Bản dịch của lời giới thiệu phim trên trang American Experience của đài truyền hình PBS:
http://www.pbs.org/wgbh/americanexperience/features/introduction/lastdays-introduction/
Bộ phim "Những ngày cuối cùng ở Việt Nam" đưọc bà Rory Kennedy đạo diễn và sản xuất, hiện được đề cử giải Academy Award® cho một phim tài liệu .
Tháng Tư, năm 1975. Giữa những ngày cuối đầy hỗn loạn của sự tham gia vào cuộc chiến Nam Việt của Hoa Kỳ, khi Bắc Việt bao vây Saigon, sức kháng cự của miền Nam sụp đổ. Hết thành phố này tới thành phố khác, làng này tới làng khác rơi vào tay Bắc quân, trong khi các nhà ngoại giao và quân sự Mỹ còn ở lại đang tính toán đến chuyện di tàn. Với hàng ngàn mạng sống người dân Việt treo trên sợi tóc, những nhà lãnh đạo nay đối mặt với một quyết định bất khả thi - ai đi, và ai bị bỏ rơi để sẽ phải đối mặt với bạo lực, tù đày, và cả chết chóc.
Trước đó hai năm, Hòa ước Paris đã bày ra một thỏa ước mong manh, giả tạo. Nó giới hạn sự hiện diện của quân sự Mỹ tối đa là sáu ngàn cố vấn và lính không tác chiến. Trong khi Tổng thống Nixon hứa hẹn một trả đũa quân sự cấp kỳ nếu Bắc Việt vi phạm hòa ước, sự từ chức đột ngột cũa ông năm 1974 cũng khiến cho Quốc Hội Mỹ không sẵn lòng gửi viện trợ cũng như đưa quân Mỹ trở lại Việt Nam. Dự đoán rất chính xác rằng cuộc tiến công sẽ không bị đáp trả bởi Mỹ quân, Bắc Việt tiếp tục tấn công.
Tới khoảng đầu tháng Ba năm 1975 đất đai bị mất đi từng ngày, từng ngày, để rồi tới cuối tháng Ba thì Cộng quân đã bao vây Thủ Đô, chuẩn bị phát động cuộc tiến chiếm sau cùng vào Saigon, 11 tháng trước thời hạn họ tự đặt ra.
Đối với các nhà ngoại giao và quân sự Mỹ còn ở lại Saigon, Cộng Sản thắng cuộc là chuyện rõ như ban ngày. Người Mỹ càng ngày càng lo ngại tới tính mạng của các chiến hữu Nam Việt, của các bạn đồng nghiệp và gia đình họ. Ngay cà những kế hoạch di tản tham vọng nhất cũng chỉ khoảng vài ngàn người tỵ nạn. Nhưng đến ngày 25 tháng Tư, số người dân Saigon muốn chạy trốn Cộng Sản ước tính vượt xa con số ngàn đó - khoảng trên dưới một triệu!
Nhưng khi chính quyền của Tổng thống Ford còn bàn tính chuyện rút lui, viễn tưởng của một cuộc di tản chính thức bị trì hoãn vô hạn định bởi sự bế tắc của Quốc Hội, và cũng bởi vì một sự lạc quan không giải thích nổi của đại sứ Graham Martin. Ông Martin, cũng là cha của một binh sĩ tử trận tại Việt Nam, kiên quyết từ chối khả năng của một cuộc di tản, vì ông vừa sợ toàn dân Nam Việt sẽ hoảng loạn, phần vì ông bướng bỉnh, không muốn miễn cưỡng thú nhận đã bị thua cuộc.
Với một thời gian eo hẹp và Saigon nằm dưới tầm hỏa lực. những sĩ quan Mỹ cảm thấy phải đối phó với một tình huống nan giải: một là phải phục tùng lệnh chính thức và chỉ được di tản công dân Mỹ và thân nhân của họ, hay là xé rào và cứu mạng sống của những người đàn ông, đàn bà, và những đứa trẻ Việt họ đã trân trọng và yêu mến trong những năm tháng sống ở Việt Nam. Với nguy cơ bị cách chức, thậm chí ra tòa án binh, một số sĩ quan đếm trên đầu ngón tay đã hành động theo ý họ. Với các hoạt động bất hợp pháp và có phần tạm bợ, họ tiến hành với nỗ lực tuyệt vọng nhằm cứu được càng nhiều người dân Nam Việt càng tốt.
Trong những ngày cuối của cuộc chiến, Đại úy Stuart Herrington và vài đồng nghiệp giấu ông Đại sứ và tổ chức một cuộc di tản "lậu", chở các đồng nghiệp đối tác Nam Việt tới căn cứ không quân, rồi lén đem họ lên các không vận cơ Mỹ tới Phi Luật Tân.
Khi tình thế càng lúc càng trở nên khốc liệt, ông Richard Armitage - một nhân viên Bộ Quốc Phòng và là cựu sĩ quan hải quân - bay đến Saigon. Sau khi phối kiểm với một đối tác cũ là Đại Tá Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Đỗ Kiểm, ông Armitage thảo ra một kế hoạch là sẽ di tản tất các các tàu hải quân trước khi chúng bị mất vào tay quân cộng sản. Nhưng họ vờ quên tường trình với Bộ Quốc Phòng một chi tiết thật quan trọng: hai người đã sắp xếp để tàu chứa thêm một món hàng - khoảng 30 ngàn người tị nạn Việt Nam.
