3.22.2026

Đọc "Khi Đồng Minh Tháo Chạy"

Nguyễn Đình Toàn

“Khi Đồng Minh Tháo Chạy” là cuốn sách thứ hai của giáo sư Nguyễn Tiến Hưng sau cuốn “Từ Tòa Bạch Ốc Tới Dinh Độc Lập”, ghi lại quãng lịch sử bi thảm của chúng ta vừa qua, khi miền Nam mất về tay cộng sản.

Có lẽ chưa có một buổi phát hành sách nào [ do đài Little Sàigon và tuần báo Việt Tide đứng ra tổ chức ] trong suốt mấy chục năm qua, ở đây, lại được đông đảo người đọc tham dự đông đảo đến thế. Họ thuộc đủ mọi thành phần, mọi lứa tuổi.

Phát biểu của một cựu quân nhân, một thương binh trong QLVNCH và một phụ nữ [ có lẽ ] đã tóm tắt [ gần ] đầy đủ lý do, vì sao, các độc giả có mặt chật ních hội quán đài Little Saigon chiều thứ sáu 6 tháng 5, 2005 vừa qua.

Ông Nguyễn Minh Chánh, Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân, nói :

“ Tôi là một quân nhân binh chủng Biệt Động Quân, cùng với đồng đội, tôi đã đóng góp xương máu, để rồi ngày 30 tháng Tư bị buộc buông súng đầu hàng. Chúng tôi tủi nhục biết bao nhiêu. Tưởng rằng thời gian sẽ nguôi ngoai đi, không ngờ đã 30 năm. Sự tủi nhục ấy như một vết thương mưng mủ. Chúng tôi muốn biết những bí ẩn nào sau lưng “biến cố đầu hàng”. Tôi đến đây, mua sách này, với hy vọng tìm được giải đáp cho những uất nghẹn ấy”.

Một cựu quân nhân khác, tên Hùng, ngồi trên xe lăn, chờ đến lượt được tác giả ký tên trên sách, nói :

“ Tôi bị thương ở trận đánh cuối cùng, đôi chân tàn phế. May mà vết cưa mới lành nên được người nhà bồng bế xuống tầu, tháo chạy. Từ ngày cuộc chiến chấm dứt, tôi ngồi một chỗ,

lăn xe quanh nhà, cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn. Tôi và hàng ngàn bạn chiến hữu của tôi đã hy sinh, tôi bị tàn phế thế này để rồi tủi nhục, khi không bị buộc đầu hàng, buông súng.Tôi muốn biết aio chịu trách nhiệm việc này? Đồng minh bỏ chúng tôi để họ được gì sau cuộc đổi chác nhớ nhớp ấy?”.

Một phụ nữ, xưng tên là Thủy Ly, con gái một sĩ quân cấp tá, dắt theo một cháu nhỏ, tâm sự :

“ Năm di tản, tôi là một thiếu nữ. Sau khi bố tôi bị chết trận, gia đình tôi chật vật, mấy anh còn đi lính chưa về. Người ta ùn ùn kéo nhau bỏ nướcra đi. Tôi sợ bị lấy chồng cán bộ phải theo mẹ đi trước. Các anh tôi bị tù nhiều năm, thân tàn ma dại trở về, cũng chỉ giải thích được một phần nào. Vì thế, hy vọng ông này làm lớn, biết những chuyện bí ẩn hậu trường, sẽ viết ra những chuyện tôi muốn biết, để tôi còn giải nghĩa cho các con, và chúng nó sẽ giải thích cho các cháu”.

Như thế, ngày 30 tháng 4/75 cho tới hiện tại, vẫn còn là một ngày, một giai đoạn linh sử mà nỗi kinh hoàng, đau đớn dường vẫn còn tươi rói, còn chảy máu trong lòng mọi người.

Nước mất, nhà tan, là những sự việc đã rồi.

Nhưng người ta vẫn muốn biết rõ vì sao, và, trong những ngày cuối cùng ấy, người Mỹ đã làm gì, các nhân vật trách nhiêïm Việt Nam đã làm gì?

