Nguyễn Đình Toàn
Ngày tết, các cụ tiên chỉ, bô lão trong làng, đến nhà chúc thọ, lễ gia tiên, bác Huyện, thầy tôi, các chú tôi, đứng hai bên bàn thờ đối diện với khách, khi khách lễ một lễ, mọi người trong nhà lễ lại khách một lễ. Cứ như thế nghi lễ diễn ra trong hương trầm, khói pháo, trong đèn nến sáng choang và những lời chúc tụng xôn xao.
Cái mùa xuân rực rỡ ấy chẳng băo giờ người ta tìm thấy lại được nữa.
Ngày tôi ra đời thì cái mùa xuân ấy cũng đã chấm dứt từ lâu. Khói lửa chiến tranh đã thiêu rụi cả. Kế đến hiệp định Geneve đã xua đuổi bao nhieu người rời bỏ cố hương ra đi. Năm đó, tôi mới được hai tuổi.
Tôi không biết, không nhớ một tí gì về cái quê hương được mẹ tôi kể lại như trong thần thoại ấy.
Anh tôi cũng kể cho tôi nghe, những đêm giao thừa anh được cầm bánh pháo rắc cho nổ quanh sân, và những sáng mùng một mở mắt nhìn sương mù xanh biếc trước thềm, đêm lạnh làm cho mùi thơm của khói pháo dường không tan đi hết còn vương đầy trong sa mù, trộn lẫn với hương trầm trên bàn thờ, làm cho không khí thơm nức. Những cụm hoa, đủ các thứ hồng, hồng bạch, hồng nhung, hồng nhạt, mẫu đơn, loa kèn, bánh khảo, trổ những bông tươi thắm trên cành, nhìn thấy lờ mờ trong sương, mùi hương trầm đẫm trong những cơn gió lạnh giá làm rung rinh cây đào sai chĩu chịt hoa bên thềm. Hoa đào rơi lẫn với xác pháo.
Lũ chim bồ câu và mấy con chó nghe pháo nổ sợ hãi bay, chạy tán loạn, trở về còn nem nép nghểnh đầu, vểnh tai, nghe ngóng chực chạy nữa, ông tôi phải sai đóng cửa chuồng chim và xích chó lại.
Những ngày tết thần tiên ấy, tôi không còn dịp nhìn thấy, chỉ được nghe kể lại. Chẳng khác những cánh đồng, những thôn xóm, nơi đã sinh đẻ ra những câu ca dao tuyệt vời , tôi chỉ được đọc lại, nhưng không biết có bao giờ được nhìn thấy tận mắt?
Người bác đem lại đem lại danh giá cho cả họ đó, những ngày mới di cư vào Nam, sống âm thầm trong một căn nhà nhỏ, thuê được trong một khu xóm lao động đông đúc.
Cửa phòng ông trông ra một cái sân, mỗi bề chừng bốn thước, vừa làm sân vừa làm cầu rửa. Ông đã tự tay xây thêm một cái bồn dính liền vào cửa sổ, đổ đất, trồng mấy cây hồng.
Mỗi ngày ông tưới bón bằng bã trà trút ra từ cái ấm nhỏ, đắp vào các gốc cây và nước hứng trong một cái lon guigoz đục thủng những lỗ nhỏ làm bình tưới.
Những cây hồng trong các buổi tôi đến thăm ông, trổ bông tươi thắm một cách buồn bã, tưởng chừng như nó cũng chẳng khác những nỗi vui cằn cỗi còn sót trong lòng một ông quan già, sống ẩn náu trong một căn nhà lụp sụp. Tôi không hề trông thấy ông trong những ngày ông còn hiển hách nơi huyện đường, nhưng tôi vẫn tưởng như thấy được cái bóng của nó trong buổi xế chiều này đè nặng trên vai ông, làm ông già gấp đôi.
