Mời bạn đọc theo dõi "Featured Post":

Giáo Sư Đào Mộng Nam: Truyện Kiều Và Chữ Nho

Showing posts with label Trần Hoài Thư. Show all posts
Showing posts with label Trần Hoài Thư. Show all posts

9.11.2026

Hai Người Lưu Trữ Bất Đắc Dĩ: Trần Hoài Thư, Võ Phi Hùng, và Công Cuộc Dựng Lại Một Thư Viện Đã Bị Thiêu Hủy

Written by: Claude Opus 5.0 AI.

Curator/Editor: Học Trò.


Chuyện một cựu chiến binh bộ binh từng bị thương ở New Jersey và một kỹ sư điện đã về hưu ở Virginia — không ai trong hai người là thủ thư, học giả, hay có liên hệ gì với Cornell — đã dùng những năm tháng hưu trí của mình để kéo một nền văn học đã biến mất trở lại từ hầm vi phim của một trường đại học Mỹ.


Một thư viện đáng lẽ phải biến mất

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, toàn bộ di sản in ấn của miền Nam Việt Nam trở thành mục tiêu xóa bỏ. Các nhà sách bị lục soát, tủ sách tư nhân bị tịch thu, và một chiến dịch chính thức mang tên "bài trừ văn hóa đồi trụy" ra lệnh đốt hoặc nghiền nát sách, tạp chí, báo chí từng xuất bản dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa trong khoảng 1954–1975. Chỉ vài năm sau, những bộ báo và tạp chí văn học từng bày bán ở mọi sạp báo Sài Gòn — những tờ nhật báo người ta từng đọc ngay buổi sáng hôm đó — không còn tồn tại trọn vẹn ở bất cứ đâu trong nước. Ai muốn biết văn học miền Nam thật sự đã nói gì, bằng chính lời lẽ của nó, trên chính những trang giấy của nó, gần như chẳng còn nơi nào để tìm.

Ngoại trừ, hóa ra, ở Ithaca, tiểu bang New York.

Thư viện Đại học Cornell — phần lớn do một sự tình cờ của chính sách học thuật thời Chiến tranh Lạnh, chứ không phải vì một cảm tình đặc biệt nào với miền Nam Việt Nam — đã dành suốt từ thập niên 1950 đến 1970 để xây dựng nên, cho đến nay, bộ sưu tập tư liệu in ấn tiếng Việt lớn nhất bên ngoài Việt Nam: Bộ sưu tập John M. Echols về Đông Nam Á, lưu giữ hàng chục ngàn đầu sách và tạp chí tiếng Việt, cùng một trong số rất ít bộ vi phim còn sót lại của báo chí Việt Nam thời chiến trên toàn thế giới. Bộ sưu tập ấy nằm im ở đó suốt một phần tư thế kỷ, được lên danh mục nhưng hầu như không được cộng đồng mà nó lưu giữ ký ức đọc tới — cho đến khi hai người đàn ông, không có nguồn tài trợ của cơ quan nào, không học bổng, không bằng cấp thủ thư, mỗi người một cách riêng, quyết định đi lấy nó về.

Đây là câu chuyện của hai người ấy, và cũng là một chỉ dẫn thực tế cho bất cứ ai khác muốn làm điều tương tự ngày hôm nay.


Trần Hoài Thư: người lính trở thành thủ thư của cả một thế hệ

Trần Hoài Thư — bút danh của Trần Quí Sách — sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Năm 1967 ông nhập khóa 24 Trường Bộ Binh Thủ Đức, được đưa về Đại đội 405, một đơn vị thám kích thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh, phục vụ bốn năm và ba lần bị thương. Sau đó ông có thêm hai năm làm phóng viên chiến trường ở Quân khu IV, vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nói cách khác, ông là một người lính tác chiến và một cây bút đang hành nghề trước khi trở thành người bảo tồn — tập truyện ngắn thời chiến của chính ông, Những Vì Sao Vĩnh Biệt, đã làm nên tên tuổi ông trên các trang văn nghệ Sài Gòn từ trước khi chiến tranh kết thúc.

Sau 1975 ông trải qua hơn bốn năm trong trại cải tạo. Năm 1980 ông vượt biên bằng thuyền, sang định cư tại Hoa Kỳ, xây dựng một sự nghiệp thứ hai trong ngành toán ứng dụng và quản lý dự án tại hãng IBM. Ông về hưu năm 2004 — và phải đến lúc ấy, ở tuổi sáu mươi, công việc sẽ định hình quãng đời còn lại của ông mới thật sự bắt đầu.

Cũng năm đó, cùng người bạn Phạm Văn Nhàn, ông lập ra một cơ sở xuất bản nhỏ, Thư Ấn Quán, và một tờ tạp chí văn học đi kèm, Thư Quán Bản Thảo, đến đầu thập niên 2020 đã vượt qua số một trăm — một thành tích thực sự hiếm có đối với một tạp chí văn học tiếng Việt làm hoàn toàn ở hải ngoại, bởi những người làm việc không công, và gần như không có lượng độc giả đặt mua cố định nào. Nhưng tờ tạp chí thật ra chỉ là phương tiện cho một việc lớn hơn: một sứ mệnh tự giao cho mình, không kinh phí, mà ông gọi là Di Sản Văn Chương Miền Nam — 1954–1975 — nghĩa là phục hồi, in lại, và đơn giản là giữ cho tồn tại trên giấy một nền văn học của cả một quốc gia mà chính đất nước sinh ra nó đã tìm cách xóa bỏ.

Bằng cách nào đó ông biết được Cornell đang giữ những tư liệu ông cần. Từ nhà ở Plainfield, New Jersey, lái xe đến Ithaca mất khoảng năm tiếng mỗi chiều; ông cũng thực hiện chuyến đi chừng ba tiếng đến thư viện Đại học Yale để tìm thêm tư liệu bổ sung mà cộng đồng người Việt hải ngoại cùng thời đã hiến tặng ở đó. Trong một cuộc trò chuyện với nhà văn Trần Doãn Nho, đăng trên chính blog của ông, tranhoaithu42.com, ông kể lại những gì tìm được bằng những lời thẳng thắn, cụ thể: trong tất cả những gì Cornell lưu giữ, tạp chí Bách Khoa còn được lưu trữ trọn vẹn nhất trong số mọi tờ báo miền Nam trong bộ sưu tập — nhưng trên các kệ sách còn có những tư liệu hiếm hoi hơn nhiều: nội san của các trường Trưng Vương, Gia Long, Chu Văn An, tờ rơi tuyển sinh, và hàng chục tạp chí văn học phát hành nhỏ lẻ chưa từng được in lại ở bất cứ đâu.

Cách làm việc của ông tuyệt đối không có gì hào nhoáng. Ông lái xe đi trong thời tiết xấu, thường khởi hành trước rạng sáng, mang theo một máy scan phẳng và một laptop thay vì trả tiền photocopy của thư viện — chậm hơn, ông nói, nhưng vừa túi tiền của một người về hưu, và cho ông toàn quyền kiểm soát chất lượng hình ảnh. Ông vận dụng nền tảng kỹ thuật tích lũy được từ thời làm ở IBM để cải tiến những thiết bị scan cũ mua lại cho nhanh hơn, làm sáng lại những trang giấy đã ố vàng, và — một chi tiết nhỏ nhưng đáng nói — tự xây những trình xem "flipbook" cho tư liệu sau khi đưa lên mạng, có kèm nhạc nền để người đọc lật qua những trang tạp chí hàng chục năm tuổi trên màn hình sẽ nán lại lâu hơn một chút.

