Showing posts with label Trần Hoài Thư. Show all posts
Showing posts with label Trần Hoài Thư. Show all posts

6.15.2026

Trần Hoài Thư với Thư Quán Bản Thảo và Thư Ấn Quán


Nguyễn & bạn hữu

Trần Hoài Thư là nhà văn/nhà thơ được nhiều người biết đến và yêu mến. Một điều nữa khiến người ta càng thương quý và cảm phục anh hơn, đó là anh đã bỏ công sức và cả tiền bạc với tất cả tấm lòng ra phục hồi và lưu giữ văn học Miền Nam. Như một nhà báo đã nói: “Không ai yêu và quý văn học miền Nam Việt Nam bằng Trần Hoài Thư, anh là người sống ở hải ngoại, không có nhiều phương tiện, nhưng đã bỏ ra hàng ngàn giờ để nghiên cứu, sao chép, và đóng thành sách những tác phẩm không còn xuất bản nữa.” Mà đó lại là “một công trình”, chỉ để “tặng bạn hữu khắp nơi.”

Chính Trần Hoài Thư xác định: “Tạp chí Thư Quán Bản Thảo và hầu hết các tác phẩm do Thư Ấn Quán xuất bản đều được rao: “Chỉ tặng khi có yêu cầu”. Có nghĩa là chúng tôi chỉ gửi đến quí vị nào muốn đọc, chứ không tặng bừa bãi. Đổi lại, họ cho chúng tôi tấm lòng ưu ái ân cần. Chính cái tình giữa người đọc và tác giả mới quan trọng”.Có những người đọc ở Mỹ về nước, tìm đến tác giả mà thăm hỏi. Khi bão lụt, những người đọc hỏi thăm qua chúng tôi về tình trạng người viết trong nước ra sao. Họ giúp người cầm bút cũ miền Nam trong nước hiểu được là anh em không bị bỏ rơi, sáng tác của họ vẫn được đón nhận ở hải ngoại.

Trần Hoài Thư tâm sự: “Tôi kể ra đây một trường hợp để nói lên cái tình sâu đậm này. Một người cựu sĩ quan nhảy dù gởi thư đến chúng tôi cần tìm tác giả bài “Biên cương hành” là nhà thơ Phạm Ngọc Lư để tỏ lòng cám ơn, vì năm 1972, khi anh bị thương trên đồi Thường Đức ở Quảng Nam, trong lúc chờ trực thăng tới bốc, anh đã đọc bài thơ này trên Văn, và có ý nghĩ viết thư tỏ lòng cám ơn sau khi về hậu cứ vì bài thơ đã diễn tả đúng với tâm trạng anh lúc ấy. Giờ đây, được đọc lại trên TQBT, anh muốn nhờ chúng tôi tạo nhịp cầu. Và mới đây, hôm 11 tháng 3/2010, thêm một người đọc nữa hỏi thăm về nhà thơ Lê văn Trung. Anh ấy kể đã thuộc những câu thơ của Lê Văn Trung trong tù và mang trong tâm trí đến bây giờ”. Nói tóm lại, TQBT ít ra cũng là một mái nhà còn lại cho anh em cầm bút cũ tìm đến, nương tựa, gìn giữ nhau.

Về nguồn tài trợ, Trần Hoài Thư cho nhà báo biết: “Nguồn tài trợ ở đâu? Xin trả lời: người đọc. Họ tiếp trợ tạp chí qua tem thư hay những món quà lì xì vô điều kiện. Và nhất là chúng tôi có thể in số lượng tùy theo nhu cầu của người đọc từ phương pháp “Print-On-Demand” (In theo yêu cầu), cộng thêm cái nhà in mà tôi tự lập, từ những program mà tôi tự viết, với những sáng kiến mà tôi tự nghĩ hầu in ấn được mau chóng, tự động hóa. Đó là lối đánh giặc nhà nghèo anh à.

Nói thì nói thế, chúng tôi cũng có bán. Các sách bán là các bộ sách dày, in ấn rất tốn kém, lại đòi hỏi công sức rất nhiều như bộ Văn Miền Nam, bộ Thơ Miền Nam. À quên nữa, có một cuốn rao bán là “Tuyển truyện Y Uyên”, mục đích để lấy tiền làm quỹ cho việc tu bổ tượng đồng nhà văn Y Uyên. Khi số tiến ấn định đã đạt, chúng tôi ngưng bán ngay.”

Về cách thức làm việc, Trần Hoài Thư cho biết: “Tôi may mắn sống ‘gần’ thư viện đại học Cornell University, yêu sách, tự học đóng sách, và cứ thế mà tôi làm ngày này qua tháng nọ… Ban đầu cũng thất bại, không có tiền xuất bản, chỉ cặm cụi làm, nhờ có kinh nghiệm điện toán, nhưng chỉ để tặng bạn bè. Dần dần có người biết, đặt làm, và coi công việc như niềm vui sau khi về hưu.

