3.22.2026

Bờ Sông

 Nguyễn Ðình Toàn


....
Chúng tôi xuống cầu tàu, thả bộ đi chơi.
Ðêm đầy hơi mát, nước sông đen rào rạt đập vào bờ. Tiếng sóng reo, tiếng gió thổi từ những vùng u tối bên kia sông tràn về, đem theo một chút gì đó, giống như một tiếng kêu gọi âm thầm, không thành lời, nhưng đã làm réo sôi ngọn nước, làm chính tôi động lòng.
Tôi nhận ra trong lòng mình một tình cảm giống như sự hối tiếc. Hối tiếc cái gì đây? Tôi cũng không biết nữa. Nó chẳng khác cái cánh đồng rộng mênh mông bên kia sông, tôi vừa trông thấy rõ ràng lại vừa không phân biệt được một hình ảnh nào. Giáp ngay với mép nước, những căn nhà gỗ thấp được cất bám uốn khúc theo bờ sông, một vài căn còn thắp đèn sáng, những đốm sáng lẻ loi làm tăng thêm sự u tịch. Tôi để ý nhìn nhưng không thấy một bóng người nào bên trong các căn nhà, đằng sau những khung cửa mở rộng. Chính ở đằng sau những khung cửa ấy, đứng ở chỗ chúng tôi đang đứng đây, người ta có thể nhìn thấy những ngọn đèn cháy sáng.
Ðời sống đôi khi có cái dáng vẻ của những ngọn đèn cháy trong không như vậy.
Nhưng dĩ nhiên, đâu đó ở đằng sau những ngọn đèn, mé bên phải, mé bên trái, phải có một sinh hoạt nào đó. Ðôi vợ chồng lam lũ, mấy đứa trẻ thức học bài, đùa nghịch, những đứa trẻ chưa bao giờ được đến trường học, nhưng cha mẹ của chúng vẫn yên tâm tiếp tục các cuộc vui thú trong lặng lẽ, cách giải trí duy nhất của họ, và những đứa trẻ tiếp tục ra đời. Cũng có thể họ đã ngủ, cố ngủ, xây lưng lại với nhau mà ngủ, để quên nỗi sợ hãi đã không nuôi nổi con, khỏi phải nghĩ tới cái ngày mai mệt nhọc sắp tới, đêm chẳng còn bao lâu.
Kế cận những căn nhà lá thấp đó là một cơ xưởng hàng hải. Luôn luôn có dị p đi qua đây, tôi đều nhìn thấy ở trong cái căn nhà lợp tôn cao ngất đó, lóe lên cái ánh sáng chói của những mỏ hàn xì, nghe thấy những tiếng gõ, đập nặng nề, vang vọng qua hẳn một mặt sông sang tận bờ bên này, những chuyến xuồng máy chở đầy hành khách qua lại trên khúc sông, khúc sông một ngày đổi mấy con nước, những con nước màu xanh rêu hay đục ngầu phù sa.
Cái cơ xưởng ấy bây giờ cũng yên ắng dưới mấy ngọn đèn.
Một chiếc ghe máy nhỏ, nổ lạch bạch chạy ngược về phía bến tàu Khánh Hội. Mặt nước tối đen, nhưng những đêm trăng sáng, những lúc trăng không bị mây che khuất, ánh sáng rớt trên đầu những lớp sóng xôn xao, làm cho nhiều quãng giống như những tấm gương lớn bị lật ngửa.
Chúng tôi đi lần đến một chỗ người ta bầy những chiếc bàn nhỏ và những chiếc ghế tựa đan bằng những sợi nylon, bán đồ giả khát và những đồ ăn nhậu vặt vãnh cho các người đến hóng mát.
Nhiên nói:
- Ngồi đây chơi một lát.
Chúng tôi cùng ngồi xuống. Nhiên gọi cho mỗi người một chai coca.
Trong chốc lát tôi cảm thấy lạnh vì những cơn gió không ngớt lùa từ dưới mặt sông lên.
Tôi hỏi Thảo:
- Lạnh không?
Con nhỏ cười nìn tôi, gật đầu. Nó thu hai bàn tay ép trong hai đầu gối khép lại.
Ðêm ở đây chưa có vẻ gì là khuya cả.
Mọi người ngồi chơi, ăn uống, trò chuyện, dường không để ý tới thời gian.
Ðằng sau chúng tôi, khách sạn Hoàn Mỹ với những tầng lầu cao, xây cất chắc chắn, trông như một tòa lâu đài cổ. Gần như mọi căn phòng cửa sổ đều còn mở và sáng đèn.
Thành phố quả thật còn có một đơì sống ban đêm nữa.
Tôi chưa có dịp nào tham dự vào cái đời sống ấy.
Thảo cũng đang quay lại, ngó lên những tần lầu thắp đèn sáng của các khách sạn.
Thảo nói:
- Cái nhà này cũ, nhưng đẹp.
Tôi muốn nghe con nhỏ nói về vẻ đẹp của cái khách sạn này. Ở tầng trệt của khách sạn người ta kê những dãy bàn ghế ra tận vỉa hè và được che khuất bớt bằng một dãy những chậu cây cảnh.
Khách hàng phần lớn là người ngoại quốc ngồi uống nước, trò chuyện.
Thảo nói:
- Cái vẻ dày và nặng ở phía ngoài của nó, nhìn vào, người ta có thể thấy ngay tuổi của cái kh1ach sạn này. Nó phải có ít nhất một trăm năm quá khứ. Một “bà đầm” già.
Con nhỏ làm tôi bật cười.
Một bà đầm già?