Khi sức khỏe bắt đầu suy yếu — một cơn đột quỵ, chứng viêm khớp, rồi sau đó là chẩn đoán ung thư — những chuyến đi phải dừng lại, nhưng công việc thì không: nhân viên Cornell bắt đầu gửi tư liệu thẳng đến nhà cho ông qua bưu điện. Bà vợ ông, Nguyễn Ngọc Yến, đã lái xe đưa ông đi gần như mọi chuyến lên Ithaca suốt hơn một thập niên và cùng chia sẻ công việc từ đầu đến cuối; những người bạn Phạm Văn Nhàn, Trần Bang Thạch, và Cao Vị Khanh cùng ông gây dựng phần xuất bản. Trong khoảng mười hai năm, nhóm này đã thực hiện, bên cạnh nhiều việc khác, một bộ tuyển tập văn xuôi miền Nam bốn tập, hai tập thơ miền Nam thời chiến, và những bản in lại nguyên trạng trọn vẹn của những tờ tạp chí đã biến mất — Sáng Tạo, Khởi Hành, Vấn Đề — mỗi bộ dày đến hàng trăm trang. Một nghiên cứu sinh tiến sĩ ở Đài Loan sau đó đã hoàn thành luận án một phần dựa trên tư liệu từ kho lưu trữ tạp chí Văn Học của ông — một dấu hiệu sớm, cụ thể, cho thấy giá trị học thuật của công trình này vượt xa khỏi cộng đồng hải ngoại mà nó ban đầu được làm cho.

Trần Hoài Thư qua đời ngày 27 tháng Năm năm 2024, tại New Jersey, thọ tám mươi hai tuổi. Nhìn theo bất cứ cách nào, ông đã dành hai mươi năm cuối đời để một mình làm công việc của cả một thư viện quốc gia cho một nền văn học.


Võ Phi Hùng: người kỹ sư với tấm thẻ thư viện

Nếu Trần Hoài Thư là cái tên được biết đến nhiều nhất của phong trào này, thì Võ Phi Hùng đại diện cho một điều cũng quan trọng không kém nhưng kín tiếng hơn nhiều: nỗ lực song song, độc lập của một độc giả bình thường, không hề có tiếng tăm gì trong giới cầm bút, làm việc qua hệ thống mượn liên thư viện thay vì tự mình lái xe lên Ithaca.

Võ Phi Hùng là cựu học sinh trường Petrus Ký ở Sài Gòn, niên khóa 1967–74. Ông sang Hoa Kỳ đầu năm 1975 — chỉ vừa kịp trước sự sụp đổ mà sau này ông sẽ dành cả quãng đời còn lại để cố gắng ghi lại tư liệu — để học kỹ sư điện, và hiện sống ở Virginia. Theo lời chính ông, động cơ cho công việc ông sau này nhận lãnh không phải vì nghề nghiệp hay văn chương mà hoàn toàn cá nhân: ông muốn, theo lời ông, "hiểu rõ hơn lịch sử cận đại của Việt Nam và sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa," và muốn đem những gì mình tìm được chia sẻ cho những ai khác cũng muốn hiểu điều đó.

Con đường ông tiếp cận được kho tư liệu Cornell không đòi hỏi dù chỉ một chuyến đi đến Ithaca. Thay vào đó, ông mượn bảy cuộn vi phim 35mm — toàn bộ số báo Sóng Thần còn sót lại — qua dịch vụ mượn liên thư viện của Cornell, đặt qua hệ thống thư viện địa phương của ông ở Fairfax, Virginia. Ông scan các cuộn phim trên chính máy đọc vi phim của thư viện, lúc đầu là một máy "Uscan" đời cũ, sau đó là một máy ScanPro 3000 mới hơn khi chi nhánh nâng cấp thiết bị, chuyển từng trang báo thành PDF rồi ráp lại thành từng số báo trọn vẹn — cuối cùng công bố gần một ngàn số báo Sóng Thần ở dạng số hóa có thể sử dụng được, một tờ báo mà trước công việc của ông gần như không còn tồn tại ở đâu khác ngoài cuộn vi phim duy nhất đó ở miền bắc tiểu bang New York.

Ông không dừng lại ở đó. Ông tiếp tục số hóa các tờ báo Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Dân, Thần Chung, và An Hà Nhật Báo, đồng thời làm việc với Chính Luận, Đông Pháp Thời Báo, và Đuốc Nhà Nam. Trong một dự án riêng nhằm phục dựng tờ nguyệt san văn học Đồng Nai Văn Tập, tồn tại ngắn ngủi trong các năm 1965–68, ông kết hợp vi phim của Cornell cho tám số đầu với những tập ông tìm được riêng tại Thư viện Harvard-Yenching của Đại học Harvard để ráp lại gần như trọn bộ — scan từng tập đóng bìa dày khoảng 148 trang, từng số một, bằng máy scan phẳng.

Dòng ghi công được đóng sẵn trong các file PDF hoàn chỉnh — hiện rõ như watermark trên hết trang scan này đến trang scan khác tại ndclnh-mytho-usa.org, trang mạng hiện đang lưu trữ chúng — ghi nguyên văn: "Do anh Võ Phi Hùng, Cựu HS Petrus Ký (67–74), tặng Kho Sách Xưa, Quán Ven Đường (từ microfilm Thư viện Đại học Cornell)." (Xem, chỉ là một ví dụ trong số hàng chục, trang scan này của Chính Luận, số 1777, hoặc cùng dòng ghi công đó trên Chính Luận, số 1946, được lưu bản sao tại Internet Archive.) Đó là một dòng ghi công nhỏ bé, khiêm nhường cho một việc mà thực chất là sự hồi sinh số hóa, một tay làm trọn, của những tờ báo mà không thư viện nào từng buồn — hay dám — làm cho có thể đọc lại được.


Mạng lưới chung quanh họ

Không ai trong hai người làm việc một mình trong chân không, và việc nêu tên những người chung quanh họ là điều quan trọng, bởi toàn bộ công cuộc này là một ví dụ điển hình cho thấy công việc bảo tồn tự nguyện, phân tán, không kinh phí thật sự trông như thế nào trong thực tế.

Huỳnh Chiếu Đẳng điều hành Kho Sách Xưa, trang mạng tại ndclnh-mytho-usa.org, đóng vai trò như một đầu mối tập trung trên thực tế cho toàn bộ khối tư liệu này — một trang mạng đơn giản, cố tình không hiện đại hóa, không có chức năng tìm kiếm, sắp xếp theo tên báo và ngày số, nơi các bản scan của Võ Phi Hùng (cùng tư liệu từ nhiều người đóng góp khác) đơn giản được đăng lên dưới dạng PDF cho tải về. Vì trang không có chỉ mục tìm kiếm, cách được chấp nhận để tìm một thứ cụ thể vẫn là gửi email trực tiếp hỏi Huỳnh Chiếu Đẳng — một cách sắp xếp hoàn toàn tự phát từ cơ sở, nhưng vẫn giữ cho kho lưu trữ này sống và lớn dần suốt nhiều năm.

