3.22.2026

Trần Hữu Thục với "Tác giả, tác phẩm và sự kiện"

Người viết “Tác Giả, Tác Phẩm và Sự Kiện” là Trần Hữu Thục. Ông từng được biết đến như một tác giả trẻ có tài năng, ngay từ trước 1975, với những truyện ngắn cho đăng trên tạp chí Văn ký tên Trần Doãn Nho.

Ðộc giả, nói chung, ít người biết trong hai cái tên ấy, tên nào là tên thật của ông, tên nào là bút hiệu.
Về nội dung của cuốn sách, Trần Hữu Thục cho biết rõ trong bài tựa như sau:

“Cuốn sách này đề cập đến năm tác gỉa Việt Nam gồm một nhà thơ, hai nhà văn và hai nhạc sĩ mà tác phẩm của họ mang tính văn học. Về các tác giả nước ngoài, tôi giới thiệu một số nhà văn, nhà thơ và nhà biên khảo tên tuổi trên thế giới. Có tác giả quen thuộc hay tương đối quen thuộc như Francoise Sagan, Goerge Orwell, J.M. Coetzee; có những tác giả không mấy quen thuộc hay hoàn toàn mới lạ đối với độc giả Việt Nam như James Joyce, Arundhati Roy, Ha Jin. Mỗi tác giả có một xu hướng sáng tác riêng, cổ điển có, cách tân có. Trong lúc phân tích và đánh giá tác phẩm hay sự nghiệp văn học của mỗi tác giả, tôi đưa thêm vào những thông tin có tính thời sự liên quan đến cuộc đời hay tác phẩm của họ, giúp nhìn rõ hơn các đặc điểm của từng tác giả hay tác phẩm. Dầu vậy, tôi tránh tối đa việc áp đặt quan điểm phê bình riêng của mình để độc giả có một cái nhìn tương đối khách quan về một tác giả hay tác phẩm.”

Trần Hữu Thục cũng giải thích thêm về mục đích công việc của ông như sau:

“...Trong thời đại toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin khó thể đảo ngược hiện nay, thông tin càng ngày càng quan trọng hơn bản thân một lý thuyết hay một lập trường có sẵn. Hay nói một cách khác, một quan điểm thích hợp không thể xuất phát từ tưởng tượng hay ước muốn chủ quan hay từ một định kiến lâu đời mà nhất thiết phải xuất phát từ việc cập nhật hóa, nắm vững và tổ chức thông tin một cách hợp lý. Ðiều này xác đáng trên nhiều lãnh vực, kể cả lãnh vực văn chương càng nhiều thông tin càng tốt... Sử dụng thông tin như thế nào là việc của mỗi một cá nhân, trong hoàn cảnh và nhận thức riêng của mình.”

Hình như Trần Hữu Thục đã rào đón một cách quá cẩn thận, không cần thiết.

Công việc chính của một nhà văn là sáng tác.

Nhưng trong “thời đại bùng nổ thông tin” như cách người ta thường nói hiện nay, người viết này không thể không đọc các người viết khác. Ðọc được càng nhiều càng tốt. Việc đầu tiên là có thể tránh không lập lại những gì người khác đã nói rồi.
Có người cho rằng, kiến thức chung của con người trên thế giới hiện nay chỉ còn còn là sự chênh lệch giữa lượng thông tin người ta nhận được.
Ðọc để biết.
Dùng cái biết ấy như thế nào điều đó tùy thuộc khả năng và ý muốn của mỗi người.

Nhưng đã gọi là phê bình, đánh giá [tác phẩm] thiết nghĩ, người đọc nào cũng chờ đợi ở các nhà phê bình những ý kiến càng chủ quan càng tốt.

Bởi một lẽ giản dị, không chủ quan thì dựa vào cái gì để đánh giá, phê bình?