Nhất là, ông Nguyễn Văn Thiệu, với tư cách Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã ứng phó với hoàn cảnh ra sao?

“Khi Đồng Minh Tháo Chạy” của ông Nguyễn Tiến Hưng có lẽ là cuốn sách cho người đọc biết nhiều chi tiết nhất trong những cuốn sách đã được xuất bản viết về sư tan rã của Việt Nam Cộng Hòa, 1975.

Theo tóm tắt của chính tác giả cuốn sách được chia làm năm phần chính :

Phần I : bàn về thời điểm và cách thức Mỹ tháo gỡ khỏi chiến trường Việt Nam;

3

Phần II : nói đến thân phận một tiểu quốc muốn cố gắng vượt ra ngoài sự lệ thuộc;

Phần III : kể lại những gì xẩy ra tại Washington và Sàigòn sau khi quân đội Mỹ rút hết cho đến khi miền Nam sụp đổ;

Phần IV : trình bầy diễn tiến vào giờ hấp hối, việc một số chính trị gia Mỹ đã không muốn cứu vớt người Việt Nam, đặc biệt là cơ nguy Mỹ-Việt suýt bắn nhau; phần này cũng thuật lại một cố gắng cuối cùng của tác giả đặt trách nhiệm tinh thần cho Hoa Kỳ đòi hỏi phải giúp cho ít nhất một triệu người tị nạn;

Phần V : nhìn lại lịch sử để ghi nhận cho con cháu những khó khăn, chống đối lớn lao cha ông chúng đã gặp lúc ban đầu; phần này thâu tóm một nguyên nhân chính làm sụp đổ miền Nam, cũng như những bài học rút ra từ cuộc chiến cho những thế hệ tương lai của Việt Nam và các đồng minh của Hoa Kỳ hiện đại.

Xin dành những chi tiết, đôi khi có thể làm chảy nước mắt, cho người đọc.

Chỉ xin nêu ra đây vài ý kiến và thắc mắc chung của phần lớn các độc giả, với những gì tác cho biết qua cuốn sách :

Về phía Mỹ , người ta hết sức ngạc nhiên khi thấy gần như một mình ông Kissinger dẫn dắt cuộc chiến, khi ông qua mặt hai Tổng Thống R. Nixon, G. Ford và cả Quốc Hội Hoa Kỳ, đối nội, đối ngoại, tính kế rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam, bất chấp những cam kết của các Tổng Thống mà ông phục vụ với tư các Ngoại Trưởng.

Tác giả David Landau, người nghiên cứu chiến lược của Kissinger đã viết trong cuốn “ Kissinger : The Use Of Power” [ Kissinger : Sử Dụng Quyền Lực ] như sau :

“ Kissinger cho rằng giải pháp duy nhất của Hoa Kỳ năm 1967 là dùng chính sách ‘một khoảng thời gian coi cho được’. Nói cho đơn giản hơn, chính sách đó có nghĩa là sự sụp đổ của chính phủ miền Nam- điều ông cho rất có thể xẩy ra nếu không phải là bắt buộc xẩy ra- phải được trì hoãn trong một thời gian kể từ lúc Hoa Kỳ triệt thoái để Hoa Thịnh Đốn khỏi bị chỉ trích là đã không bảo vệ đồng minh của mình.

“ Như vậy, điều quan trọng chính yếu của cuộc chiến – vấn đề phe nào sẽ cai trị miền Nam – thực ra chỉ là một điểm không đáng để ý. Điều quan trọng không phải là có nên hay không nên triệt thoái mà là triệt thoái như thế nào và bao giờ”.

Như thế, việc bỏ rơi miền Nam của Mỹ đã rõ.

Cuộc hòa đàm ở Paris chỉ là để có “một khoảng thời gian coi cho được”.

Tất cả những thư từ của hai Tổng Thống Nixon và Ford gửi Tổng Thống Thiệu đã bị Kissinger dấu nhẹm.