Ngy Thanh, nguyên là phóng viên của chính tờ Sóng Thần, sau này đóng góp những bản scan thay thế có độ phân giải cao hơn cho những số báo đầu tiên, cải thiện so với ảnh gốc lấy từ vi phim. Trùng Dương, chủ bút sáng lập của Sóng Thần giai đoạn 1971–75, đã viết bài tường thuật công khai đầy đủ nhất về toàn bộ mạng lưới bảo tồn này, trong một bài viết hai kỳ cho Tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ (do Đại học Oregon xuất bản; xem thêm phần 2) — bản tổng quan đầy đủ nhất, gần với tiếng Anh nhất, về cách các mảnh ghép này khớp với nhau. Về phía Thư Quán Bản Thảo, Phạm Văn Nhàn, Trần Bang Thạch, Cao Vị Khanh, và người vợ của Trần Hoài Thư, bà Nguyễn Ngọc Yến, đã gánh vác phần xuất bản và hậu cần suốt hai thập niên.

Trần Hoài Thư duy trì blog riêng của mình, tranhoaithu42.com, hoạt động suốt hơn một thập niên, vừa là nhật ký công việc của dự án Thư Quán Bản Thảo, vừa là kho lưu trữ các bài tiểu luận và truyện ngắn của chính ông, và — nếu đọc kỹ — còn là một dạng sổ tay ghi chép hiện trường công khai của chính công cuộc nghiên cứu ở Cornell: có bài, viết về "thời cực thịnh" của nền văn học miền Bắc, thản nhiên nhắc đến việc mở danh mục thư viện của Cornell giữa chừng một cuộc tranh luận để kiểm chứng một nhận định về lịch sử văn học; những bài khác kể lại một chuyến đi cụ thể lên phía bắc, trong một kiểu thời tiết cụ thể, để lấy về một bộ số cụ thể của một tạp chí cụ thể. Đọc gộp lại, blog này cùng với trang Kho Sách Xưa tạo thành ghi chép đầy đủ nhất còn tồn tại ở bất cứ đâu về việc "tự mình làm lấy" thực sự trông như thế nào, tuần này qua tuần khác, suốt hai mươi năm.


Những gì họ thực sự đã cứu được

Cũng nên nói cụ thể về quy mô những gì hai cá nhân không có kinh phí này đã làm được, bởi rất dễ để cụm từ "bảo tồn văn hóa" cứ mãi ở mức trừu tượng chung chung:

  • Sóng Thần, một nhật báo lớn của Sài Gòn (1971–75) mà ban biên tập từng bị chính quyền Thiệu sách nhiễu và truy tố vì những bài viết chống tham nhũng — được phục hồi thành gần một ngàn số báo số hóa từ bảy cuộn vi phim mượn được.
  • Phổ Thông, tạp chí văn học – đời sống do nhà văn Nguyễn Vỹ sáng lập — được Cornell cung cấp trọn bộ trực tiếp cho Trần Hoài Thư.
  • Bách Khoa, tạp chí trí thức bán nguyệt san tồn tại lâu năm — theo chính lời Trần Hoài Thư, đây là bộ báo miền Nam được lưu trữ trọn vẹn nhất trong tất cả những gì Cornell đang giữ.
  • Sáng Tạo, Khởi Hành, Vấn Đề — ba tạp chí văn học có ảnh hưởng lớn, được Thư Ấn Quán in lại nguyên trạng trọn vẹn sau khi được phục dựng từ tư liệu của Cornell và Yale.
  • Đồng Nai Văn Tập (1965–68), một nguyệt san văn học tỉnh lẻ tồn tại ngắn ngủi, được ráp lại từ vi phim của cả Cornell lẫn Harvard-Yenching — loại tựa báo hẹp, dễ bị bỏ qua, mà một tổ chức lớn sẽ không bao giờ tự ưu tiên số hóa, nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn với đúng câu hỏi lịch sử văn học mà Võ Phi Hùng khi ấy đang theo đuổi.
  • Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Dân, Thần Chung, An Hà Nhật Báo, Chính Luận, Đông Pháp Thời Báo, Đuốc Nhà Nam — một danh sách ngày càng dài thêm những tờ báo khác, một số có niên đại từ thập niên 1910–1930 chứ không phải thời chiến, cũng được số hóa từ cùng nguồn vi phim của Cornell.

Không việc nào trong số này cần đến học bổng tài trợ, một chức vụ ở đại học, hay giấy phép của bất cứ chính quyền nào. Nó chỉ cần biết rằng Cornell có tư liệu đó, biết cách xin một tấm thẻ thư viện và mượn vi phim, và sẵn lòng bỏ ra những năm tháng hưu trí, một máy scan để dưới tầng hầm, và rất nhiều kiên nhẫn cho công việc.


Muốn đi theo bước chân họ

Tin tốt về mặt thực tế là gần như không có điều gì làm nên chuyện này lại chỉ dành riêng cho cá nhân Trần Hoài Thư hay Võ Phi Hùng. Những cơ chế tiếp cận mà họ dùng đều là dịch vụ thư viện bình thường, ngày nay mở ra cho gần như bất cứ ai.

1. Đến thăm Cornell trực tiếp

Kho tư liệu tiếng Việt của Cornell nằm trong Bộ sưu tập John M. Echols về Đông Nam Á, đặt tại thư viện Kroch trong khuôn viên Cornell ở Ithaca, với những tư liệu ít được dùng đến hơn nằm ở Library Annex ngoài khuôn viên chính (có thể lấy ra sau khoảng một ngày báo trước). Kể từ một thay đổi chính sách vào cuối năm 2024, Cornell cấp miễn phí thẻ thư viện "Borrow on Site!" cho bất cứ khách nào — không chỉ cựu sinh viên hay cư dân New York — sau một đơn xin ngắn gọn trực tuyến hoặc yêu cầu trực tiếp tại quầy dịch vụ thư viện Olin. Ngay cả không có tấm thẻ đó, bất cứ khách nào cũng có thể vào và sử dụng tư liệu tại chỗ: kệ sách mở, các bộ sưu tập đặc biệt (cần sắp xếp trước), cơ sở dữ liệu có bản quyền, wifi, và — quan trọng nhất với bất cứ ai định làm điều hai người này đã làm — máy scan công cộng.

Đầu mối liên lạc để lên kế hoạch cho chuyến đi: asiaref@cornell.edu hoặc số điện thoại (607) 255-8199 để được hỗ trợ tra cứu chung về các bộ sưu tập Á châu; người phụ trách chuyên đề Việt Nam hiện tại cũng có thể liên lạc qua cùng địa chỉ này để hỏi về những tư liệu cụ thể trước khi lên đường.

2. Lấy tư liệu mà không cần đi xa: mượn liên thư viện

Đây chính là con đường Võ Phi Hùng đã thực sự dùng, và cũng là lựa chọn thực tế hơn cho đa số mọi người. Cornell cho mượn rất nhiều qua hệ thống liên thư viện (ILL), kể cả phần lớn vi phim — nhưng một cá nhân không thể gửi email hay gọi điện trực tiếp cho Cornell để xin mượn. Thay vào đó:

  1. Đến thư viện công cộng hay thư viện đại học ở địa phương mình và nhờ bộ phận mượn liên thư viện của họ đặt yêu cầu tư liệu cụ thể đó từ Cornell.
  2. Cornell được đăng ký trong mạng lưới cho mượn OCLC dưới ký hiệu COO; hầu như bất cứ thư viện nào ở Hoa Kỳ cũng có thể chuyển yêu cầu đến Cornell qua hệ thống này, với chi phí rất thấp hoặc miễn phí cho người mượn.
  3. Nếu tư liệu là một tờ báo trước 1975, cần ghi rõ mình cần cuộn vi phim, chứ không phải bản photocopy — phần lớn báo chí tiếng Việt chỉ còn tồn tại ở dạng vi phim, và chính sách cho mượn của Cornell nói rõ bao gồm "hầu hết vi phim."
  4. Khi cuộn phim đến thư viện địa phương, dùng chính máy đọc vi phim của thư viện đó (rất nhiều thư viện công cộng và đại học, kể cả những chi nhánh nhỏ ở vùng xa, đều có máy này) để scan từng trang thành PDF — đúng như những gì Võ Phi Hùng đã làm trên thiết bị của thư viện công cộng Fairfax County, lúc đầu trên một máy Uscan đời cũ, sau đó trên một máy ScanPro 3000.

