thân em như trái hạnh
Rành rạnh đang tròn,
Dầu sương dầm, nắng dãi, không mòn tiết xuân.

Anh đò liền hóa thân thành con chim để đáp gần thứ trái cây tiêu-biểu cho đức-hạnh ấy:

Thân anh như con én
Léo-lén trên nhành,
Muốn kề trái hạnh, chẳng đành bay xa.

Đã cao-rao mình là gái tiết-hạnh, không lẽ dành cho én đưa oanh kề, nên cô lái biến ra một thứ hoa, tượng-trưng cho đức thanh-khiết:

Thân em như bông bưởi trắng ròng,
Tuy mùi thơm nức mũi, mà lòng sạch trong.

Hoa bưởi đã dành tượng-trưng cho thanh-khiết, nhưng chưa phải biệt-lập một cõi như Nhị-kiều trong chốn nhà vàng, mà trái lại vẫn bị chùm-gởi bám-vây, nên anh đò khéo hạ mình đáp lại:

Qua ví như chùm-gởi đáp nhờ,
Gá vô nhành bưởi nọ, đặng nhờ hưởng hơi.

Nhận biết đã sơ-hở, cô lái vẫn đề-cao giá-trị bản-ngã, vừa cảnh-cáo anh chàng, hát trớ:

Thiếp như một cụm hoa hường:
Thấy xinh mà rờ đến, mắc đường chông gai.

Anh đò tỏ ý cao-thượng, đáp:

Qua cũng ví như cái hột sương,
Rưới hoa hường cho tươi-tắn,
Vì tiếc cánh hoa lành bị nắng héo khô.

Đã bắt đầu đề-cao tài, hạnh và sắc mà vẫn bị chàng trai ăn qua, cô lái duy còn có một nước là tự tôn mình lên một ngôi-vị thiêng-liêng cao cả, may ra được kẻ đối-thủ tôn-thờ:

Thiếp như trái Phật-thủ khác gì?
Đẹp thì thấy đẹp, ăn thì khó ăn.

Nhưng không! Cuộc đời là một trường tương-đối: ma linh còn có quỉ linh hơn; quỉ linh còn có thần linh hơn; thần vẫn còn kém thánh; thánh há cao hơn tiên? Tiên chưa dễ sánh cùng Phật! Nhưng Đứng Thế-Tôn, dầu cho linh-thiêng hơn chúng-sanh vạn-vật, vẫn không thể lìa-tách cõi đời: chính có cõi đời mới có chỗ cho Thế-tôn « ngự-trị ». Anh trai mộc-mạc kia tự ví mình là chỗ ngự-trị của Thế-Tôn, là căn-bản của Đứng Chí-Linh Toàn-Giác ấy:

Qua như cái quả-tử trên bàn,
Để chưng Phật-thủ vững-vàng xem chơi!

Cô ơi! cái chi-chi ấy của cô, cô cho là linh, là « Phật » ấy, thực-tế là món đồ để trang-hoàng, để chưng-diện, để « xem chơi », nằm ì trên cái dĩa quả-tử: chuốt-ngót lời vàng mà treo cao giá ngọc, chỉ cho anh trai đồng chua nước mặn bụm miệng cười dài? Đành rằng một mai nên lứa thành đôi, có « ông thánh » nào mà khỏi « lập trang thờ bà », nhưng giờ linh chưa gá, thì cô mình chẳng qua là khăn-yếm thường-tình.

Thế mà cô vẫn đánh liều nguy-biện, còn cao giọng khoe lên:

Thân em xét kỹ
Cũng tỉ như đồng bạc đầu hình,
Người người ai cũng muốn nhìn,
Lăng-xăng đương buổi chợ, gởi mình vào đâu?