Làm sao Kissinger có thể làm được việc ấy, trong một nước dân chủ, lập pháp, hành pháp đều phân minh vào bậc thế giới, như nước Mỹ?

Đó là một bí ẩn cho đến hiện nay vẫn chưa được làm cho rõ.

Tác giả Nguyễn Tiến Hưng cho biết, khi ông phỏng vấn TT Ford năm 1985, và đưa cho ông đọc mấy bức thư của TT Nixon, ông vẫn còn tỏ vẻ ngậm ngùi , nói “ Không còn nghi ngờ nào hết, đây là những lời cam kết vô cùng quyết kiệt’.

Còn cựu Tổng Trưởng Quốc Phòng Schlesinger, người đã rất thờ ơ lúc con tuyền Miền Nam sắp chìm đắm, cũng đã phàn nàn rằng

“ Tôi tin rằng TT Ford đã bị lừa bịp về những lá thư này”;

“ Quốc Hội không hề hay biết chút gì về mấy lá thư đó khi họ chạy làng khỏi khỏi Việt Nam vào mùa hè 1973”;

“ Tôi còn nhớ tôi đã vô cùng sửng sốt khi đọc một số thư ấy, vì chúng có nghĩa là Hoa Kỳ đã chạy làng những nghĩa vụ mà chính TT đã cam kết. Tuy nhiên, nếu ta không biết được là có những nghĩa vụ được cam kết thì ta đâu biết được là Hoa Kỳ đã chạy làng”;

Nghị sĩ Henry Jackson tuyên bố :

“Thật là lố bịch và nguy hiểm khi Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ phải nhờ vào quan chức ngoại quốc [ ông Hưng ] để mới biết được những văn kiện tối quan trọng” .

Ông còn thêm :

“ Khi không chịu tiết lộ rõ ràng bản chất và những văn bản của những thỏa thuận sơ bộ với Miền Nam, phía Hành Pháp đã lừa dối một chính phủ ngoại quốc cũng như Quốc Hội Mỹ về bản chất và quy mô những điều Hoa Kỳ cam kết với quốc gia đó”.

Nghị sĩ Mike Mansfield nói :

“ Thật là chuyện bất ngờ. Tôi nghĩ rằng sự việc này càng được sớm làm sáng tỏ ra thì càng tốt cho tất cả mọi người chúng ta”.

Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện, ủy ban lãnh đạo việc cắt viện trợ, đã yêu cầu TT Ford cho xem bản sao những trao đổi mật giữa hai TT Nixon và Thiệu. Nhưng ông Ford đã từ chối phắt đi. Trong một bức thư gửi nhgị sĩ John Sparkman, chủ tịch của Ủy Ban, ông đã nại tới “quyền hành đặc biệt của Hành Pháp” để làm căn bản cho việc từ chối, và khuyên rằng : “Chúng ta nên xếp lại vào qú khứ những cuộc tranh luận có tính cách chia rẽ về vấn đề Việt Nam”.

Nghị sĩ Frank Church, người chống đối cả viện trợ lẫn vịệc giúp di tản cho biết :

“ Hồi đó chẳng ai nói gì với chúng tôi về những cam đoan mà Hoa Kỳ mà Hoa Kỳ sẽ phải gánh vác. Tôi không nhớ là đã có người nào thông báo cho Ủy Ban tôi biết đã có một cam đoan nào, dù được viết xuống, hay minh thị, hoặc bằng cách nào khác. Cảm tưởng rõ rệt lúc ấy của chúng tôi là không có điều gì dấu diếm chúng tôi cả”.

Còn nghị sĩ Jacob Javits, Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện, người khởi xướng cắt quân viện hè 1974 đã tuyên bố [ sau khi hành pháp cãi là những bức thư này”chỉ cam kết về tinh thần, không có giá trị pháp lý”, chữ của ông Kissinger ] :

“ Muốn gọi tài liệu đó là gì đi chăng nữa, đáng lý chúng đã phải được đua ra cho Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện cùng

với những tài liệu khác liên quan đến Hiệp Đinh Paris”.