Không bước nào trong chuỗi này đòi hỏi có liên hệ với Cornell, một chức vụ học thuật, hay một giấy phép đặc biệt nào — chỉ cần một tấm thẻ thư viện công cộng ở chi nhánh địa phương của mình và sự kiên nhẫn chờ đợi thời gian xử lý của mượn liên thư viện.

3. Riêng về vi phim báo chí: mạng lưới SEAM/CRL

Nhiều cuộn vi phim báo tiếng Việt của Cornell được thực hiện trong khuôn khổ Dự án Vi phim Đông Nam Á (SEAM), do Trung tâm Thư viện Nghiên cứu (CRL) ở Chicago điều hành từ năm 1970. Nếu một tựa báo cụ thể không có sẵn trực tiếp từ Cornell, danh mục riêng của CRL cũng đáng để tìm thêm — phim SEAM có thể được mượn bởi bất cứ thư viện thành viên CRL nào, và rất nhiều hệ thống thư viện công cộng và đại học lớn đã sẵn là thành viên mà chính độc giả của họ cũng không biết.

4. Thiết bị: đơn giản đến vậy thôi

Không ai trong hai người dùng thứ gì vượt quá những gì một thư viện công cộng trang bị tốt, hay một người say mê nghiệp dư, vốn đã sẵn có: một máy scan phẳng (được Trần Hoài Thư nâng cấp, chỉnh sửa từ những linh kiện cũ), một laptop, và — cho phần việc vi phim — một máy đọc vi phim thư viện tiêu chuẩn như Uscan hay ScanPro. Không có phòng số hóa chuyên dụng được tài trợ, không thiết bị chuẩn lưu trữ, không hợp tác với cơ quan nào ở bất cứ giai đoạn nào. Giới hạn thật sự đối với cả hai người chỉ là thời gian và sự kiên nhẫn, chứ không phải tiền bạc hay công nghệ.

5. Đưa những gì tìm được về đâu

Một bài học lặp đi lặp lại, âm thầm nhưng quan trọng, từ công việc của cả hai người là: khâu lưu trữ trực tuyến cũng quan trọng không kém khâu scan, và có thể cũng đơn giản, không chính thức y như vậy. Trang ndclnh-mytho-usa.org của Huỳnh Chiếu Đẳng là một trang mạng tĩnh, sơ sài, không cơ sở dữ liệu, không công cụ tìm kiếm — vậy mà vẫn đóng vai trò một kho lưu trữ công cộng bền vững, có thể tìm thấy được, suốt nhiều năm, chỉ vì nó giữ được sự đơn giản và luôn ở trên mạng. Blog tranhoaithu42.com của chính Trần Hoài Thư cũng phục vụ mục đích tương tự cho phần việc của ông. Bất cứ ai muốn lặp lại công việc này hôm nay đều có những lựa chọn miễn phí tốt hơn nhiều chỉ riêng cho khâu lưu trữ trực tuyến — một blog WordPress, một trang tĩnh, hay một ổ đĩa chia sẻ có đường link công khai — nhưng bài học cốt lõi vẫn không đổi: hãy đăng nó ở đâu đó ổn định và cho mọi người biết ở đâu, thay vì chờ một cơ quan nào đó xây một nền tảng thật sự bài bản trước đã.

6. Những thư viện khác đáng biết đến

Cornell là cái giếng sâu nhất cho loại tư liệu này, nhưng không phải là cái duy nhất:

  • Thư viện Đại học Yale, cách nhà Trần Hoài Thư ở New Jersey khoảng ba tiếng lái xe, lưu giữ một bộ tư liệu bổ sung do cộng đồng hải ngoại miền Nam hiến tặng; khác với chính sách miễn phí hiện tại của Cornell cho khách vãng lai, Yale đôi lúc có thu một khoản phí truy cập hằng tháng khiêm tốn đối với nhà nghiên cứu bên ngoài.
  • Thư viện Harvard-Yenching đã cung cấp những tập Đồng Nai Văn Tập mà chính kho của Cornell còn thiếu — một lời nhắc rằng không một thư viện nào, kể cả Cornell, có đầy đủ mọi thứ, và đôi khi kiên trì có nghĩa là phải kiểm tra thêm một, hai cơ quan khác cho cùng một tựa báo.
  • Bộ sưu tập Đỗ Đình Tuấn về Báo chí Việt Nam tại UC Berkeley chuyên sâu về các ấn phẩm hải ngoại sau 1975, bổ khuyết cho thế mạnh của Cornell và Yale vốn nghiêng về giai đoạn trước 1975.
  • Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (Library of Congress) lưu giữ những bộ báo song song, đôi khi bổ sung cho nhau, của cùng những tựa báo tiếng Việt thời chiến mà Cornell đã chụp vi phim, và hai cơ quan này đôi lúc đã ghép những bộ tư liệu không trọn vẹn của mình lại thành một bộ vi phim hoàn chỉnh duy nhất.

Vì sao việc chính họ làm điều này, chứ không phải một cơ quan, lại quan trọng

Có một phẩm giá riêng, gần như nghịch lý, trong cách kho lưu trữ này được dựng lại: không phải bởi một bộ văn hóa của chính phủ nào, không phải bởi một học bổng số hóa hào phóng của đại học, thậm chí không chủ yếu do chính Cornell chủ động vươn ra ngoài — mà bởi hai cá nhân bình thường, một người là cựu chiến binh từng được huy chương, từng ở tù cải tạo, sau trở thành kỹ sư IBM, người kia là cựu học sinh Petrus Ký trở thành kỹ sư điện ở Virginia, mỗi người độc lập quyết định rằng một tấm thẻ thư viện công cộng cùng thật nhiều kiên nhẫn là đủ công cụ cho công việc này.

Các cơ quan chỉ bảo tồn những gì nằm trong phạm vi trách nhiệm và chu kỳ ngân sách của họ. Trần Hoài Thư và Võ Phi Hùng bảo tồn những gì mà bản thân họ không thể chịu nổi khi thấy nó biến mất lần thứ hai — một tờ báo mà chính quyền từng tìm cách bịt miệng, một tạp chí không ai khác còn nhớ từng tồn tại, một nội san trường học mà nếu không có họ sẽ mãi mãi chỉ còn là vi phim và không gì khác. Cornell đã đào cái giếng. Nhưng phải cần đến hai độc giả bình thường, làm việc một mình và gần như không công, mới thực sự đi múc nước lên và mang về nhà cho tất cả mọi người khác.