Ông tránh tiếp xúc với tất cả mọi người, kể cả con cái của chính ông. Ông chỉ còn giao thiệp, thỉnh thoảng trò chuyện với một người duy nhất là thầy tôi. Cũng vì thế, tôi đã được gặp ông, nghe ông nói, và được ông hỏi chuyệïn nữa, trong những lần theo thầy tôi đèn thăm ông ngày cò bé, và dần đà khi đã khá lớn, có những lần tôi được gặp ông một mình, do thầy tôi sai tới để thưa với ông chuyện gì đó, hoặc tôi tự ý đến vấn an ông. Những lần được gặp ông như thế, tôi thành thật cảm động. Không phải chỉ vì, đối với tất cả mọi người trong họ, đó là một vinh dự không có một đứa cháu nào được hưởng, nhưng chính vì thế, mỗi lúc được gặp ông, tôi đã có cảm tưởng được gặp một cái bóng ẩn to lớn. Ôâng không phải như thế, nhưng ông đã cố thu nhỏ lại như thế. Tôi còn tưởng chừng như cảm nhận được ở ông cái bóng thâm u của một huyện đường, lặng lẽ, trang nghiêm mà mọi tiếng động đều vang âm.
Trong những ngày lễ họ, ông xuất hiện, bao giờ cũng giữ vừa đủ sự thân mật, nghiêm túc, vẻ nghiêm túc trở thành một giới hạn, ngăn chặn mọi người ở bên ngoài. Sau đó, ông lại rút về trong cái cõi riêng nhỏ bé của mình, xa cách hẳn mọi người.
Tôi không biết chắc ông đã nghĩ về tôi như thế nào, nhưng đôi lúc tôi tưởng rằng, ông nhìn nhận tôi như đóa hoa trong cái bồn đất trước cửa sổ của ông.
Tôi chắc rằng, cả họ nhà tôi, ai cũng cho là ông luyến tiếc cái thời vàng son xa xưa, luyến tiếc đến đau đớn.
Nhưng chỉ một nụ cười của ông tôi nhìn thấy trong cái cõi riêng của ông, trước một nụ hồng giang những chiếc cánh non mỏng màu hồng đào, tôi hiểu rằng, đời sống đối với ông quá nhẹ nhàng, ngoài sức tưởng tượng của mọi người.
Ông không hỏi gì tôi klhác ngoài chuyện học hành, sức khỏe của thầy mẹ tôi, và nhất là cái câu “con bao nhiêu tuổi”. Ông hỏi tôi câu ấy mỗi năm. Và mãi mãi tôi vẫn còn cảm thấy tôi không lớn hơn được đóa hồng trong cái bồn đất của ông, tôi không dày hơn những cánh hồng mỏng manh đó.
Và lạ lùng thay, ở gần ông, tôi còn cảm thấy tôi có một nhan sắc. Tựa những đóa hoa đã thấm nhuần sự lặng lẽ cuả ông truyền qua những giọt nước tưới mà nở ra.
Kể từ khi ông mất, tôi không còn tìm thấy cảm tưởng này trước mắt nhìn của ai nữa, kể cả thầy tôi.
Trước khi chết ông dặn lại người nhà hãy để cái hộp bài ngà của ông trên bàn thờ, nhưng đừng mở ra.
Đó là lời dặn cuối cùng của ông, không ai hiểu hết ý nghĩa.
Ngày anh họ tôi, tức người con cả của ông chết trận, không thấy ông chảy một giọt nước mắt nào. Ông cũng không hềnhắc tới cái chết đó một lần nào, không nói với ai một tiếng nào. Khi người chết đãõ được chôn cất xong xuôi, ai nấy ra về cả, buổi tối ông ra đứng trước bàn thờ nhìn hình con một lát rồi trở vào phòng. Không ai biết ông nghĩ gì về cái chết của đứa con trai duy nhất đó của ông.
Ông mất, cái bồn hoa ngoài cửa sổ bị bỏ quên cũng chết theo, và sau đó, gia đình bác tôi cũng dọn đi nơi khác.
Nhưng những đóa hồng tôi đã nhìn thấy đó, sẽ chẳng bao giờ tàn héo trong tôi.
Và cứ mỗi lần nghe một người nào đó trong họ nhắc đến ông, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi. Không phải một mình ông đã chết. Mà hình như, khi ông chết, cả một quá khứ nữa đã thật sự chết theo ông.
Nguyễn Đình Toàn
[ Trích ĐỒNG CỎ ]