Tất cả những dữ kiện đó có đủ minh chứng là Quốc Hội Hoa Kỳ không biết gì về những về những cam kết của cả hai TT Nixon và Ford với TT Thiệu?

Những lời hứa trong thư từ giao dịch chính thức của TT Hoa Kỳ với TT một nước khác, khi muốn, người ta có thể giải thích là nó chỉ là “những cam kết tinh thần, không có giá trị pháp lý”, được chăng?

Được hay không được đối với một quốc gia lỡ tin vào những lời hứa đó mà mất nước, người ta còn có thể làm được gì nữa đây?

Về phía Việt Nam Cộng Hòa thì sao?

Người ta không biết Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có bao nhiêu cố vấn để giúp ông giải quyết công việc trong những lúc dầu sôi lửa bỏng như thế?

Đọc cuốn sách của ông Nguyễn Tiến Hưng, hình như cũng là người thân cậïn nhất của ông Thiệu trong những ngày cuối cùng của VNCH, người ta có cảm tưởng, TT Thiệu, gần như đơn độc.

Không ai bầy cho ông được một mưu chước gì.

Không ai giúp ông hoạch định một đường đi, nước bước nào, để đối phó với hào cảnh.

Ông Thiệu không tin ai cả?

Ông thích làm việc một mình?

Ông giữ trong tay mấy chục lá của ít nhất hai TT Hoa Kỳ cam kết ủng hộ VNCH bằng những lời minh bạch, quyết liệt như thế – những lá thư mà sau này rất nhiều nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ lúc bấy giờ – đã nói rằng, nếu họ được đọc, được biết, tình hình viện trợ cho VN có thể đã khác.

Vì lẽ gì TT Thiệu không công bố hay ít ra cũng cho riêng Quốc Hội Hoa Kỳ chẳng hạn, biết những lá thư ấy?

Căn cứ vào cuốn sách của ông Nguyễn Tiến Hưng, thì chỉ vì ông Thiệu muốn giữ chữ “tín” với ông Kissinger. Ông Kissinger có dặn ông Thiệu hãy giữ bí mật những thư từ liên lạc giữa Bạch Ốc và Dinh Độc Lập lúc bấy giờ.

Không thấy ai bàn với ông Thiệu cái lợi cũng như cái hại về công bố hay không những lá thư đó, vì sao? Hoặc dùng chúng để thử thăm dò xem có làm Hoa Kỳ thay đổi cung cách đối xử với VNCH được chăng?

Đó là việc mà người đọc nghĩ rằng, trong lúc không còn cách nào khác, TT Thiệu phải tính đến chuyện ấy.

Sự thật thì cuối cùng ông Thiệu cũng đã trao những lá thư ấy cho ông Nguyễn Tiến Hưng, khi gửi ông Hưng đi sứ qua Mỹ, vớt vát một hy vọng cuối cùng, không “xin” viện trợ nữa, mà “vay” tiền, đem cả tiềm năng dầu hỏa và vàng trong ngân khố ra để bảo đảm.

Trao những thư ấy cho ông Hưng, hiển nhiên có nghĩa là đồng ý để ông Hưng sử dụng. Nhưng ông Thiệu cũng không nói thẳng ra điều ấy.

Ông Nguyễn Tiến Hưng viết ở các trang 261- 262 như sau:

“ Tôi nói với Đại tá Cầm [ Chánh văn Phòng TT ] sắp xếp cho tôi gặp ông [ TT ] vào buổi sáng sớm vì biết bản tính ông hay cởi mở, đón nhận những ý kiến mới vào sớm mai.

Vừa gặp, tôi đã đi thẳng vào vấn đề và nói tới nghi vấn của tôi về việc chính ông Ford cũng không biết rõ những chuyện giũa Nixon với fông. ‘ Sao anh lại nghĩ vậy? Làm sao mà một Tổng Thống lậi không biết đến sự việc đó? Ông ta vừa lập lại những cam kết của Hoa Kỳ vời tôi’, ông Thiệu ngạc nhiên hỏi lại tôi.