Nguồn tham khảo

6.19.2026

Hành trình Tạp chí Văn Học


Văn Học số đầu tiên phát Hành vào tháng 11-1962

Văn Học được ra đời do một số người trẻ nhập cuộc. Họ là những học sinh, sinh viên của các trường Trung học, Đại học trên toàn quốc, và một số đang du học tại ngoại quốc nhưng đã cùng nhau chung một lý tưởng thực hiện một tờ tạp chí nghiên cứu và phê bình về văn hóa và chính trị để làm diễn đàn chung cho những thanh niên tự do tại Miền Nam. Số đầu tiên phát hành vào tháng 11-1962 trong thời Đệ nhất Cộng Hòa, và số cuối cùng là số Mùa Xuân 75, kéo dài được 13 năm - số tuổi xem như rất thọ so với các tạp chí văn học miền nam khác, ngoại trừ chỉ sau tạp chí Bách Khoa. Từ số 1 đến số 72 (1-5-67), khổ báo khổ lớn (15x25 cm). Từ số 73 đen số cuối cùng khổ giấy loại nhỏ (14x20 cm). Hai năm đầu, báo được phát hành mỗt tháng một kỳ, sau đó, báo đổi thành bán nguyệt san, phát hành mỗi nửa tháng một kỳ (kể từ số 21). Chủ nhiệm đứng tên là Phan Kim Thịnh, nhưng chủ bút thì thay đổi ba lần. Hai năm đầu (1961-1963), chủ bút là Dương Kiền, sau đó chủ bút là Phan Kim Thịnh. Tiếp đen vào năm 1966 là Nguyễn Đình Toàn (từ số 63 ngày 1-9-66 đến số 69 ngày 15-11-66). Sau đó vai trò chủ bút lại được giao lại cho Phan Kim Thịnh. Hai năm đầu (từ số 1 đến số 20), tạp chí nhắm vào thành phần thanh niên sinh viên như tiêu đề trên bìa của tạp chí: Nguyệt san văn hóa xã hội nghệ thuật. Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do. Mỗi số báo đều có mục liên quan đến sinh viên như Sinh Hoạt Sinh Viên do Trần văn Ngô, Phương Khanh, Hà Thanh phụ trách... Cọng thêm vào những bài viết liên quan đến những vấn đề của sinh viên như Vài tâm trạng nghịch thường của thanh niên trước những giá trị xã hội (Dương Nhất Nhân - số 1), Sinh Viên và trí thức lảnh đạo (Quan điểm, số 2), Chính sách sinh viên (Quan điểm, số 3), Cái nhìn của người sinh viên (Nguyễn Vũ, số 4),. Dân chủ hóa nền đại học (Quan điểm, số 5), Chỉ huy hay hướng dẫn (Quan điểm, số 6) hay mỗi số có mục Vấn Đề

của chúng ta ví dụ: Bài trả lời ông Nguyễn Đăng Thục, Khoa trưởng đại học văn khoa SG của Văn Học (số 4), Nhân các kỳ thi: Đặt lại vấn đề nguyên tắc (số 6) v.v...

Sau số 20, tiêu đề Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do được lấy ra, và nội dung Văn học có tinh cách khai phóng hơn, ảnh hưởng nhiều bởi thời sự. Sau 1965 chiến cuộc càng lúc càng leo thang, những người cọng tác viên trẻ phải vào quân ngũ, hay xa Saigon, để lại một khoảng trống lớn cho Văn Học. Cọng vào sắc luật 007 đã khiến chủ trương của Văn Học từ một tờ báo chính trị văn học đổi sang một tờ báo thuần túy văn học kể từ năm 1968.

Sau đây là những điểm nổi bật của tạp chí Văn Học : 1. Văn Học là tạp chí đầu tiên đăng truyện viết về cuộc chiến miền Nam ngay ở giai đoạn phát khởi (Năm 1963).

Đó là truyện ngắn Khu rừng Mùa Xuân của Vương Thanh và Lớp lớp phù sa của Vương Trân Nam (VH số 3 tháng 1 năm 1963). Vẫn là sự tàn bạo của chiến tranh. Và dạt dào nhân bản của người lính miền Nam:

Khà, khà, mày bị thương giống tao, nhưng mày thiếu may mắn hơn vì mày không có dao và súng. Tụi nó không đế lại cho mày một khấu súng nào à? Chắc tụi nó tưởng mày đã chết rồi, mà mày thì chết thật rồi, chỉ tao, còn một con dao, thế là tao sống ha... ha... cười lên mày, hỡi thằng bé không thù oán của ta.

Thức lật xác hắn nằm úp xuống để khỏi phải nhìn vào mắt hắn, nhưng chân tay anh đã run bắn và lạnh cóng. Anh gối đầu hắn lên ngực một tử thi khác cạnh một hồ nước và đè lên hắn, khóc. Bỗng Thức đứng dậy, lảo đảo, ngã dúi mấy lần. Anh hoa mắt, vết thương hả miệng lở loét như một nụ cười đẫm máu. Thức ngã quỵ xuống, chồng lên xác hắn, thân mật và bạn bè. (Khu rừng mùa xuân, VH số 3, trang 58)

2. Văn Học là tạp chí đăng những bài khảo luận về văn học miền Bắc đầy giá trị mà ít người biết.

Đó là là những bài khảo luận của Sông Thai như Đọc Vào Đời của HÀ MINH-TUẲN (Cơ sở xuất bản Văn Nghệ Hà NỘI 1963 (VH số 58 ngày 15-5-1966), “Nguyễn Tuân, sau ba mươi năm cầm bút...” (VH chủ đề Nguyễn Tuân), “Văn Cao, một nghệ sĩ tài hoa đang bị cuộc đời ruồng bỏ” (VH 115), “Lê Đạt, chiến sĩ dũng cảm của phong trào trăm hoa đua nở”(VH số 139), “Hoàng Cầm và sự nghiệp đấu tranh cho độc lập, tổ quốc và nhân phẩm con người" (VH số 141).

Bây giờ, được dịp đọc những bài viết của các nhà nhận định, nghiên cứu ở trong nước, càng thấy phục tác giả Sông Thai ở tài nhận xét và khả năng lý luận phê bình của ông. Đó là lý do tại sao chúng tôi chọn đăng lại bài viết về Nguyễn Tuân trong số này.

3. Văn Học qui tụ rất nhiều cây bút, đủ thành phần:

Ngày từ số 3, ta thấy những nhà văn như Võ Phiến, Dương Nghiễm Mâu. Vũ Bằng, Nhật Tiến, Nguyễn thị Vinh, Linh Bảo, Nguyễn Đình Toàn, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Đinh Hùng, Thanh Lãng, Nguyên Sa bắt đầu có mặt trên Văn Học cọng thêm vào lực lượng chủ chốt của Văn Học như Viêm Đẩu, Nguyễn Hữu Dung, Thế Viên, Hoàng Vũ. Lê Đôn Khoan, Vương trân Nam, Dương Cự, Dương Kiền, Vương Thanh, Nguyễn Đông Ngạc, Trần Triệu Luật, Lôi Tam... Một tên tuổi cọng tác rất tích cực và thường xuyên ngay từ số đầu chuyên về lĩnh vực dịch thuật cũng như lãnh vực nghiên cứu văn học là Bác sĩ Hoàng văn Đức, tức Hoàng Vũ Đức Vân.

