3.22.2026

Tuệ Sỹ

Nguyễn Ðình Toàn

Viết về thơ là chạm tới những hình ảnh phản ánh trong nước.
Không thể có một mặt nước hoàn toàn tĩnh lặng, dù đó có là một mặt hồ chăng nữa.
Và, người ta chỉ có thể nhận được những hình ảnh rập vỡ, thậm chí lộn ngược.
Viết về thơ Tuệ Sỹ càng khó hơn.

Ông là ai?
Một tu sĩ?
Một học giả?
Một thi sĩ?
Một tử tù?

Ông là tất cả những người ấy và cùng một lúc [hình như] thơ ông xóa bỏ hết thảy những điều ấy.
Tuệ Sỹ được coi là một trong vài vị thiện sư lỗi lạc của Phật Giáo Việt Nam hiện tại, có kiến thức uyên bác về Phật học, hiểu biết sâu rộng về các triết thuyết Tây phương, thông thạo nhiều ngoại ngữ, trong đó có cả những thứ chữ ít người biết như chữ Pali, chữ Phạn, chữ Tây Tạng...
Mới ngoài 20 tuổi ông đã là giáo sư đồng thời là một trong vài người quyết định đường hướng tư tưởng, triết lý chỉ đạo của Viện Ðại Học Vạn Hạnh.

Ông viết/soạn/dịch nhiều kinh/sách.
Các cuốn Triết Học Về Tính Không, Tô Ðông Pha, Thiền Luận [sách dịch] của ông được đông đảo độc giả hoan nghênh.
Ông cũng làm rất nhiều thơ.

1.

giữa điều tôi nhìn thấy và điều tôi nói ra
giữa điều tôi nói ra và điều tôi thinh lặng
giữa điều thôi thinh lặng và điều tôi mơ mộng
giữa điều tôi mơ mộng và điều tội quên lãng
là thơ
thơ trượt qua
giữa có và không
thơ nói
điều mà tôi thinh lặng
thơ thinh lặng
điều tôi nói
thơ mơ mộng
điều tôi lãng quên
thơ không là lời nói:
thơ là hành động
hành động của lời nói
thơ nói ra và lắng nghe:
thơ hiện ra thực sự
có phải là thơ còn thực hơn nữa chăng?

2.

ý tưởng hữu hình
chữ thì vô hình:
thơ
đến rồi đi
giữa cái hiện tiền
và cái không hiện hữu
thơ đan dệt
và tháo gỡ những suy tưởng
thơ tung rải mắt nhìn lên trang giấy
tung rải chữ vào trong mắt
mắt nói
chữ nhìn
cái nhìn suy tưởng
những đôi mắt nhắm lại
chữ thì mở ra
giữa có và không
thơ nói
điều mà tôi thinh lặng
thơ thinh lặng
điều mà tôi nói
thơ mơ mộng
điều tôi lãng quên
thơ không là lời nói
thơ là hành động
hành động của lời nói
thơ nói ra và lắng nghe
thơ hiện ra thực sự
và ngay khi tôi nói là thơ hiện ra thực sự
thì thơ tan biến tức thì
có phải là thơ còn thực hơn nữa chăng

Ðó là những điều Tuệ Sỹ nói về thơ cũng là thơ ông.
Liệu nó có giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ và chính thơ Tuệ Sỹ chăng?
Bùi Giáng, một người có rất nhiều liên hệ với các chùa chiền, nhưng không phải tu sĩ, trong một bài nhan đề “Ði Vào Cõi Thơ Tuệ Sỹ”, viết, kể lại một giai thoại giữa ông và Tuệ Sỹ, rất Bùi Giáng, như sau:

Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u...

Một bữa ông đọc cho nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt.

Tôi đề nghị với ông nên nhờ Ni Cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế.

Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ

Trí Hải đa tàm trúc loạn ty*

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.

Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia không hề có bao giờ vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm.

Một bài thơ 'Không Ðề' của ông đủ làm ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cõi dạ.

Bùi Giáng đề nghị [một] cách đọc mấy câu thơ của Tuệ Sỹ như sau:

Ðôi mắt ướt tuổi vàng

Khung trời

Hội cũ

Xin xuống dòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? Cung trời hội cũ.

Một hội đạp thanh? Một hội náo nức? Giờ náo nức của một thời trẻ dại?

Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Ðấy đủ mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều ‘phải nói’ với mọi người ‘muốn nghe’ với riêng mình ‘không thiết chi chuyện nói’.