Tôi không nhìn thấy dáng vẻ ấy trên cái khách sạn. Tôi thấy nó giống một con tàu với những ca-bin thắp đèn sáng.
Tuy nhiên những con đường chạy dài chung quanh, xe cộ qua lại, khiến người ta không thể đẩy ưởng tượng đi xa hơn.
Khách sạn với cái vẻ nặng nề chắc chắn của của nó, tưởng chừng như đã lún sâu thêm một chút.
Nghĩ tới một khách sạn quá lâu đời, một trăm năm, hơn một trăm năm làm quán trọ, bao nhiêu người đã qua lại trú ngụ, tôi thấy rởn người vì sợ.
Ðó là một thứ nhà không bao giờ có thể trở thành một căn nhà được.
Hãy tưởng tượng một cuộc trò chuyện với những xó góc, bàn ghế, với những tấm gương trong các căn phòng ấy, có lẽ người ta sẽ được biết thêm nhiều chuyện lạ lùng lắm.
Không biết tôi đã nghe ai nói, đọc trong một cuốn sách nào đó, một nhân vật đã cho rằng, y thích cái không khí tạm bợ của các khách san, đó mới đúng là chỗ ở của một người. Một gia đình, một căn nhà, đó là một cái gì đó có vẻ bền vững, lâu dài, phản lại cái đời sống giới hạn, và luôn luôn thúc đẩy y có ý muốn tự sát.
Tôi tin cái kẻ nghĩ như thế, y đã nghĩ một cách rất thành thật.
Ðó cũng là một thứ thành thật người ta chỉ có thể kiếm thấy trong những thành phố. Một kẻ yêu đời quá đáng hay bệnh hoạn.
Quả thật những người như thế cần một chỗ, một căn phòng trong khách sạn.
Khách sạn được lập ra có lẽ cũng vì những người như thế.
Một cách người ta dàn xếp để sống nốt đời mình.
Chính tôi cũng đã có lúc mơ tưởng sẽ tìm thấy những phút nghỉ ngơi, một chỗ trốn né đời sống, trong những căn phòng như vậy.
Mai mốt đây, dù muốn hay không, trong mọi ý nghĩa về một chỗ ở tạm bợ như vậy, tôi vẫn phải tới ở.
Cách tập sống một mình tốt nhất, không còn chốn nào tốt hơn là một nơi toàn những phòng cho mướn.
Tôi cũng nghe nhiều người, từng sống lâu ở ngoại quốc, trở về, nói rằng, khách sạn ở những nơi đó khác hẳn ở đây.
Tôi không tin nhu vậy.
Người ta đã ngụy trang khéo léo vậy thôi.
Vả lại, nếu khách sạn có thể biến thành một căn nhà, nó sẽ không còn lý do tồn tại nữa.
Cái xứ sở mà tôi sắp tới, tôi đã đọc được nhiều điều hay trong sách vở. Nhưng những người đã từ đó trở về, nói về nó làm tôi nản chí.
Họ cho tôi cảm tưởng, tất cả những gì tôi biết đã hoàn toàn chìm mất vào quá khứ.
Không còn samurai.
Bây giờ là thời đại điện tử.
Tôi đã đọc được của xứ sở ây những câu thơ thề nào nhỉ?
Nhà của tôi đã cháy
Không còn gì ngăn cản tôi nhìn trăng sáng
Ba mươi tuổi
Người ta thấy cuộc đời chua chát
Như trái cây chưa chín ngày hè
Tất cả những vẻ đẹp ấy, theo những người đã sống trong cái rừng hoa anh đào đó trở về, người ta có tiếc, nhưng người ta cũng sẵn sàng đi xe điện cán lên.
Cuộc thất trận chua cay đã dạy cho người bản xứ sự nóng nẩy khôi phục sức mạnh, chỉ cần có sức mạnh, mọi cái khác đều vô ích.
Ðó là cái nhìn của một người ngoại quốc về nước Nhật.
Người Nhật có nghĩ như vậy không?
Nhận xét của một người ngoại cuộc, chừng cũng có phần đúng. Nhưng chắc cũng đúng như nói Việt Nam cần hòa bình.
Mọi sự không thể giản dị như vậy.
Trong một cuốn phim quay lại cảnh thế vận hội được tổ chức tại Nhật, tôi hết sức xúc động khi thấy người lực sĩ châm lửa thiêng cho ngay khai mạc, được giới thiệu như một người đã được sinh ra trong ngày và trong cái thành phố đã nhận lãnh trái bom nguyên tử đầu tiên của nhân loại, nay đã trưởng thành.
Quả thật người ta khó có thể hiểu hết ý người Nhật khi họ làm việc này.
Tôi nghe sóng sông vỗ vào bờ, trong chốc lát, tưởng như nghe thấy lòng mình thổn thức.
Thành phố, với những nhà cửa, đường sá xa lạ, những người tôi chưa hề gặp qua lại, dòng sông cũ kỹ trôi miệt mài, những chiếc tàu thẻ neo trên bến, bỗng trở nên có vẻ gì thân yêu đối với tôi.
Thân yêu bởi vì, đó là những nơi, những người, tới đó thì đi qua, những người dù tôi không quen, nhưng cũng chỉ quanh quất đâu đây, tất cả chỉ thực sự trở nên xa lạ khi tôi đi khỏi chốn này...