Kể từ năm 1964 trở đi, độc giả thấy sự góp mặt tích cực của những cây bút trẻ miền Trung hay những người mới cọng tác với VH lần đầu. Số lượng này càng lúc càng đông đảo: Luân Hoán, Cao Thoại Châu, Thành Tôn, Hoàng Lộc, Chu Tân, Trần Dzạ Lữ, Đynh Hoàng Sa, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Nguyễn Nho Nhượng, Sâm Thương, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ), Lê Đình Phạm Phú, Thái Ngọc San, Phan Nhự Thức, Võ Quê, Khắc Minh, Trần Hoài Thư, Lê Nghiêm Vũ, Trần Hữu Nghiễm, Trần Xuân Kiêm, v.vv...

4. Văn Học là tạp chí thực hiện rất nhiều chủ đề giá trị.

Trước số 87 (1968), chủ đề của Văn Học thường mang tính cách thời sự ví dụ “Tưởng niệm văn hào Nhất Linh” (số 9 tháng 7-1963). “Những vấn đề của thời cuộc” (Số 10 tháng 8¬1963), “Quê hương còn đau khổ” (số 23, 1-9-64), “Chúng tôi tố cáo: Hội đồng Nhân Dân cứu quốc, ông là ai?” “ Đối thoại giữa người Việt và người Mỹ” (Số 25, tháng 10-64). “Chiến thuật biến hình của Cọng Sản” (sô 26), “Cách mạng và phản cách mạng” (số 29) “Thơ văn chiến tranh” (số 36 ngày 15-4¬65), “Nhận định thi ca” (Số 37 ngày 1-5-65), “Triết học - thi ca” (số 38 15-5-1965), “Đặt lại vấn đề thông tin văn hóa miền Nam”, “Tình yêu và văn chương” (số 40,15-6-65), “Quân đội và cách mạng” (số 43, l-8-65), ”Văn chương phản kháng” (số 46, ngày 15-9-65), “Cách mạng Việt Nam đi về đâu?”, “Sinh viên Huế lên tiếng” (số 49 ngày 1-11-65), “Cuộc đời và triết lí của Socrate” (số 54 ngày 15 tháng 2-66), “Tiếng nói da đen” (Số 56, 15-3-66), “Thi ca da đen” (1-4-66) v.v... Sau số 87, vì sự khắt khe của luật 007, nên Văn Học quay sang việc giới thiệu những chủ đề văn học, vô thưởng vô phạt. Ví dụ: Bưu hoa và nghệ thuật (số 135), Phú Đức: Tiểu thuyết gia miền Nam (số 136), Nhà văn và thuốc phiện (số 137), Những phụ nữ lưu danh trong Thi đàn Việt Nam (số 150), Tìm hiểu quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (số 151), Ái tình và thi sĩ (số 152), Khám phá danh tính dịch giả Chinh phụ ngâm (số 153), Thi nhân và mùa thu (số 154), Nghĩ về tiểu thuyết (số 155), Hiện tượng đọc truyện Quỳnh Dao (số 156) v.v... Văn học “đại thẳng mùa hè” 1966

Thình thoảng trên Văn Học có một mục dành cho sinh hoạt văn học nghệ thuật trong và ngoài nước. Mục này thoạt đầu được lấy tên là Sinh Hoạt Văn Hóa, do nhiều người viết, số 1 có Nguyễn Đức. số 2 có Nguyễn Cao Đàm. Kể từ số 33 trở đi. tên “Sinh Hoạt Văn Hóa”được đổi thành “Chân Trời Văn Học”, do một tập thể phụ trách ghi nhận “chuyện trong làng”, “chuyện ngoài làng” (Phương Khanh, Trần Liên Chi, Trần Hoàng Oanh), Tràng Thiên chỉ ghi những tin tức sinh hoạt ngoài nước... Kể từ số 54, độc giả thấy Duyên Anh xuất hiện trong mục Chân Trời

Văn Học. Ông xuất hiện với cây viết và lưỡi gươm, mà bài “Một tác phong văn nghệ” của ông là một trận bão dữ nhắm vào báo Văn nói chung, và Trần Phong Giao nói riêng. Kết quả là mục “quét đình làng” mà Văn lập ra có mặt trên hai năm phải gỡ bảng hiệu. (Mời đọc bài viết của Ba Cận thị trong số này).

Xin nhớ rằng Trần Phong Giao đã có mặt trên Văn Học ngay từ số đầu tiên, đã có một số bài dịch trên Văn Học.

Kết luân:

Văn Học, mặc dù là tờ báo được chủ trương bởi những người không chuyên nghiệp, nhưng nhờ sự nhiệt tình và dấn thân của tuổi trẻ, nên tạp chí đã vượt tất cả những trở ngại để biến thành một tạp chí có tầm cở của miền Nam. Để bạn đọc biết được nỗi thăng trầm của tờ báo, chúng tôi xin đăng lại lá thư của tòa soạn, viết vào năm 1974, kỷ niệm Văn Học bước vào năm thứ 12:

“Mười hai năm trước, chúng tôi còn là những học sinh, sinh viên của các trường Trung học, Đại học trên toàn quốc, và một số đang du học tại ngoại quốc nhưng đã cùng nhau chung một lý tưởng thực hiện một tờ tạp chí nghiên cứu và phê bình về văn hóa và chính trị để làm diễn đàn chung cho những thanh niên tự do tại Miền Nam. Hoài bão trên chúng tôi đã thực hiện được tờ Văn Học số 1 phát hành ngày 1 tháng 11 năm 1962 với hình thức trang nhã, và nội dung các sáng tác của các bạn trẻ đóng góp. Thêm vào còn có sự góp mặt của các vị giáo sư, nhà văn tên tuổi trong nước. Vì vậy khi Văn Học được phát hành đã được bạn đọc đón nhận một cách nồng nhiệt.

Với thành quả trên, hôm nay chúng tôi một lần nữa xin chân thành gửi đến bạn đọc và các thân hữu lời cảm tạ. Mười hai năm vừa qua, vì chính tình Việt Nam đã đổi khác. Bao biến cố dồn dập, báo chí nước nhà đã lâm vào tình trạng khủng hoảng, giấy in báo năm 1962 là 50 đồng một ram mà nay năm 1974 đã 800 đồng một ram, một tờ tạp chí khi trước bán 10 đồng một số tòa báo thâu về đã dư gỉa, nay phải báo 250 đồng một số mà tòa báo còn ngất ngư thiếu hụt không có tiền trả tiền bài cho anh chị em. Thêm vào hoàn cảnh kiềm duyệt, và sắc luật 007 đã làm một số văn nghệ sĩ gác bút, và nhiều tờ báo TỰ Ý ĐÌNH BẢN. Riêng chúng tôi vì được bạn đọc khuyến khích tinh thần nên đã cố gắng còn có mặt đến ngày hôm nay trong làng Báo miền Nam. Nhưng sự cố gắng này chúng tôi đã phải buộc lòng thay đổi nội dung từ chủ trương chính trị sang chủ trương văn liệu để tránh cho sự trở ngại xuất bản. Hơn nữa những bạn trẻ có nhiệt tình với thân phận đất nước những năm 60-68 đã góp mặt trong Văn Học, nay đã mỗi người một phương trời. Một số kẹt trong quân ngũ, một số ngã gục... Vì vậy thực hiện một nội dung Văn Học như những măm 62-68 ngày nay không thể làm được. Nhưng để khỏi phụ lòng bạn đọc đã và đang dành cho Văn Học từ mười hai năm qua, những tháng, năm vừa qua chúng tôi đã cố gắng thực hiện những chủ đề văn liệu hữu ích để gửi đến bạn đọc...”(Trích Văn Học (giai phẩm) chủ đề Nguyễn Du, năm 1974)

Thư Quán Bản Thảo số 72, Tháng 10-2016

6.15.2026

Trần Hoài Thư với Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quán


Nguyễn & bạn hữu

Trần Hoài Thư là nhà văn/nhà thơ được nhiều người biết đến và yêu mến. Một điều nữa khiến người ta càng thương quý và cảm phục anh hơn, đó là anh đã bỏ công sức và cả tiền bạc với tất cả tấm lòng ra phục hồi và lưu giữ văn học Miền Nam. Như một nhà báo đã nói: “Không ai yêu và quý văn học miền Nam Việt Nam bằng Trần Hoài Thư, anh là người sống ở hải ngoại, không có nhiều phương tiện, nhưng đã bỏ ra hàng ngàn giờ để nghiên cứu, sao chép, và đóng thành sách những tác phẩm không còn xuất bản nữa.” Mà đó lại là “một công trình”, chỉ để “tặng bạn hữu khắp nơi.”