‘Ấy chính điểm đó mà tôi mới nghi’.

Trước khi để ông hỏi ‘tại sao anh nghi’, tôi nói tiếp :’ Có lẽ Kissinger đã bưng bít, khpng trình ong ta’.

Thế là trúng. Ông Thiệu luôn nghi ngờ la Kissinger đã không tường trình đầy đủ mọi khía cạnh về Hòa Đàm Paris cho TT Nixon. Ông tỏ vẻ đăm chiêu, mắt chớp chớp. Được đà tối nói thêm :’ Tôi đề nghị Tổng Thống cho phép tôi tìm cách gửi những thư của ông Nixon tới ông Ford’.

Ông Thiệu không nói gì, lại càng nhìn tôi chăm chú.

‘Bây giờ mình đã tuyệt vọng, không còn cái phao nào mà bám nữa’, tôi cố gắng thuyết phục.

Dường như bị một nỗi chua xót đang dày vò, ông không nói gì thêm, ngả lưng vào ghế, nhìn lên tyrần nhà, cau mày, suy tư.

Tôi đứng dậy :’Thôi tôi về để Tổng Thống làm việc’.

... Vừa đi được mấy bước, bỗng ông Thiệu gọi giật lại :’Anh Hưng’. Tôi quay lại. Ông dặn với :’ Làm gì thì làm, nhưng phải hết sức thận trọng, đừng để Mỹ có cớ đổ tội cho mình là bội tín’. Tôi hiểu ngay là ông đã đồng ý, nhưng như thường lệ, ông không ra lệnh rõ ràng. ‘ Tổng Thống đừng ngại, có gì cứ đổ cho tôi”.

Đoạn tường thật cho thấy, ngay cả khi chấp thuận cho dùng những lá thư đó, TT Thiệu cũng chỉ chấp thuận một cách gián tiếp.

Đó cũng là cảnh duy nhất, người ta được biết một cộng sự viên của ông Thiệu, T Trưởng Kế Hoạch Nguyễn Tiến Hưng chìa vai gánh vác trực tiếp với TT một trách nhiệm với một vài ý kiến có tính cách bàn hơn thiệt trong công việxc.

Nhân vật Mỹ được và xứng đáng nhận được nhiều cảm tình của người đọc nhất là ông Đại Sứ Martin. Có thể coi ông là người đã cứu vãn được phần nào uy tín của nước Mỹ qua các hành động cũng như suy nghĩ của ông về giá trị đạo đức cũng như chính sách ngoại giao tàn bạo của Mỹ đối với VNCH.

Nhờ ông đã tránh được một cuộc đụng độ giữa QĐVNCVH và quân đội Mỹ, khi Mỹ tháo chạy, mà người ta không thể lường được sự tai hại đến mức nào.

Nhờ ông, một số ít nhất gấp đôi số người Mỹ dự định cho di tản, đã ra khỏi được Sài Gòn hôm 30 /4/75.

Nhờ sự cố gắng trong tuyệt vọng của ông Nguyễn Tiến Hưng, đơn thương độc mã trong những ngày Sài Gòn đã mất, con số người được chấp thuận cho đến định cư tại Hao Kỳ đã lên tới con số 1.000.000.

Người đi được và tất cả những người muốn đi mà không đi được, bao gồm trong câu nguyền rủa của ông Kissinger :

“ Sao chúng không chết phứt đi cho rồi”.

Nghe nói Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã định dùng câu nói đó của Kissinger làm nhan cho cuốn sách. Nhưng sau, theo đề nghị của phu nhân của ông, cuốn sách đã có cái tên là “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”.

Những thư từ, mật điện của hai Tổng Thống Mỹ gửi Tổng Thống Thiệu, in trong phần phụ lục của cuốn sách, đủ để người ta rùng mình khi nghĩ đến sự giao dịch giữa một nước nhỏ với một nước lớn. Nó khó khăn và nguy hiểm biết chừng nào!