Những người hát “Chinh Phụ Hoài Khúc” của ông với tư cách ca sĩ (Thương Huyền, Mai Khanh, Kim Tiêu) hay tài tử, hát chơi cho nhau nghe hay hát một mình, hiện nếu còn sống, ít nhất cũng phải ngoài 70 rồi. Ðó là cái thời người ta gọi là “hát Tây, hát Tàu”. Hát Tây nghĩa là hát những bài hát Pháp, hát bằng tiếng Pháp (J' ai deux amours chẳng hạn), còn hát Tàu là hát những bài hát Trung Quốc, được viết lời Việt (Hà Nhật Quân Tái Lai).
Ai viết lời Việt? Có thể là Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước và, (có nhiều khả năng hơn) người viết là Lê Thương.
Vào thời ấy còn ai tung kiếm nơi sa trường nữa chăng?
Nhưng người ta vẫn hát “Chinh Phụ Hoài Khúc”, hát để sống hết cái lãng mạn của mình. Bởi đó cũng là thời cực lãng mạn của thi ca Việt Nam.
Cũng còn có thể vì người ta đã linh cảm cuộc chia lìa sắp sửa do cuộc chiến tranh gần kề (se) gây ra.
Dân tộc chúng ta có quá nhiều kinh nghiệm về sự bất trắc.
Hòn Vọng Phu không chỉ là biểu tượng của sự mong đợi vô tận, mà hình như nó còn là dấu hiệu báo cho (đời sau biết), nếu người ta có phải chờ nhau đến hóa đá cũng chỉ là quay lại thuở ban đầu.
Chúng ta hiện cũng không biết tí gì về tiểu sử Lê Xuân Ái, ông sinh ở đâu, mất năm nào, có bao nhiêu tác phẩm.
Chinh Phụ Hoài Khúc
Chàng vì non sống
Tung kiếm nơi sa trường
Chờ ngày vinh quang
Duyên em lỡ làng
Nhìn bóng gió sương
Lòng thiếp vấn vương
Tìm bóng gió sương
Gió sương tan mờ theo chàng
Em thương cho chàng
Bao phen gối tuyết nằm sương
Em thương cho chàng
Khi mưa gió nơi sa trường
Tình cách quan san
Lời phú vóc đan (?)
Chờ sóng gió tan
Phút vinh quang nguyện dâng chàng
Bao Thu đã tàn
Sao em vắng bóng tình quân
Thu rơi lá vàng em tha thiết mong tin chàng
Chàng ra đi cách xa muôn trùng
Xa trông chốn khuê
Tin chàng vắng đưa
Sầu lớp lớp vấn vít tơ lòng em
Bao lời nhớ thương
Ngày nào chàng về cùng em chung lời say đắm
Em dâng khúc ca tương phùng
Tình bướm luyến hoa
Lời gió thiết tha
Vườn yến hát ca có duyên em sầu bẽ bàng
Qua song rơi đều
Ngoài song mưa gió đến se lòng em
Thu rơi trong lòng mùa thương nhớ
vương trong lòng