3.22.2026

Bài hịch "Tự Do"

Nguyễn Ðình Toàn

Tháng 8/2005 vừa qua, nhà thơ Nguyễn Hữu Nhật đã từ Na Uy bay qua Cali, để giới thiệu mấy tác phẩm của ông và của nhà văn Nguyễn Thị Vinh, do nhà xuất bản Anh Em ấn hành, gồm có các cuốn: Cỏ Bồng, Cuộc Chiến [Thơ Nguyễn Hữu Nhật], Les Chants Divins [Diệu Ca và Ai Ca, do Nguyễn Hữu Nhật chuyển sang Việt ngữ], Cỏ Bồng Lìa Gốc [Tạp Văn Nguyễn Thị Vinh]. Buổi ra mắt sách được tổ chức tại trụ sở Nhật Báo Người Việt [Tiểu Sài Gòn].

Khách tới dự các buổi ra mắt như thế tùy thuộc hai yếu tố: Uy tín của tác giả và sự hỗ trợ quảng bá của các cơ quan truyền thông.

Thường, những buổi ra mắt sách, nhất là các thi phẩm, không thể có được sức hấp dẫn của những cuộc trình diễn nhạc.

Thơ, tự nó, dường như đã chứa sẵn sự bơ vơ.

Thi sĩ cũng vậy.

Nguyễn Hữu Nhật, đội chiếc mũ casquette, không biết có phải đó là một cách trang điểm, hay thật sự chỉ để che mái tóc đã bạc, không những bạc còn rụng mất khá nhiều nữa.

Ông ngồi ký tặng sách cho người mua sách, cho bằng hữu, vốn gốc là người thích vẽ tranh [Ðộng Ðình Hồ] trước khi làm thơ, nên có thể nói, Nguyễn Hữu Nhật đã “vẽ những lời đề tặng và cả chữ ký” nữa. Ông nhận những đồng tiền của người mua sách, để trên bàn, bỏ vào túi, cử chỉ vụng về, hai mắt lim dim, nói năng nhỏ nhẹ, một nửa ngây thơ, một nửa tinh quái.

Một vài người bạn trẻ, chắc là những người ông đã làm quen từ khi ra khỏi nước, nhắc lại với ông, để ai lên giới thiệu ông, nói gì thì nói, nhưng người nói cuối trong buổi họp mặt này, phải là Nguyễn Hữu Nhật. Những người đó có vẻ gì đó thật tình khi yêu cầu như vậy. Họ đã được nghe Nguyễn Hữu Nhật nói chuyện ở đâu đó đôi ba lần rồi.

Có bao nhiêu người yêu thơ Nguyễn Hữu Nhật?

Không rõ.

Nhưng rõ ràng số người thích nghe Nguyễn Hữu Nhật nói về thơ rất nhiều.

Cứ thấy mấy bạn trẻ quanh quẩn bên Nguyễn Hữu Nhật tại hội trường báo Người Việt hôm ấy “thúc” ông ra nói chuyện, đủ biết.

Nhớ lại những ngày, “cùng một lứa” ở tù ra, gặp lại nhau tại Sài Gòn, tình cờ được nghe Nguyễn Hữu Nhật đọc thơ sáng tác trong tù và nghe TQL hát những ca khúc viết trước và sau biến cố 75, hát những bài thơ Nguyễn Hữu Nhật vừa đọc cho nghe hôm trước, hôm sau TQL đã phổ thành nhạc, trong đó, những bài như “Ðàn Trong Tay Người” hay “Áo Dài” chẳng hạn, phải được xếp vào hàng những “tác phẩm” quý của âm nhạc Việt Nam.

Dạo ấy, đám ngụy, người làm thơ, viết nhạc, người hát, người nghe, nhớ được gì của nhau thì nhớ, không ai dám viết ra giấy, vì bị công an khám nhà thường xuyên. Bất cứ cái gì “viết ra trên giấy đều là những chứng cớ.” Chứng cớ thì phải tra hỏi. Nếu đó lại dây dưa ít nhiều với những gì gọi là “sáng tác” thì mười phần hết chín đi tù rồi, bỏ vào tù điều tra cho tiện.