Trần Hoài Thư nói là sống “gần,” nhưng thực ra lái xe từ Plainfield, New Jersey, nơi nhà văn Trần Hoài Thư cư ngụ, đến đại học Cornell University ở Ithaca, New York, cũng phải mất năm giờ đồng hồ.

Trần Hoài Thư kể: “Ban đầu, một người bạn, nhà thơ Thành Tôn, đề nghị tôi nên lập tài liệu sưu tầm văn học miền Nam Việt Nam. Tôi liền vào Internet tìm kiếm, thấy đại học Cornell University có một kho tàng sách in tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 rất đồ sộ. Thế là tôi rủ vợ lái xe lên đó, vào thư viện tìm tòi, quả đúng thật như vậy.”

“Mỗi lần đi phải thức dậy từ 3 giờ sáng, lái năm tiếng đồng hồ mới đến nơi, chiều lái năm tiếng về nhà, hai vợ chồng thay phiên nhau lái, cứ thế mà đi. Có ngày trời tuyết cũng đi, vì không thể ngồi nhà. Thấy kho sách ở Cornell không thể ngồi yên được,” ông kể tiếp.

Ban đầu, ông photocopy từng trang sách, 25 cent mỗi bản, mang về nhà đóng lại thành sách, riết rồi không chịu nổi, ông phải tìm cách khác.

Trần Hoài Thư kể: “Cứ tính đi, 25 cent mỗi tờ, tiền nào chịu cho thấu. Thế là tôi mua chiếc máy scan. Mỗi lần đến thư viện, tôi và vợ cùng nhau scan những trang sách, lưu vào máy điện toán mang về. Ban đầu đóng và cắt bằng tay, riết rồi chịu cũng không xuể. Thế là tôi tự chế máy đóng sách dã chiến. Dần dần rồi quen. Còn khâu đóng sách thì vẫn làm bằng tay.”

“Đối với tôi, những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất. Họ đâu có ở Sài Gòn, họ phải ra mặt trận, vừa đánh trận vừa viết, không có cơ hội để xuất bản. Thỉnh thoảng có một bài đăng báo là vui rồi. Rồi họ bị bức tử năm 1975, không ai đếm xỉa đến văn chương của họ. Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ. Và công việc này vẫn chưa kết thúc,” nhà văn Trần Hoài Thư tâm sự. “Có đêm ngủ không được vì sách chưa đóng xong, tôi lò mò xuống garage, đóng tiếp. Khi xong rồi, cầm cuốn sách trên tay, sung sướng làm sao.”

Ông nói tiếp: “Tự đánh máy, tự layout, tự khâu, rồi tự in bằng tay, chẳng dễ dàng gì. Có điều, đó là tấm lòng của mình, nên cố gắng làm. Nếu không thì ai làm đây? Khi làm, tôi cảm thấy mình có hai phần thưởng. Thứ nhất là an ủi tấm lòng và tinh thần của mình. Thứ hai là làm để cho con cháu mình sau này thấy văn chương miền Nam là vậy đó, tình người vậy đó, nhân bản vậy đó và cao cả vậy đó. Nếu mình không làm thì rất uổng.”

Những tài liệu trên là ghi theo Đỗ Dzũng, báo Người Việt. Gần đây, trong năm 2010, Trần Doãn Nho đã phỏng vấn Trần Hoài Thư về hai công trình song song - một là Thư Quán Bản Thảo (TQBT) và một là Thư Ấn Quán (TAQ). Đó là hai cách gọi của cùng một công việc hay là để chỉ hai việc khác nhau? Trần Hoài Thư trả lời: “Hai tên để chỉ hai công việc khác nhau. Chúng tôi có hai cơ sở.

Một là Thư Quán Bản Thảo, tạp chí văn học nghệ thuật. Và một là Thư Ấn Quán, cơ sở xuất bản. Thư Quán Bản Thảo là một tạp chí. Số 1 được thực hiện xong vào tháng 10-2000, dày khoảng 100 trang. Ban chủ trương gồm 4 người, mà ba người đều tuổi ngựa (sinh năm 1942). Khi báo chuẩn bị gửi thì biến cố 9/11 xảy ra. Tôi phải tháo bìa làm lại, thêm trang phụ bản về hai tòa nhà “TWIN TOWERS” đang ngùn ngụt trong lửa khói. Thư Quán Bản Thảo số ra mắt, như thế, mang một dấu ấn lịch sử rất đặc biệt. Từ 100 trang cho số 1,2, tăng lên 200 trang cho số 3, và số mới nhất (41): 255 trang!” Nhà phê bình Đặng Tiến cũng đã hơn một lần ca ngợi công lao và thiện chí của Trần Hoài Thư. Trần Yên Hòa viết:“Tôi đọc hết những tập do Thư Ấn Quán in và xuất bản, gởi tặng tôi, tôi mới thấy công trình của nhà văn Trần Hoài Thư thật đáng cảm phục và cả tấm lòng đối với văn học miền Nam trước bảy lăm. Những bạn văn thuở ấy, bây giờ sống ở trong nước vất vưởng như những chiếc bóng. Không người nào ngóc đầu lên nổi nếu không chấp nhận phục tùng chế độ. Một Trần Dzạ Lữ thuở nào với thơ ngợi ca màu tím Huế, cô gái Huế thì bây giờ suốt ngày đứng dang nắng giữ xe đạp ở chợ Trần Hữu Trang, Phú Nhuận. Một Hà Nguyên Dũng bịnh lên bịnh xuống, không làm được gì ra tiền. Cả gia đình chỉ còn mong chờ vào nồi xôi của người vợ, bán buổi sáng, ở trong hẻm một con đường nhỏ Ngã Tư Bảy Hiền. Một Đynh Trầm Ca gần ba mươi năm sống lang bạt ở Sài Gòn, cố tìm một mái ấm cho gia đình mà không tìm được, cuối cùng anh phải “quy cố hương”, về lại Vĩnh Điện nới có ngôi nhà của người mẹ để lại.