Phạm Công Thiện, người đã có một thời cùng tu học với Tuệ Sỹ, nay đã cởi bỏ áo cà sa, cho biết thêm: “Mấy chục năm qua, Tuệ Sỹ làm rất nhiều thơ, nhưng Ni Cô Tuệ Hạnh chỉ thu nhặt được mấy chục bài và cho in lại với nhan đề thi tập là 'Ngục Trung Mị Ngữ', do Quảng Hương Tùng Thư xuất bản. Ðặc biệt trong thi tập này có 18 bài Tuệ Sỹ làm thẳng bằng chữ Hán, có một bài làm xúc động tâm hồn tôi đến cực điểm, bài:

Cúng Dường

Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn

Thượng Tọa Viên Lý dịch thành một bài lục bát như sau:

Hai tay nâng chén cơm tù

Dâng lên từ phụ bậc thầy nhân thiên

Thế gian huyết hận triền miên

Bưng bình cơm độn lặng yên lệ trào

Nhà thơ Vân Nguyên giữ nguyên thể ngũ ngôn và dịch như sau :

Dâng chén cơn tù lên

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian tràn oán hận

Ôm chén lòng khóc thầm

Và, tất cả những thông tin ấy liệu có giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ và chính thơ của Tuệ Sỹ chăng?

Hay đó cũng chỉ là những trận gió làm xao động thêm cái mặt nước đã không mấy yên tĩnh kia.

Ðộc giả bình thường không có được sự cảm thông đến rợn người như Bùi Giáng, như Phạm Công Thiện đối với tho Tuệ Sỹ, người ta yêu những bài thơ nhỏ bé, dễ hiểu của Tuệ Sỹ hơn:

Buổi Sáng Tập Viết Chữ Thảo

Sương mai lịm khói trà

Gió lạnh vuốt tờ hoa

Nhè nhẹ tay nâng bút

Nghe lòng rộn âm ba

Cây Khô

Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng

Ðể cây khô mạch suối khóc thương nhau

Ta cúi xuống trên nụ cười chín mọng

Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu

Người ta cảm nhận ở ông một hồn thơ trong suốt. Như một tấm gương, cái buồn trong thơ ông, nếu có, chỉ là những hình bóng phản ánh từ bên ngoài.

Năm Tàn

Lận đận năm trầy nữa

Sinh nhai ngọn gió rừng

Hàng cà phơi nắng lụa

Ngần ngại tiếng tha phương

Trầm mặc

Anh ôm chồng sách cũ

Trầm mặc những đêm dài

Xót xa đời khách lữ

Mệnh yểu thế mà hay

Tuệ Sỹ cũng làm rất nhiều thơ tình. Ðúng vậy. Nhưng thơ tình của ông dường đã bị tấm áo khoác của ông phủ nhận.

Con Trăng Ðâu Ðó

Nỗi nhớ đó

khát khao

luồn sợi tóc

Vòng tay

Ôm cụm khói bâng khuâng

Uống chưa cạn chén trà

sương móc

Trên đài cao em ngự mấy tầng

Lên cao mãi

đường mây

khép chặt

Khoảng xoi mòn

ảo tưởng

Thiên chân

Ô, nguyệt quế

trắng mờ đôi mắt

Ô

sao Em

sao ấn mãi

cung đàn?

Giai điệu đó

thoáng hờn

u uất

Xưa yêu Em

xao động hương vàng

Vài tấm hình ông người ta tình cờ được coi, tấm ông chơi đàn lại có vẻ tu sĩ hơn bức ông mặc cà sa ngồi “tập viết chữ thảo”, đúng như chữ ông dùng, trông ông hiền từ, nhưng cũng đầy vẻ cương quyết.

Quanh ông luôn hiện hữu một sự trái ngược nho nhỏ [dễ thương] như vậy.

Trên mỏm trời Xích đạo

Cụm sao cài cúc áo

Long lanh những hạt mưa

Ðôi mắt tròn hạt táo

Lữ khách bờ sông vắng

Trời khuya con nước xanh

Cụm sao trên quãng vắng

Trên cúc áo mong manh

Cái uyên bác của Tuệ Sỹ không phải ai cũng biết rõ ra sao.

Nhưng cái tin ông bị tử hình đã làm, không phải chỉ riêng người Việt Nam, mà rất nhiều người trên khắp thế giới bàng hoàng.

Tử hình?

Hình như, một nhà văn Pháp, Simone de Beauvoir thì phải, có viết một câu đại ý thế này: “Chủ nghĩa Cộng Sản không giải thích được. Cứ sống với họ đi rồi biết”

Nguyễn Ðình Toàn

Trần Lam Giang, chỉ nghe đọc qua điện thoại, tạm dịch nghĩa như sau:
Ðêm thâu gió thổi bóng nghiệp theo thân
Trước mặt hoa rụng bay chưa xong
Tâm sự phiêu bồng lệ chua cay
Trí Hải hay thẹn làm đàn sáo rối loạn