Xin chép lại theo trí nhớ ít câu trong bài “Ðàn Trong Tay Người”, vì cũng vào cái dạo ấy, người ta gặp được nhau lúc nào biết lúc bấy giờ thôi, ngày mai có thể kẻ vượt biên, người bị bắt, lưu lạc, chết... không gặp lại nữa.

Trong tay người hành khất mù

Tiếng đàn nung lửa ngục tù tối tăm

Ðàn buồn, đàn réo đầy vơi,

Búng giây nhỏ lệ, dâng đời thanh tân

Tiếng đàn trong tay ai

Mà tiếng đàn bật máu

Tiếng đàn thương bơ vơ

Thúc giục nỗi mong chờ

Tiếng đàn nuôi hương xưa

Làm nhớ mùi gỗ quý

Tiếng đàn thương đêm đen

Sao nghe lạnh đời thêm

Trong tay người hành khất mù

Tiếng đàn thôi ngủ mùa thu quên về

Cung đàn dạo khúc tử sinh

Búng dây oan nghiệt lặng thinh tiếng cười

Trong ngần ấy câu thơ, bao nhiêu câu thật sự là của Nguyễn Hữu Nhật, bao nhiêu câu [chữ] do TQL bịa ra cho hợp với nhạc, bao nhiêu cái sai vì bị nhớ bậy bạ, bây giờ đã có Nguyễn Hữu Nhật hiệu đính, chắc chắn sẽ có một bản đúng.

Bài hát này, nghe nói, Bùi Giáng có được nghe và ông tỏ ra rất thích, nhất là câu “Tiếng đàn thôi ngủ, mùa thu quên về”.

Cũng như “Ðàn Trong Tay Người” bài “Áo Dài” đến với mọi người như một ca khúc chứ không phải bài thơ. Ai nhớ sai, nhớ đúng cũng qua bài hát đó, dù cùng biết nó được phổ từ một bài thơ của Nguyễn Hữu Nhật.

Có lẽ cũng nên nói thêm một chi tiết có liên quan tới ca khúc này.

Ðó là một bài viết của nhà văn Hoàng Hải Thủy, kể rằng, xưa, ông có mua tặng vợ một xấp vải để may áo cưới. Nhưng đến ngày cưới lại không dùng tới, bà đã đem cất làm kỷ niệm. Sau 30 tháng 4/1975, vì cần tiền, hai vợ chồng đã phải mang xấp vải ra chợ trời bán.

Mấy câu cuối của bài hát, có lẽ TQL lấy ý từ cảnh bán áo đó thêm vào, chứ không có trong bài thơ của Nguyễn Hữu Nhật:

Ngày nào mới mặc áo dài

Em tay run quá chẳng cài nổi khuy

Chuyện giờ kể có khác đi

Tay run anh cởi hết khuy em cài

Ngày nào mới thở hương người

Em say ngây ngất rụng mười ngón tay

Chuyện giờ kể có khác đi

Tay em buông thõng mỗi khi nhớ người

Ngày nao anh cũng làm thơ

Dù em là chiếc gương mờ đã lâu

Trước khi đi ngủ, chải đầu

Ðể trong giấc ngủ gặp nhau [cho] “đàng hoàng”

Ngày nào mắt ngọc xanh tình

Ðêm mưa anh nhớ dịu dàng mắt em

Chuyện giờ kể có khác đi

My xanh mắt ngọc bút chì tô quanh

Ngày nào mới mặc áo dài

Soi gương trông bóng tự cài lấy khuy

Chuyện giờ kể có khác đi

Không đem bán áo lấy gì nuôi nhau

Kể từ sau 30/4/1975, bị bắt, được tha ra, bị bắt trở lại, lại được tha ra, chúng tôi đã trải qua những ngày thực sự đen tối, “không biết sống để làm gì và làm gì để sống”. Những buổi lén lút gặp nhau, nghe nhau như thế, là một niềm an ủi lớn. Nó chứng tỏ một điều, sự sống không dễ gì bị hủy diệt, dù người ta có cố tình làm việc đó. Cây cành bị chặt gẫy, nhưng mầm, nhánh vẫn cứ đâm ra.

Nguyễn Hữu Nhật có một câu thơ, không biết ở trong bài nào, đôi ba lần ông đã đọc cho chúng tôi nghe, nói về nhân cách một người tù, những người chung quanh chỉ cần “ngửng nhìn anh” để “thấy mình đỡ thấp”.