Tài năng, nhan-sắc, đức-hạnh, linh-thiêng, những giá-trị cao nhứt ở đời đã hoá ra vô hiệu-lực đối với anh chàng tay lấm chơn bùn; giờ cô chỉ còn một hi-vọng cuối-cùng, một giá-trị thực-tế, một miếng mồi ngon-lành là đồng bạc, đồng bạc trắng đã vì nó mà chú tây đen làm lụy biết bao khách má hồng! Trăm phần anh lái đò cũng phải theo luật « sáng đèn hoa mắt », « trắng bạc đen lòng » mà phải qui-hàng thúc-thủ, cô tưởng như thế.

Lầm to! cái luật « hoàng kim hắc thế tâm », có đúng là đúng cho những người bất-nghĩa. Còn anh chàng quê-mùa chất-phác, ăn chắc mặc dày, có tham tiền là tham đồng tiền « phải nghĩa », đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình làm ra, và cất kỹ đồng tiền của mình trong chỗ chắc-chắn. Cho nên anh đối lại:

Thân qua xét chắc
Như tủ sắt để hờ.
Góp thâu tiền-bạc giấy-tờ,
Đồng nào phải nghĩa, anh được nhờ, cất vô.

Thế là hết rồi! Còn gì cao-quí mà khoe-khoang? Nên cô lái đò cứ im-lặng mà chèo xuôi theo nước. Anh trai còn luyến-tiếc không muốn cho dứt cuộc hát hò, nên trở lại « tấn-công »:

Canh hãy còn khuya,
Đàng về thâm-thầm,
Đôi ta xứng lắm,
Như kép gặp đào.
Hát chơi cho giải muộn, lẽ nào làm ngơ?

Tiếc thay mãn nước tàn canh, bầy gà đồng-thanh gáy sáng, giục-giã đôi bạn phân-lìa. Cô gái cất tiếng lên từ-tạ:

Đêm lụn canh tàn,
Giã chàng ở lại,
Ra về hoằn-hoại,
Luống những đau thương,
Chào nhau cách mặt đôi đường,
Dứt câu hò hát, lo-lường bán buôn.

Để chấm dứt buổi tao-phùng, anh trai cũng hò theo một câu tạm biệt:

Gió thổi hiu-hiu,
Chín chiều ruột thắt,
Nhìn sao bên Bắc,
Nước mắt chảy bên Đông,
Ai xui chi cho vợ vợ chồng chồng,
Không biết đây với đó, dây tơ hồng có xe?

Cuộc gặp-gỡ giữa trai gái như trên đây là một sự việc thường-trực, diễn ra hằng ngày, hằng đêm, trên đồng, dưới sông, chung-quanh cối xay, cối giã, giữa đêm trăng, trong đêm tối, giữa một gái một trai, giữa một đám người có thể gồm cả nam phụ lão ấu, trong hoàn-cảnh thiên-nhiên theo nhịp sống thông-thường của dân-tộc. Hoàn-cảnh thiên-nhiên sắp bày cho cuộc gặp-gỡ dượm sắc-màu của đất nước; dân-tộc không cho cuộc gặp-gỡ như thế là trái ngược với đạo-lý luân-thường, tuy câu châm-ngôn đã cấm: « Nam nữ thọ thọ bất thân ». Câu nầy chẳng qua là một hàng rào thưa ngăn-đón hạng trí-thức và phú-hào, một thiểu-số dễ bề truy-lạc vì mảng ăn không ngồi rồi. Sanh-hoạt trong nông-thôn, công-tác ở nơi đồng-áng, đã không phân rẽ gái trai, mà trái lại, luôn luôn đoàn-tụ, đoàn-tụ trong một tinh-thần tương-trợ, tương-thân, trên một thửa đất màu-mỡ lành-mạnh: không có một câu ca-dao thô-tục lưu-manh, chỉ toàn là những câu thanh-tao đạo-lý; đó là một bằng-chứng hùng-hồn làm chứng cho tinh-thần lành-mạnh của gái trai thôn-quê, làm chứng cho những cuộc gặp-gỡ duyên-vị nồng-nàn, mà không có mảy-may ngụy-tà tội-lỗi.

THUẦN-PHONG