Trong cuốn “Tác Giả, Tác Phẩm và Sự Kiện” Trần Hữu Thục có viết về 5 tác giả Việt Nam là: Võ Phiến, Tô Thùy Yên, Nguyễn Mộng Giác, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn.

Xin trích dẫn sau đây ít dòng Trần Hữu Thục bàn về “Chữ nghĩa Tô Thùy Yên” ở các trang 31-32, có thể coi như điển hình cho kinh nghiệm đọc sách, cách nhận định, phê bình, đánh giá tác phẩm của Trần Hữu Thục, đối với chung các tác giả ông đề cập tới trong cuốn sách:

“Tô Thùy Yên làm nhiều thể loại thơ: Thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Ngắn có bài 'Tặng Phẩm' chỉ có 14 chữ, dài và rất dài có bài 'Mùa Hạn' thơ bảy chữ, gồm 188 câu, 1,326 chữ. Như đã nhận xét [...]chữ nghĩa Tô Thùy Yên pha trộn giữa truyền thống và cách tân. Bên cạnh những từ và cụm từ, hiện đại như hư vô, ý thức, Thượng Ðế, sự can trường của hiện hữu, thám hiểm tương lai... ông tận dụng các từ ngữ với ý nghĩa rất cổ điển như: Vạn cổ, bí lục, thiên thu, phù du, quan san, kinh thiên, dương thế, gậy trúc, tào khê, trăm họ, thánh đế, sấm truyền; các đặc ngữ dân gian: Chớp bể mưa nguồn, hạc vàng thương nhớ, chờ anh như biển vẫn chờ sông, vàng đá nhắn quan san, ngựa đá đã qua sông, nước non ngàn dặm, núi lở sông bồi, đá nát vàng phai, chút phận long đong, bóng xế đường dài...

Ðồng thời, ông sáng tạo nhiều cụm từ rất lạ: Ngổn ngang câm, bất an già, khoảng cách đặc, án tử hình treo, lãng quên xanh, nỗi sầu vô dạng, u hoài mốc, gió hao đuối, rợp hải hà, rớt nắng, nắm níu, nhớ hư hoặc, một phía mê tưởng, lưu cữu gió, vũng vướng mắc, ráo gió, úng máu, thiu hồn, muối muộn, đuối kiệt, ngất tạnh khuya, réo đuối. Ở điểm này, ta có thể so sánh Tô Thùy Yên với Trịnh Công Sơn. Cả hai đều là người 'đẻ' ra nhiều từ mới hoặc dùng từ cũ với một ý nghĩa mới. Ở Trịnh Công Sơn ta có nào là 'tuổi đá buồn, vết lăn trầm, lời buồn thánh, nắng khuya, hạ trắng, bồn gió hoang'... nào là ‘dài tay em mấy, cồn đa’. Nhưng ta ghi nhận một khác biệt: Chữ nghĩa Trịnh Công Sơn dường như thoát thai từ trực giác, còn chữ nghĩa Tô Thùy Yên thì là một dụng công đầy ý thức [...]Trịnh Công Sơn do vướng trong việc phổ nhạc nên tương đối bị giới hạn, trong lúc Tô Thùy Yên tự do hơn nhiều, nhất là khi ông không còn xem trọng chuyện vần điệu trong thơ.