Chính Trần Hoài Thư xác định: “Tạp chí Thư Quán Bản Thảo và hầu hết các tác phẩm do Thư Ấn Quán xuất bản đều được rao: “Chỉ tặng khi có yêu cầu”. Có nghĩa là chúng tôi chỉ gửi đến quí vị nào muốn đọc, chứ không tặng bừa bãi. Đổi lại, họ cho chúng tôi tấm lòng ưu ái ân cần. Chính cái tình giữa người đọc và tác giả mới quan trọng”.Có những người đọc ở Mỹ về nước, tìm đến tác giả mà thăm hỏi. Khi bão lụt, những người đọc hỏi thăm qua chúng tôi về tình trạng người viết trong nước ra sao. Họ giúp người cầm bút cũ miền Nam trong nước hiểu được là anh em không bị bỏ rơi, sáng tác của họ vẫn được đón nhận ở hải ngoại.

Trần Hoài Thư tâm sự: “Tôi kể ra đây một trường hợp để nói lên cái tình sâu đậm này. Một người cựu sĩ quan nhảy dù gởi thư đến chúng tôi cần tìm tác giả bài “Biên cương hành” là nhà thơ Phạm Ngọc Lư để tỏ lòng cám ơn, vì năm 1972, khi anh bị thương trên đồi Thường Đức ở Quảng Nam, trong lúc chờ trực thăng tới bốc, anh đã đọc bài thơ này trên Văn, và có ý nghĩ viết thư tỏ lòng cám ơn sau khi về hậu cứ vì bài thơ đã diễn tả đúng với tâm trạng anh lúc ấy. Giờ đây, được đọc lại trên TQBT, anh muốn nhờ chúng tôi tạo nhịp cầu. Và mới đây, hôm 11 tháng 3/2010, thêm một người đọc nữa hỏi thăm về nhà thơ Lê văn Trung. Anh ấy kể đã thuộc những câu thơ của Lê Văn Trung trong tù và mang trong tâm trí đến bây giờ”. Nói tóm lại, TQBT ít ra cũng là một mái nhà còn lại cho anh em cầm bút cũ tìm đến, nương tựa, gìn giữ nhau.

Về nguồn tài trợ, Trần Hoài Thư cho nhà báo biết: “Nguồn tài trợ ở đâu? Xin trả lời: người đọc. Họ tiếp trợ tạp chí qua tem thư hay những món quà lì xì vô điều kiện. Và nhất là chúng tôi có thể in số lượng tùy theo nhu cầu của người đọc từ phương pháp “Print-On-Demand” (In theo yêu cầu), cộng thêm cái nhà in mà tôi tự lập, từ những program mà tôi tự viết, với những sáng kiến mà tôi tự nghĩ hầu in ấn được mau chóng, tự động hóa. Đó là lối đánh giặc nhà nghèo anh à.

Nói thì nói thế, chúng tôi cũng có bán. Các sách bán là các bộ sách dày, in ấn rất tốn kém, lại đòi hỏi công sức rất nhiều như bộ Văn Miền Nam, bộ Thơ Miền Nam. À quên nữa, có một cuốn rao bán là “Tuyển truyện Y Uyên”, mục đích để lấy tiền làm quỹ cho việc tu bổ tượng đồng nhà văn Y Uyên. Khi số tiến ấn định đã đạt, chúng tôi ngưng bán ngay.”

Về cách thức làm việc, Trần Hoài Thư cho biết: “Tôi may mắn sống ‘gần’ thư viện đại học Cornell University, yêu sách, tự học đóng sách, và cứ thế mà tôi làm ngày này qua tháng nọ… Ban đầu cũng thất bại, không có tiền xuất bản, chỉ cặm cụi làm, nhờ có kinh nghiệm điện toán, nhưng chỉ để tặng bạn bè. Dần dần có người biết, đặt làm, và coi công việc như niềm vui sau khi về hưu.

Trần Hoài Thư nói là sống “gần,” nhưng thực ra lái xe từ Plainfield, New Jersey, nơi nhà văn Trần Hoài Thư cư ngụ, đến đại học Cornell University ở Ithaca, New York, cũng phải mất năm giờ đồng hồ.

Trần Hoài Thư kể: “Ban đầu, một người bạn, nhà thơ Thành Tôn, đề nghị tôi nên lập tài liệu sưu tầm văn học miền Nam Việt Nam. Tôi liền vào Internet tìm kiếm, thấy đại học Cornell University có một kho tàng sách in tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 rất đồ sộ. Thế là tôi rủ vợ lái xe lên đó, vào thư viện tìm tòi, quả đúng thật như vậy.”

“Mỗi lần đi phải thức dậy từ 3 giờ sáng, lái năm tiếng đồng hồ mới đến nơi, chiều lái năm tiếng về nhà, hai vợ chồng thay phiên nhau lái, cứ thế mà đi. Có ngày trời tuyết cũng đi, vì không thể ngồi nhà. Thấy kho sách ở Cornell không thể ngồi yên được,” ông kể tiếp.

Ban đầu, ông photocopy từng trang sách, 25 cent mỗi bản, mang về nhà đóng lại thành sách, riết rồi không chịu nổi, ông phải tìm cách khác.

Trần Hoài Thư kể: “Cứ tính đi, 25 cent mỗi tờ, tiền nào chịu cho thấu. Thế là tôi mua chiếc máy scan. Mỗi lần đến thư viện, tôi và vợ cùng nhau scan những trang sách, lưu vào máy điện toán mang về. Ban đầu đóng và cắt bằng tay, riết rồi chịu cũng không xuể. Thế là tôi tự chế máy đóng sách dã chiến. Dần dần rồi quen. Còn khâu đóng sách thì vẫn làm bằng tay.”

“Đối với tôi, những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất. Họ đâu có ở Sài Gòn, họ phải ra mặt trận, vừa đánh trận vừa viết, không có cơ hội để xuất bản. Thỉnh thoảng có một bài đăng báo là vui rồi. Rồi họ bị bức tử năm 1975, không ai đếm xỉa đến văn chương của họ. Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ. Và công việc này vẫn chưa kết thúc,” nhà văn Trần Hoài Thư tâm sự. “Có đêm ngủ không được vì sách chưa đóng xong, tôi lò mò xuống garage, đóng tiếp. Khi xong rồi, cầm cuốn sách trên tay, sung sướng làm sao.”