Phi trường Tân Sơn Nhứt bị tấn công ngày 29 tháng Tư, khiến người Mỹ chỉ còn lại 24 giờ để hoàn toàn di tản. Ngoài khơi biển Đông có tàu USS Kirk, một trong những chiến hạm được gửi tới để điều phối cuộc di tản của người Mỹ. Chiến hạm này chỉ có một bệ đáp trực thăng nhỏ, và thủy thủ đoàn thì hoàn toàn không được chuẩn bị với vai trò họ sắp làm trong sự vội vã di tản khỏi thành phố. Không lâu sau, một loạt trực thăng nối đuôi nhau kéo tới, phi công không phải là chiến binh Mỹ, mà là các phi công Nam Việt chạy trốn với gia đình và bè bạn. Các trực thăng này tìm đủ mọi cách để hạ cánh xuống tàu.
Tuy nhiên, đa số mọi hoạt động trong ngày cuối lại diễn ra ở tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon, nơi hàng ngàn người dân Nam Việt hy vọng tìm được một chỗ để di tản. Một gián điệp viên cũng đang tìm cách đưa người di tản ra phà trên sông Saigon. Trong giờ phút cuối cùng của cuộc di tản, Đại sứ Graham Martin cuối cùng mới bắt đầu hiểu sự mất mát của sinh linh đã trả giá đắt ra sao khi một quốc gia tuyên bố tham chiến mà không mường tượng rõ ràng cái kết cục sẽ ra làm sao.
Người dịch: Học Trò
( http://hoctroviet.blogspot.com/ )
***
Bài gốc:
Produced and Directed by Rory Kennedy, "The Last Days in Vietnam" is currently nominated for a 2015 Academy Award® for Documentary Feature. For more information, check out the Last Days Experience page or follow the film on Facebook.
April, 1975. During the chaotic final days of the American involvement in the Vietnam War, as the North Vietnamese Army closed in on Saigon, South Vietnamese resistance crumbled. City after city and village after village fell to the North while the U.S. diplomats and military operatives still in the country contemplated withdrawal. With the lives of thousands of South Vietnamese hanging in the balance, those in control faced an impossible decision -- who would go and who would be left behind to face brutality, imprisonment, or even death.
Two years earlier, the Paris Peace Accords forged a tenuous ceasefire and limited U.S. military involvement in South Vietnam to the presence of approximately 6,000 non-combat troops and advisors. While President Nixon promised a swift military response should the North Vietnamese violate the accord, his abrupt departure from the White House in late 1974 left in its wake a Congress unwilling to appropriate funds to Vietnam, or to put U.S. soldiers back in harm's way. Accurately predicting that their offensive would go unanswered by U.S. force, the North Vietnamese advanced.
By early March, 1975, huge swaths of territory were overrun daily, and by the end of the month, the North Vietnamese Army had surrounded the capital, preparing to launch its final assault on Saigon -- 11 months ahead of schedule.
To the U.S. diplomats and military operatives still in Saigon, one thing was clear -- a Communist victory was inevitable. The Americans grew increasingly concerned for the safety of their South Vietnamese allies, co-workers, and friends. Even the most ambitious U.S. evacuation plan allowed for the transport of just a few thousand South Vietnamese refugees. But by April 25, the number of people in Saigon wishing to flee swelled far beyond that projection -- to roughly a million.
But as President Ford's administration considered withdrawal, the prospect of an official evacuation of South Vietnamese became terminally delayed by Congressional gridlock, and by an inexplicably optimistic U.S. ambassador, Graham Martin. Martin, himself the father of a fallen Vietnam veteran, steadfastly refused to discuss the possibility of evacuation, both for fear of panicking the South Vietnamese population, and out of a stubborn reluctance to admit defeat.
With the clock ticking and the city under fire, American officers on the ground found themselves faced with a moral dilemma: whether to follow official policy and evacuate only U.S. citizens and their dependents -- or to break the law and save the men, women and children they had come to value and love in their years in Vietnam. At the risk of their careers and possible court-martial, a handful of individuals took matters into their own hands. Engaging in unsanctioned and often makeshift operations, they waged a desperate effort to save as many South Vietnamese lives as possible.
In the days leading up to the final attack, U.S. Army Captain Stuart Herrington and several of his colleagues bypassed the ambassador and organized a “black” evacuation effort, transporting their South Vietnamese counterparts to the airbase, and sneaking them aboard outbound U.S. cargo flights to the Philippines.
As the situation became increasingly dire, Department of Defense official and former Navy Officer Richard Armitage arrived by plane in Saigon. In consultation with his former counterpart, South Vietnamese Navy Captain Kiem Do, Armitage developed a plan: to evacuate all U.S. Navy ships before they fall into the hands of the Communists. But they neglected to tell the U.S. Defense Department a crucial detail: he and Kiem have arranged for the ships to contain extra cargo -- about 30,000 South Vietnamese refugees.
On April 29, the Saigon airport was attacked, leaving the U.S. only 24 hours to fully evacuate. Floating offshore in the South China Sea was the U.S.S. Kirk, part of the U.S. fleet sent to facilitate the evacuation of Americans. The ship, with its single, tiny helipad, and its crew was entirely unprepared for the role it is about to play in the scramble to evacuate the city. Soon, a seemingly unending stream of helicopters, piloted not by Americans, but by South Vietnamese airmen fleeing for their lives with their families and friends, descended upon the American destroyer.
However most of the action on that final fateful day takes place at the U.S. Embassy in Saigon, where thousands of South Vietnamese hoped to secure a last minute evacuation while a U.S. intelligence analyst ran his own underground railroad of evacuees to barges on the Saigon River. In the final hours of the evacuation, Ambassador Graham Martin, at long last, came to understand the human cost of entering a war with no clear vision of what the end would be.
***
http://static.history.state.gov/frus/frus1969-76v10/pdf/frus1969-76v10.pdf
***
No comments:
Post a Comment
Note: Only a member of this blog may post a comment.