Tô Thùy Yên tìm cách bóc tất cả những lớp vỏ bọc quanh hiện thực bằng cách huy động đủ loại từ ngữ, phối trí chúng trong một cấu trúc theo kiểu riêng của ông. Dường như ông muốn đi đến tận cùng bản thân chúng đẻ tìm thấy cái gì còn ẩn dấu đằng sau hoặc nằm bên trong sự vật. Từ cũ dùng đúng nơi đúng chỗ. Từ mới gây ra ấn tượng mạnh. Ðồng thời tận dụng các đặc ngữ quán ngữ, vừa để làm 'mềm' câu thơ hoặc làm dịu đi những cách diễn đạt quá mới vừa là một cách điều hòa tinh tế tạo hiệu quả cao nhất nơi người đọc. Thơ ông không quá tối tăm khó hiểu, nhưng để hiểu được đòi người đọc phải vận dụng tri thức, kiến thức và óc quan sát tinh nhạy. Ðọc thơ Tô Thùy Yên không thể chỉ đọc bằng trực giác vì chúng không gây nên xúc động lập tức nơi người đọc. Chúng đã không cho những thi ảnh trơn tru, gợi tình lại đưa ta vào một không khí trầm tư mặc tưởng, đôi lúc khá ngột ngạt.”
Ðó là cái nhìn, cái thấy của Trần Hữu Thục đối với thơ Tô Thùy Yên, và vài ý kiến cùng sự thẩm định của ông đối với ca từ của Trịnh Công Sơn nữa.

Sau đây là nhận định của Trần Hữu Thục về Võ Phiến:

“Một trong những ám ảnh sâu sắc, bàng bạc trong văn chương Võ Phiến là ám ảnh về thời gian.

'Anh đã một một mình rời bỏ Quy Nhơn như rời bỏ những ngày hôm nay để chạy đi tìm một ngày mai. Nhưng chẳng may người ta không thể đi tới cái ngày mai của mình được. Ngó tuy gần nhưng vốn thực xa xôi. Sờ tay với, tưởng có thể đụng nhằm, mà quờ quạng mãi không sao bắt được.'

Từ Quy Nhơn, nơi ông ở, với người và vật, với kỷ niệm cộng với một thôi thúc ra đi. Võ Phiến đã đi đến một nhận định cực kỳ sâu sắc, cực kỳ hình tượng về cõi tương lai, về một cuộc đuổi bắt thời gian vô vọng, và xa hơn nữa về mối mâu thuẫn triền miên giữa khả năng và ước vọng của con người. Khát vọng thì vô cùng mà khả năng thì quá bé, quá khiêm tốn.

Thật thấm thía cái cô đơn khắc khoải của đời sống trong văn chương Võ Phiến. Những trang văn của ông đầy dẫy những chi tiết sinh động của cuộc sống và những suy gẫm triền miên về chúng. Ðọc ông, ta vừa như nghe một bà già lắm chuyện kể chuyện, hết chuyện này tới chuyện nọ, vừa sống trong tâm thức của một nhà nghệ sĩ trước những buồn vui của cuộc đời, lại vừa thưởng thức những suy nghĩ tỉnh táo tinh tế mà hồn nhiên của một triết gia. Trong Võ Phiến dường như ta rất ít thấy bi kịch. Hoặc giả, chúng có - nhưng chúng được đề cập đến như những chuyện bình thường. Chúng nằm chen chúc với mọi thứ khác trong cuộc sống thường nhật. Nói cách khác, bi kịch không phải chỉ là những biến cố độc đáo , đơn lẻ gây nên bởi chết chóc, chia lìa, phản bội, tan tác, mà là nỗi khắc khoải vô biên của con người trong cuộc nhân sinh. Con người khắc khoải của Võ Phiến không phải chỉ vì những biến cố trọng đại, mà vì mọi hiện hữu chung quanh mình. Con người 'bất an' ngay cả với những gì bình an nhất.”
Người đọc có thể đồng ý hay không đồng với những nhận định của Trần Hữu Thục về từng tác giả đã được ông chọn và viết trong cuốn sách.

Nhưng điều người ta có thể nhận thấy ngay là sự trân trọng của tác giả đối với chữ nghĩa. Mỗi dòng viết ra là một cố gắng của ông để đạt tới cái cốt lõi của tác phẩm, để nắm bắt được cái đẹp thật sự của tác phẩm.

“Tác Giả, Tác Phẩm và Sự Kiện” của Trần Hữu Thục là một cuốn sách hứa hẹn nhiều thích thú nếu người ta đọc đi đọc lại.