Phụng đi qua những đống gạch vụn, đi trên cái lối đi cỏ đã mọc trùn hai bên, vào sở.
Kể từ hồi tết Mậu Thân, cái cơ sở làm việc này trở nên buồn thảm.
Sau nhiều năm làm việc ở đây, nó gần như đã trở thành căn nhà thứ hai của tôi, bị đập nát. Môĩ khi phải bước qua đống sà bần vào chỗ làm việc tạm bên trong, tôi không khỏi đau lòng.
Tôi e, sự đổ vỡ tan nát nhìn thấy và không thể quên được, đã bám chặt trong giọng nói của mình.
Hôm nay tôi sẽ nói lời giã từ cả với những vật âm thầm đó trước khi đi.
Sự buồn thảm dường như chỉ ngăn cách vơí tôi bằng cái tấm kính ngăn phòng vi âm và phòng máy bên ngoài.
Tôi chỉ mở cái cửa này bước ra, là đã nhập luôn vào, thở chung cái không khí cùng vơí những dám lau sậy ngẩn ngơ đó.
Nghĩ như vậy, và tôi nhận ra, phòng vi âm hình như là một chỗ cách biệt hẳn với cuộc đời. Ngồi ở trong đó, người ta chỉ còn tiếp xúc được với đời sống bằng những tiếng nói của mình.
Ngay trong đời sống, người ta có thể tìm ra được một chỗ có thể coi như lùi ra khỏi đời sống để nhìn ngắm chính đơì sống chăng?
Ngồi ở trong bốn bức tường vây kín này, tôi có cảm tưởng gần giống như tôi đã tìm ra được cái chốn kỳ lạ đó.
Tôi vào phòng vi âm, ngồi dò lại bản tin, chờ đọc trong giây lát.
Dù biết chắc chưa đến giờ, nhưng tôi vẫn, như một thói quen, liếc nhìncái bóng đèn đỏ được lắp sau một tấm kính kẻ hai chữ “ on air “ cũng bằng sơn đỏ, báo hiệu phát thanh.
Chúng tôi luôn có bản tin vào những đầu giờ.
Và các xướng ngôn viên bao giờ cũng được hòa âm viên báo trước giờ phát thanh bằng cách chớp chớp ngọn đèn đỏ.
Đối với chúng tôi, những ngày đầu tiên làm cái công việc xướng ngôn này, ngọn đèn ấy là sự đe dọa.
Khi chữ “on air” được bật sáng các xướng ngôn viên tập sự thường kêu là muốn đứng tim.
Hết sợ đèn ngươì ta sợ đến cai micro để trước mặt.
Qua hết các giai đoạn này, một xướng ngôn viên mơí tự cảm thấy được những điều cần thiết để giọng nói của mình có thể tốt hơn. Chẳng hạn mỗi người sẽ tự định lấy khoảng cách giữa miệng mình và cái micro thế nào là vừa. Với kinh nghiệm, người ta sẽ biết lúc nào nên ghé sát micro hơn một chút.
Tôi còn nhớ kỷ niệm đầu tiên khi vào phòng ghi âm, thấy cái bàn để ngồi đọc tin, mặt bàn không liền mà lại được ghép bằng những thanh gỗ thành những ô vuông lủng, môĩ bề chừng hơn mười phân, đối với tôi, đó là một điều kỳ lạ.
Tôi hỏi người nam xướng ngôn viên cùng làm việc bên cạnh, “ tại sao người ta lại làm cái bàn như vậy”.
Anh đã nhìn tôi cười bảo,” để nếu xướng ngôn viên có nói sót hay dư chữ nào thì nó rơi xuống gầm bàn, người nghe không biết”.
Dĩ nhiên tôi ngẩn mặt, không hiểu.
Cả tháng sau tôi mơí được anh giải thích cho hay, bàn phải làm như vậy cho tiếng khỏi bị “reflect” . Anh cũng cho tôi biết luôn tại sao việc mở cửa phòng vi âm trong lúc thu hay phát phát thanh bị cấm, không phải chỉ vì người ta sợ tiếng động lọt vào máy, nhưng còn vì sự xáo trộn của không khí có thể làm người xử dụng máy thâu thanh ở nhà khó chịu.
