3.22.2026

MƯA TIẾP (Đoản văn)

Trời coi bộ chưa thể tạnh mưa được.

Một câu nói nghe thấy khi đi ngang qua một phòng vi âm lớn, bên trong một ban nhạc đang thâu thanh, nhưng mọi người lúc đó dừng tay để chờ cô hòa âm viên để thay một cuốn băng mới vào máy: “Cô ấy đang thay 'băng', xin quý vị cảm phiền, 'băng' cũ quá không 'thấm' nữa”.

Cô hòa âm viên dường cũng đã quen với những lời tương tự vẫn cặm cụi lắp cuốn băng vào máy, làm như không nghe thấy gì.

Sơn nhìn tôi cười. Tôi cũng không giữ nổi cho mình khỏi cười.

Hình như cụ Nguyễn Văn Vĩnh ngày xưa có viết một bài phàn nàn rằng người Việt Nam ta” gì cũng cười”.

Cụ không còn sống tới lúc này để thấy rằng, cười được như thế là may đấy.

Chúng tôi làm việc, có nhiều ngày buồn bã muốn chảy nước mắt.

Chúng tôi không có gì để loan đi ngoài những tin tức đau lòng. Ðọc nhiều tin tức chiến sự đến nỗi ai cũng tưởng rằng mình có thể làm phóng viên chiến trường được. Cũng không ai biết, có lúc, chúng tôi đã đọc các bản tin, thực hiện các phóng sự dưới những tấm chăn được căng lên trong một căn phòng kín, quá kín để có thể thở được, nhưng lại chưa đủ kín để làm một cái phòng vi âm, những ngày đài mới bị phá vỡ trong dịp tết Mậu Thân.

Không có cái cười, lấy gì chịu đựng trong những ngày ròng làm việc như vậy?

Phòng vi âm khi ấy được mệnh danh là “phòng tắm hơi”.

Ở trong đó ra người nào người nấy mồ hôi mồ kê nhễ nhại, và là dịp phát sinh những lời chọc ghẹo mới.

“ Ðóng cửa làm gì nhau mà đến nỗi ướt hết thế kia?”.

“Tắm hơi hả? Có cần làm massage để tôi”.

“Ở trong chăn ra với nhau mà chẳng có tình nghĩa gì cả?”

“Anh với em vào phòng đi”.

“Cứ để đèn trông cho rõ”.

Những ngày mới đi làm tôi sợ hãi quá sức những cái cách, những lời đùa bỡn tương tự.

Nhưng dần dà tôi hiểu ra đó là những liều thuốc lại sức mau chóng, dù nhiều khi, đã dùa bỡn khó tránh được những sự quá trớn. Chỉ những đứa con gái chúng tôi là khổ.

Tuy nhiên tôi vẫn phải nói “xin cám ơn những lời nói tục”.

Cũng có lần tôi nói với Sơn về lề lối cười cợt đó và hỏi anh:

- Có phải cái cười của chúng ta càng ngày càng “nặng” thêm mãi phải không?

Sơn nói:

- Cũng tại hơi hướm của các bà các cô cả.

Rồi anh hỏi lại tôi:

- Cô có coi phim “Prenez garde à la flotte” không?

-Sao?

- Cô cứ tưởng tượng một ông đô đốc, một bữa vác ống nhòm nhìn lên cột cờ của chiến hạm, thay vì thấy lá cờ lại thấy một chiếc quần lót đàn bà bay phất phới.

- Trời đất! Rồi ông ta nói sao?

- Hình như ông ấy bảo, cứ để họ thắng trận đã.

Câu chuyện của Sơn vừa khó hiểu vừa buồn cười. Ðó cũng là lần thứ nhất, từ ngày làm việc chung với anh, tôi tự hỏi, liệu người đàn ông này có thể làm được việc gì trong đời?

Chúng tôi tới phòng thâu thanh. Giờ giấc đã được ghi sẵn dành riêng cho chúng tôi.

Chúng tôi dặn dò nhau trước ai sẽ đọc những đoạn nào và những chỗ nào sẽ ngừng để bên ngoài cho chạy nhạc chuyển đoạn.

Sơn bảo:

- Cô sẽ có dịp nói vài lời giã từ Việt Nam.

- Thế thì còn gì hay hơn!

Vì là chương trình được thâu trước nghĩa là có gì sai, trục trặc, có thể làm lại, nên tôi cũng không dò bài trước. Tôi cũng muốn khám phá sự bất ngờ trong đó.

Trong lúc chờ đợi hòa âm viên sửa soạn máy móc, tôi lại nghe vọng từ phòng vi âm kế cận một bài hát có âm điệu dịu dàng do một giọng nữ hát, “một ngày trên quê hương chúng ta không còn chinh chiến nữa, một người thanh niên xưa lúc đi, nay về, thấy mình già”, nỗi ước mơ vừa buồn bã vừa thiết tha, hình như nó đã tẩm đẫm ở khắp mọi nơi, trong những giọt mưa đang rớt xuống ngoài kia, trên những khóm lá đầm đìa...

Tôi nói với Sơn:

- Chiều thứ năm tôi mời anh đến nhà tôi ăn cơm.

- Sơn có vẻ ngạc nhiên:

- Có chuyện chi?

- Không có chuyện chi quan trọng cả. Bữa cơm mấy chị em tôi họp mặt trước khi tôi đi. Anh là người khách duy nhất.

- Như thế tôi không còn cách gì từ chối. Tôi sợ những buổi tiếp tân lắm.

- Anh sẽ có dịp sợ cả những buổi không phải là tiếp tân nữa.

- Một lần không sao.

-Tôi có cô em học kiến trúc. Tôi muốn giới thiệu nó với anh.

Sơn cười không nói gì.

Chúng tôi bắt đầu thâu thanh.

Trời vẫn còn mưa.

Trong bài viết của Sơn cũng có đoạn trích một bài Ðường thi nói về mưa.

Nam triều tứ bách bát thập tự

Ða thiểu lâu đài yên vũ trung?

Ở phía Nam triều đình có bốn trăm tám mươi ngôi chùa. Có bao nhiêu cái chìm trong khói mưa?

Hết mưa đến trăng.

Năm nào là năm đầu tiên trăng chiếu xuống nhân loại. Ai là người thứ nhất trong thiên hạ trông thấy trăng. Trong đêm trăng sáng này có bao nhiêu kẻ luân lạc cưỡi được ánh trăng mà về quê cũ.

Tôi không thể nhớ hết những gì đã đọc.

Nhưng đầu óc tôi bị huyễn hoặc bởi cái ánh trăng tưởng tượng, của cái vầng cổ nguyệt vằng vặc trên bầu trời sơ khai kia.

Quê hương hai tiếng đó nặng nề đến như vậy sao? Khi tóc người đã bạc, bao nhiêu màu sắc thắm tươi của đời lặn sâu cả vào cõi lòng, tô đậm có mỗi cái hình ảnh đó sao.

Trương Nhược Hư.

Cái tên hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

Những hình bóng chờn vờn trong bài thơ đó hình như cũng không còn liên lạc gì với cái đời sống này nữa.

Nguyễn Ðình Toàn