Cho nên Trần Hoài Thư, với tấm lòng muốn tìm lại những người bạn cùng thời xưa, một thời đi lính, một thời viết văn, làm thơ, in lại những tác phẩm của họ rồi tặng không cho thân hữu, bạn bè hay độc giả yêu thích văn chương, đó là một tấm lòng đáng trân quý biết là dường nào.”

Nói về niềm vui tinh thần có được, Trần Hoài Thư viết trong bài “10 ngọn nến cho ngày sinh nhật Thư Quán Bản Thảo”.

“Từ đó, cánh cửa như những trang sách tiếp tục mở ra. Mở ra cho những niềm vui nho nhỏ nở thêm hoa, thêm búp. Mở ra để chúng tôi biết rằng, hành trình mà chúng tôi đang theo đuổi là có bạn bè, độc giả luôn luôn có mặt bên cạnh. Từ đó trước lạ sau thành thân thiết. Có bạn đọc từ số 1 đến bây giờ. Có bạn mới nghe và gởi thư yêu cầu tặng sách. Có bạn tận Phan Rí Cửa ở Việt Nam. Có cháu ở Hà Nội xin Thư Quán Bản Thảo cung cấp về Thanh Tâm Tuyền. Có người sinh viên khoa Ngữ Văn ra trường hạng Ưu và gởi thư cám ơn Thư Quán Bản Thảo về những tài liệu “Di sản văn học miền Nam”. Có bạn ở Úc xin số chủ đề Y Uyên, Nguyễn Bắc Sơn. Có anh ở Cali hỏi Văn, Thời Tập. Có cô em hỏi Chàng Nho Sinh dưới Gốc Tùng của Lữ Kiều. Có bạn tình nguyện bỏ công đánh máy hay tình nguyện giúp sửa lỗi chính tả... Rồi những trang mạng như Talawas.org, Damau.org, vanchuongviet.org mong chúng tôi hợp tác về những chủ đề di sản văn học miền Nam... Chúng tôi cám ơn họ, và trong những lá thư, chúng tôi bảo là rất vui vì họ đã giúp chúng tôi khỏi... thất nghiệp.” Phạm Văn Nhàn cũng ghi nhận trong “Thư Quán Bản Thảo Mười Năm”:

“Mười năm với 44 số. TQBT đã làm được nhiều số chủ đề với những cây bút miền Nam, như: Tưởng nhớ Y Uyên (TQBT 18). Nguyễn Nghiệp Nhượng (TQBT 19). Võ Hồng (TQBT 21). Tưởng nhớ Vũ Hữu Định (TQBT 23). Hoài Khanh (TQBT 24). Nguyễn Nho Sa Mạc (TQBT 26). Tưởng nhớ Phan Nhự Thức (TQBT 27) Tưởng Niệm Từ Thế Mộng (TQBT 29). Nhà thơ Trần Dzạ Lữ (TQBT 32). Giới thiệu ba người viết cũ: Nguyễn Lệ Uyên, Hoàng Ngọc Châu, Nguyên Minh (TQBT 31). Một thời Ý Thức ( 33). Ngoài ra mỗi số chúng tôi cũng đưa ra những tiêu đề cho mỗi số và truy tầm những tư liệu rất có giá trị từ thư viện Cornell của Hoa Kỳ mà ít có những ai làm báo bên Mỹ bỏ công tìm kiếm. Như số chủ đề Trường Xưa (TQBT 35) tìm lại những Đặc San Gia Long. Chu văn An, Nhận Diện (Gò Công). Giai phẩm xuân Trương Vĩnh Ký. Én Trắng của trường Lê Văn Duyệt. Trưng Vương, Duy tân Phan Rang. Xuân Phan Thanh Giảng. Giai phẩm Quốc Gia Nghĩa Tử… tập chủ đề này đã đem lại nhiều thích thú cho đọc giả. Họ nhìn lại những kỷ niệm thời học trò.”

Nhìn lại chặng đường gian khó và công trình đồ sộ của Trần Hoài Thư, chúng ta chỉ còn biết cúi đầu cảm phục. Chúc Trần Hoài Thư “chân cứng đá mềm”.