Bây giờ đây, cái ngọn đèn đỏ trong phòng vi âm trước mắt chúng tôi, là biểu hiện cho sinh khí đích thực của cơ quan này. Nó giống như trái tim của đài phát thanh.
Khi đang đọc bản tin tôi thoáng thấy bóng Sơn ở phiá ngoài. Anh chờ tôi đọc xong bản tin sẽ đi ghi âm trước một chương trìnhkhác cho buổi tối.
Trong lúc để người người bạn bên cạnh đọc đoạn tin kế tiếp, chúng tôi có lúc áp dụng cách đọc tin xen kẽ hai giọng nam nữ, tôi ngửng lên nhìn Sơn, mỉm cươì chào anh.
Sơn cũng cười ra dấu chào lại tôi.
Và lạ lùng thay, khi tôi cúi xuống đọc tiếp bản tin, tôi có cảm tưởng không phải Sơn chỉ nhìn tôi bằng đôi mắt của anh, mà anh đã nhìn bằng cả cái tấm kính ngăn phòng vi âm và phòng máy bên ngoài.
Lúc tôi ra ngoài Sơn nói :
- Cô mặc cái áo lụa màu mỡ gà này hợp lắm.
Tôi cũng đã nhìn thấy bóng mình trong tấm kính trong của phòng vi âm, và tôi cũng có cái sung sướng thấy mình dễ coi.
Tôi cười hỏi Sơn :
- Thật không anh?
Sơn bảo :
- Cô nên mang chiếc áo này theo để thỉnh thoảng mặc.
Tôi nói :
- Tôi sẽ nghe anh.
Nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi mới biết trời lại đang mưa. Mưa ròng ròng trên cây đa nhỏ và trên bụi hoa giấy đầy bông tím.
Tôi nói :
- Uả, tôi tưởng trời đã hết mưa rồi.
Sơn cũng nhìn ra phía cửa sổ bảo:
- Tôi đến đây đã bị ướt ngoài đường rồi.
- Bưã nay tôi có mang áo mưa cẩn thận nên hết sợ.
- Vậy hả? Tôi không có áo trời sẽ chừa tôi ra.
Một lần nữa tôi lại giật mình thấy Sơn có nhiều vẻ giống như cái người đàn ông, tôi đã nhiều lần thử tưởng tượng nhưng không vẽ nổi trong trí. Cái gì đã ngăn khiến tôi không nhận nổi ra anh trong bấy lâu làm việc chung với nhau?
Tôi nói, và rõ ràng tôi nghe trong giọng noí của mình một sự cố tình giăng bẫy:
- Nếu trời không chừa anh tôi sẽ cho anh đi chung áo.
Sơn cươì nhìn tôi. Trong ánh mắt anh có sự ấm áp và đáng tin cậy đến nỗi tôi cảm thấy phấn khởi.
Sơn nói :
- Không ướt áo lại đau tim còn tệ hơn.
Tôi hỏi Sơn :
- Thế anh đã bị đau tim mấy lần nào rồi?
Sơn vẫn cười bảo :
- Tôi vẫn cứ tự hỏi như thế.
- Thế anh nói dối anh ra làm sao?
- Bệnh do mình gây ra hay bệnh di truyền?
- Không lý từ xưa đến giờ không ai làm gì anh cả?
- Làm sao cũng chẳng làm sao mà.
- Trông anh đâu có vẻ cứng cáp đến thế.
- Trái lại nưã là đằng khác. Tôi là người rất dễ mủi lòng.
- Thế anh thường thương người hay thương thân?
- Thương người trước rồi thương thân sau.
- Như thế anh phung phí sự chung tình quá, phải không?
- Con gái Việt Nam bây giờ hiền lành lắm cũng cỡ cô. Nào có ai để cho một người yêu hết sự chung tình của mình.
- Vậy phải làm sao đây?
- Xuất cảng dần là vừa.
Chúng tôi cùng cười với nhau.
Tôi và Sơn đi sang phòng vi âm kế cận dành để thâu những chương trình vào”băng” trước.
Lúc đi sát chiếc cửa sổ nhìn xuống vườn, tôi trông thấy rất nhiều hoa giấy rụng lẫn với búp đa, nằm ngập một nửa trong vũng nước...
Nguyễn Đình Toàn