Thơ Nguyễn Hữu Nhật, nhạc Trần Quang Lộc đã cho tôi cảm tưởng ấy.

Không biết từ ngày ra được nước ngoài này, ông đã bao lần đọc nó cho mọi người nghe, đọc trong trường hợp nào, hay cho in trong tuyển tập nào. Hai hai lần được gặp lại ông, không thấy ông nhắc tới. Hai tập thơ được ông ký tặng, sự thật chỉ có một, tập thứ hai bị xếp lộn bìa. Ðọc không thấy có bài “Người Tù Già”. Thành thử không biết Nguyễn Hữu Nhật có cho in trong tập nào khác không. Hỏi, không ai biết.

Nói đến thơ Nguyễn Hữu Nhật mà không nhắc đến bài “Người Tù Già”, thật vô lý. Vì, có thể coi như đây là một trong những bài thơ hay nhất của chúng ta, kể từ sau 30 tháng 4/1975.

Xin ghi lại sau đây, vì chỉ được nghe Nguyễn Hữu Nhật đọc [nhiều lần] không có bản in hay chữ viết, chắp nối lại theo trí nhớ, không thể không chỗ sai, thiếu sót, [cũng không hiểu tại sao nhớ được, trong khi chính những cái mình làm ra mình cũng quên]. Âu đây cũng là một cách nhắc Nguyễn Hữu Nhật sửa chữa lại, phổ biến lại. Tôi mang ơn bài thơ [hay mắc nợ bài thơ] nên phải viết lại ra đây để đền ơn [trả nợ]:

NGƯỜI TÙ GIÀ KỂ CHUYỆN MÌNH

Anh chị em ơi

Năm nay tôi gần bảy chục

Bị tù vì yêu tự do

Tự do

Tự do

Tự do

Nhắc mãi trở thành nhàm chán

Nhưng lòng vẫn muốn hô to

Tự do

Tự do

Tự do

Anh chị em ơi

Ðừng hỏi vì sao tôi gầy

Ðôi mắt vẫn là cửa sổ

Mở ra một hồn đắng cay

Cơm ăn mỗi bữa đếm từng hạt

Mộng lớn đêm nào cũng gối tay

Không có ăn thì người ta ngắc ngoải

Không có không khí người ta chết ngay

Không có tự do người ta vẫn sống

Nhưng đời ngựa kéo trâu cầy

Tôi không phải là con tắc kè đổi sắc

Ở gần cây lá thì xanh

Bò trên mặt đất lại đỏ

Giống y như cỏ đuôi chó

Gió chiều nào ngả theo chiều ấy

Còng lưng uốn lưỡi

Sao cho người gật đầu khen ngoan

Tôi cũng chẳng phải là giò lan

Chịu dãi dầu gió sương để thơm ngát hương

Tôi chỉ là người thích ăn cơm

Tôi chỉ là người thích mặc áo

Cơm áo do mình làm ra

Không quỳ không lạy người ta

Ðể áo cơm mình no ấm

Hạnh phúc không phải là người

Cúi hôn chân người

Ðể được một chút cơm thừa canh cặn

Tôi chỉ muốn làm một ông già

Muốn ho lúc nào thì ho

Tôi không muốn được ăn no

Mà thấy người ta mình chẳng dám ho

Tự do

Tự do

Tự do

Anh chị em ơi

Không hiểu vì sao

Tự nhiên tôi muốn sống

Sống cho ra sống

Còn bây giờ chỉ là tồn tại

Sống mà như chết chưa chôn mỗi ngày

Tuổi già sức yếu

Run chân tay

Ði đứng không ngay

Nhưng tôi hiểu thế nào là sự thẳng thắn

Tự do

Tự do

Tự do

Cái quyền không ai có quyền chiếm đoạt

Cần hơn cả hơi thở

Cần hơn cả hột cơm

Nếu không

Tôi chỉ là con vật

Anh chị em ơi

Tôi xin nói thật

Ðâu phải vì già quá mà tôi không sợ chết

Bất cần đời

Tôi thương nhà tôi lắm

Nước mắt chỉ muốn rơi

Tôi yêu căn phòng

Ở đấy

Nhà tôi thường nằm khóc

Rồi những tiếng khóc khác vang lên

Tiếng khóc giận hờn của người đàn bà

Ðành yên lặng

Nhường chỗ cho con cháu khóc

Khóc chào đời

Khóc nhớ người

Thương Chúa bị đóng đinh vì người

Anh chị em ơi

Tôi không đủ chữ nghĩa

Nên thư nào gửi nhà tôi cũng ngắn

Mình cứ tin tôi

Nơi nào có thể đứng được thì không ngồi

Nơi nào có thể đi được thì không đứng

Hãy đứng dậy anh chị em ơi

Làm việc tốt không bao giờ muộn cả

Hãy bay đi về phía mặt trời

Bằng trái tim ta rực lửa

Vấn đề không phải là can đảm

Mà vì mục đích làm cho ta can đảm

Nếu mục đích không xứng đáng

Thì sự can đảm chỉ làm cho người ta kinh ngạc

Thay vì khâm phục

Anh chị em ơi

Làm sao chúng ta có thể trả lời cho con cháu

Ngày mai

Về một câu hỏi rất giản dị

Sống để làm gì?

Nếu chính chúng ta hôm nay

Không biết làm gì để sống

Tôi với họ như hai kẻ đấu súng

Sau khi bắn trượt

Tôi không thể quay lại van xin kẻ thù

Cái đất nước mà người ta không hiểu

Cứ cúi đầu nhắm mắt tuân theo

Là đất nước tồi

Ðất nước chúng ta vốn là một chiếc nôi

Nơi mà mọi lòng hòa thuận đều vui sống

Tại sao hôm nay chúng ta không được sống

Khóc hay cười

Câm hay nói

Ðều theo lệnh một người

Anh chị em ơi

Im lặng lâu dần hóa ra ngu

Gần bảy chục năm nay tôi đã im lặng

Tưởng im lặng là khinh bỉ

Có biết đâu vì sợ hãi nên câm

Vì cầu an tôi đã xây lưng lại sự thật

Làm ra vẻ đạo đức khinh đời

Giữa lúc người ta cố tình gieo sương mù vào

Trí tuệ con người

Ðang bị cảnh túng thiếu cô đơn đè nén

Trùm lên đầu con người những mắt xích

Của sự dốt nát

Sống bằng sợ hãi

Ðể phục tùng tội ác

Anh chị em ơi

Có đêm anh bạn kể chuyện

Nói về ông Ma-ki-a-ven, a - viết gì đó

Bảo: Khi người ta chặt đầu người

Cái đầu còn quay lại cám ơn mãi không thôi

Thế mới là làm chính trị

Tôi ít học quá nên không kịp suy nghĩ

Lòng bỗng đau như người cha nghe tin con gái

Phải làm đĩ để nuôi em

Ðã có bao nhiêu người như thế nhỉ?

Cám ơn ma quỷ đời đời

Có thể không bao giờ tôi mở

Nhưng căn phòng của tôi phải có cửa sổ

Có thể tôi không dùng đến

Nhưng đời tôi phải có tự do

Tự do

Tự do

Tự do

Hãy bắt đầu bằng việc

Không để ai suy nghĩ giùm mình

Anh chị em ơi

Xin nghe tôi một điều nữa thôi

Chúng ta bực mình khi thấy người khác

Lục lọi đồ đạc của mình

Có lý nào chúng ta lại làm thinh

Khi người ta lục lọi một thứ

Quý hơn cả đồ đạc

Quý hơn cả tự do

Ðó là tâm hồn con người!

Tự do

Tự do

Tự do

Tại sao tôi lại khóc

Có phải vì củ sắn nướng chiều nay

Chưa kịp chín

Mà lòng đói quá cứ bâng khuâng

Hay nỗi nhớ thương bạn bè

Ðã làm khổ tôi cả buổi chiều nay

Khi đi qua vũng lội

Thấy bóng tóc mình mây trắng bay

Phải nói cho con cháu biết

Phải nói cho con cháu hay

Tự do hay là chết

Chết hay là tự do

NGUYỄN HỮU NHẬT

Nguyễn Ðình Toàn
[Chép theo trí nhớ]