Ông nói tiếp: “Tự đánh máy, tự layout, tự khâu, rồi tự in bằng tay, chẳng dễ dàng gì. Có điều, đó là tấm lòng của mình, nên cố gắng làm. Nếu không thì ai làm đây? Khi làm, tôi cảm thấy mình có hai phần thưởng. Thứ nhất là an ủi tấm lòng và tinh thần của mình. Thứ hai là làm để cho con cháu mình sau này thấy văn chương miền Nam là vậy đó, tình người vậy đó, nhân bản vậy đó và cao cả vậy đó. Nếu mình không làm thì rất uổng.”

Những tài liệu trên là ghi theo Đỗ Dzũng, báo Người Việt. Gần đây, trong năm 2010, Trần Doãn Nho đã phỏng vấn Trần Hoài Thư về hai công trình song song - một là Thư Quán Bản Thảo (TQBT) và một là Thư Ấn Quán (TAQ). Đó là hai cách gọi của cùng một công việc hay là để chỉ hai việc khác nhau? Trần Hoài Thư trả lời: “Hai tên để chỉ hai công việc khác nhau. Chúng tôi có hai cơ sở.

Một là Thư Quán Bản Thảo, tạp chí văn học nghệ thuật. Và một là Thư Ấn Quán, cơ sở xuất bản. Thư Quán Bản Thảo là một tạp chí. Số 1 được thực hiện xong vào tháng 10-2000, dày khoảng 100 trang. Ban chủ trương gồm 4 người, mà ba người đều tuổi ngựa (sinh năm 1942). Khi báo chuẩn bị gửi thì biến cố 9/11 xảy ra. Tôi phải tháo bìa làm lại, thêm trang phụ bản về hai tòa nhà “TWIN TOWERS” đang ngùn ngụt trong lửa khói. Thư Quán Bản Thảo số ra mắt, như thế, mang một dấu ấn lịch sử rất đặc biệt. Từ 100 trang cho số 1,2, tăng lên 200 trang cho số 3, và số mới nhất (41): 255 trang!” Nhà phê bình Đặng Tiến cũng đã hơn một lần ca ngợi công lao và thiện chí của Trần Hoài Thư. Trần Yên Hòa viết:“Tôi đọc hết những tập do Thư Ấn Quán in và xuất bản, gởi tặng tôi, tôi mới thấy công trình của nhà văn Trần Hoài Thư thật đáng cảm phục và cả tấm lòng đối với văn học miền Nam trước bảy lăm. Những bạn văn thuở ấy, bây giờ sống ở trong nước vất vưởng như những chiếc bóng. Không người nào ngóc đầu lên nổi nếu không chấp nhận phục tùng chế độ. Một Trần Dzạ Lữ thuở nào với thơ ngợi ca màu tím Huế, cô gái Huế thì bây giờ suốt ngày đứng dang nắng giữ xe đạp ở chợ Trần Hữu Trang, Phú Nhuận. Một Hà Nguyên Dũng bịnh lên bịnh xuống, không làm được gì ra tiền. Cả gia đình chỉ còn mong chờ vào nồi xôi của người vợ, bán buổi sáng, ở trong hẻm một con đường nhỏ Ngã Tư Bảy Hiền. Một Đynh Trầm Ca gần ba mươi năm sống lang bạt ở Sài Gòn, cố tìm một mái ấm cho gia đình mà không tìm được, cuối cùng anh phải “quy cố hương”, về lại Vĩnh Điện nới có ngôi nhà của người mẹ để lại.

Cho nên Trần Hoài Thư, với tấm lòng muốn tìm lại những người bạn cùng thời xưa, một thời đi lính, một thời viết văn, làm thơ, in lại những tác phẩm của họ rồi tặng không cho thân hữu, bạn bè hay độc giả yêu thích văn chương, đó là một tấm lòng đáng trân quý biết là dường nào.”

Nói về niềm vui tinh thần có được, Trần Hoài Thư viết trong bài “10 ngọn nến cho ngày sinh nhật Thư Quán Bản Thảo”.

“Từ đó, cánh cửa như những trang sách tiếp tục mở ra. Mở ra cho những niềm vui nho nhỏ nở thêm hoa, thêm búp. Mở ra để chúng tôi biết rằng, hành trình mà chúng tôi đang theo đuổi là có bạn bè, độc giả luôn luôn có mặt bên cạnh. Từ đó trước lạ sau thành thân thiết. Có bạn đọc từ số 1 đến bây giờ. Có bạn mới nghe và gởi thư yêu cầu tặng sách. Có bạn tận Phan Rí Cửa ở Việt Nam. Có cháu ở Hà Nội xin Thư Quán Bản Thảo cung cấp về Thanh Tâm Tuyền. Có người sinh viên khoa Ngữ Văn ra trường hạng Ưu và gởi thư cám ơn Thư Quán Bản Thảo về những tài liệu “Di sản văn học miền Nam”. Có bạn ở Úc xin số chủ đề Y Uyên, Nguyễn Bắc Sơn. Có anh ở Cali hỏi Văn, Thời Tập. Có cô em hỏi Chàng Nho Sinh dưới Gốc Tùng của Lữ Kiều. Có bạn tình nguyện bỏ công đánh máy hay tình nguyện giúp sửa lỗi chính tả... Rồi những trang mạng như Talawas.org, Damau.org, vanchuongviet.org mong chúng tôi hợp tác về những chủ đề di sản văn học miền Nam... Chúng tôi cám ơn họ, và trong những lá thư, chúng tôi bảo là rất vui vì họ đã giúp chúng tôi khỏi... thất nghiệp.” Phạm Văn Nhàn cũng ghi nhận trong “Thư Quán Bản Thảo Mười Năm”:

“Mười năm với 44 số. TQBT đã làm được nhiều số chủ đề với những cây bút miền Nam, như: Tưởng nhớ Y Uyên (TQBT 18). Nguyễn Nghiệp Nhượng (TQBT 19). Võ Hồng (TQBT 21). Tưởng nhớ Vũ Hữu Định (TQBT 23). Hoài Khanh (TQBT 24). Nguyễn Nho Sa Mạc (TQBT 26). Tưởng nhớ Phan Nhự Thức (TQBT 27) Tưởng Niệm Từ Thế Mộng (TQBT 29). Nhà thơ Trần Dzạ Lữ (TQBT 32). Giới thiệu ba người viết cũ: Nguyễn Lệ Uyên, Hoàng Ngọc Châu, Nguyên Minh (TQBT 31). Một thời Ý Thức ( 33). Ngoài ra mỗi số chúng tôi cũng đưa ra những tiêu đề cho mỗi số và truy tầm những tư liệu rất có giá trị từ thư viện Cornell của Hoa Kỳ mà ít có những ai làm báo bên Mỹ bỏ công tìm kiếm. Như số chủ đề Trường Xưa (TQBT 35) tìm lại những Đặc San Gia Long. Chu văn An, Nhận Diện (Gò Công). Giai phẩm xuân Trương Vĩnh Ký. Én Trắng của trường Lê Văn Duyệt. Trưng Vương, Duy tân Phan Rang. Xuân Phan Thanh Giảng. Giai phẩm Quốc Gia Nghĩa Tử… tập chủ đề này đã đem lại nhiều thích thú cho đọc giả. Họ nhìn lại những kỷ niệm thời học trò.”

Nhìn lại chặng đường gian khó và công trình đồ sộ của Trần Hoài Thư, chúng ta chỉ còn biết cúi đầu cảm phục. Chúc Trần Hoài Thư “chân cứng đá mềm”.